BTT 10 – BT Bộ Nội Vụ Bùi Văn Lương

E. CUỘC HỌP VỚI BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ BÙI VĂN LƯƠNG

82. Vào ngày 24.10.1963, Phái bộ đã thăm xã giao Bộ trưởng. Phái bộ lại viếng thăm lần thứ 2 vào ngày 30.10.1963 và phỏng vấn ông về chức năng của ông năng như một thành viên của Uỷ ban Liên bộ*

*Ủy ban Liên bộ gồm Phó Tổng thống, Bộ trưởng Nội vụ, Bộ trưởng Phủ tổng thống. Uỷ ban thương thuyết với Uỷ ban Liên phái và 2 Uỷ ban đã đạt tới sự thoả thuận vào ngày 16.06.1963

Sau đây là nguyên văn biên bản của cuộc họp thứ 2, bản tiếng Anh dịch từ nguyên bản tiếng Pháp:

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Trước hết, tôi xin nói rằng chúng tôi rất vui mừng được gặp Ngài một lần nữa vì Ngài hiện là một thành viên của Ủy ban Liên bộ, và trong Uỷ ban Liên bộ này Ngài lại đóng một vai trò trong các vấn đề liên quan đến tình hình Phật giáo. Đó là lý do tại sao Phái bộ nghĩ rằng sự hợp tác và giúp đỡ của Ngài trong việc cung cấp cho Phái bộ những dữ kiện nhất định, mà Phái bộ quan tâm, sẽ có thể mang lại ích lợi trong việc thực hiện nhiệm vụ của Phái bộ.

Các câu hỏi mà chúng tôi đã định hỏi Ngài, chúng tôi một phần đã đề đạt Bộ Ngoại giao để Bộ cung cấp cho chúng tôi những câu trả lời mà Bộ nhận được từ những cơ quan thẩm quyền của Chính phủ Việt Nam. Có một số câu hỏi khác mà tôi muốn hỏi trong cuộc họp này, những câu hỏi mà chúng tôi chưa đề đạt với cho Bộ Ngoại giao, cũng với mục đích xin Bộ trả lời cho.

Trong một phát biểu của các viên chức của Chính phủ Việt Nam, có nêu rằng Chính phủ và Quân đội đã bắt được một số tài liệu trong những ngôi chùa và cơ sở Phật giáo. Những tài liệu này chắc chắn có tầm quan trọng trong việc cho chúng tôi tìm ra sự thật nào đó hoặc ít nhất có thể giúp cho chúng tôi cơ hội để xem xét một cách thích đáng nên có về tình hình để rồi, một cách khách quan, tìm được những sự thật mà Phái bộ đang kiếm cách tìm cho được. Điều này đã được nêu ra trong các cuộc đàm luận với Ô. Nhu, người mà tôi đã hỏi liệu Chính phủ Việt Nam có sẵn sàng trao những tài liệu như thế cho Phái bộ hay không. Ông ta nói với tôi rằng cá nhân ông, ông không thấy gì trở ngại, và rằng chính Ngài và một số cơ quan khác của Chính phủ sẽ sẵn sàng hợp tác trong chuyện này.

Tôi muốn biết liệu Ngài có thấy thuận tiện để trao những tài liệu này cho Phái bộ xử dụng trước khi Phái bộ rời Sài Gòn vì chúng tôi trước đây có yêu cầu các cơ quan của Chính phủ liên lạc với Phái bộ để trao các tài liệu này, nhưng chúng tôi tới nay vẫn chưa nhận được.

Ô. BỘ TRƯỞNG: Ngài có muốn tôi trả lời câu hỏi đầu tiên này bây giờ không?

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Chúng tôi rất sẽ vui nếu được Ngài trả lời, vào bất cứ lúc nào Ngài thấy thuận tiện. Chúng tôi xin Ngài tùy nghi cho chúng tôi những thông tin mà Ngài có được.

Ô. BỘ TRƯỞNG: Tôi muốn trả lời câu hỏi đầu tiên.

Đầu tiên, tôi sẵn sàng cho Phái bộ hỏi. Đáng lẽ tôi phải tham dự một cuộc họp quan trọng với Phó Tổng thống lúc 10 giờ sáng, nhưng tôi đã gọi cho Phó Tổng thống (để hoãn lại cuộc họp) bởi vì cuộc thăm viếng của Phái bộ thì quan trọng hơn và tôi sẽ ở lại đây để trả lời câu hỏi của Phái bộ, lâu bao nhiêu cũng được.

Thứ 2, về các tài liệu mà ông Nhu đã nêu lên với Phái bộ, ông ấy cũng đã nói chuyện với tôi, và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ông Cừu, cũng yêu cầu cung cấp những tài liệu. Những tài liệu này đang được sao chụp hoặc đánh máy lại, để trước khi Phái bộ rời Sài Gòn, tôi sẽ rất vui lòng trao cho Phái bộ tất cả các tài liệu bị bắt được ở chùa đó.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Tôi cảm ơn Ngài rất nhiều về sự quan tâm của Chính phủ, và một cách đặc biệt cảm ơn sự quan tâm của Ngài đối với lời yêu cầu này. Tuy nhiên, tôi xin phép được nói thêm rằng Phái bộ chưa khẳng định chắc chắn ngày rời khỏi đây và thời điểm ra đi vẫn còn phụ thuộc vào việc Phái bộ hoàn thành công tác được giao hay chưa. Nếu Phái bộ thành công, với sự hợp tác mà chúng tôi nhận được từ Chính phủ trong việc cho chúng tôi các địa chỉ liên lạc cần thiết cho việc nghe các nhân chứng và thăm các tổ chức, khi đó Phái bộ có thể, sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình, sẽ ra đi ngay lập tức, có thể trước Thứ 2. Như thế tôi mong Ngài ghi nhớ điều này để Phái bộ của chúng tôi, sau khi đã hoàn thành các mặt khác nhờ sự hợp tác chúng tôi nhận được từ Chính phủ trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi, Phái bộ sẽ không phải nán lại để chờ một số tài liệu mà Phái bộ đã yêu cầu và Chính phủ trước đó đã đồng ý để trao cho Phái bộ.

Ô. BỘ TRƯỞNG: Tôi hoàn toàn đồng ý với Trưởng Phái bộ; tất cả là vì lợi ích chung của chúng ta.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Cảm ơn Ngài rất nhiều. Thưa, điểm đầu tiên Phái bộ muốn biết là tại sao Dụ số 10 ban hành tháng 8.1950, mà tới nay vẫn không được sửa đổi dù đã có các cuộc bầu cử mới, và tại sao một Chính quyền dân chủ đã được hình thành trong 8 năm qua, và Chính quyền hầu như chiếm đa số ghế trong Quốc hội lại không cảm thấy cần thiết phải sửa đổi Dụ này?

Ô. BỘ TRƯỞNG: Đó là một câu hỏi kép, có phải vậy không, thưa Ngài?

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Nếu Ngài thấy đó là một câu hỏi kép thì tùy Ngài, nhưng trong dù gì đi nữa chúng liên hệ chặt chẽ với nhau.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Như ông Trưởng Phái bộ đã nói Dụ số 10 được ban hành vào năm 1950; nó đã được thông qua dưới triều hoàng đế Bảo Đại. Kể từ khi Chính phủ hiện tại của VNCH được thành lập vào năm 1954, chúng tôi đã có rất nhiều việc phải làm vì Đất Nước chúng tôi đang kém phát triển và chỉ mới đạt được độc lập gần đây. Đáng lo ngại nhất là, kể từ năm 1959, chúng tôi đã phải chịu đựng một cuộc chiến tranh phá hoại xuất phát từ bên trong lãnh thổ Quốc gia của chúng tôi.

Bây giờ nói đến lý do tại sao, mặc dù chúng tôi đã có các cuộc bầu cử mới và đã có một Chính phủ mới được 8 năm nay, chúng tôi đã không thấy cần thiết phải sửa đổi Dụ này, nhưng trước hết, tôi muốn cung cấp cho Phái bộ một ít thông tin lịch sử về vấn đề này và về chế độ này kể từ năm 1954.

Từ năm 1954, tôi được đặt vào một vị thế thuận lợi để mà biết rõ câu hỏi Ngài đặt ra, bởi vì tôi đã từng là Đổng lý Văn phòng trong Chính phủ kể từ thời điểm Việt Nam thoát khỏi thuộc địa; tôi đã luôn luôn hoặc là Đổng lý Văn phòng, hoặc Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Kinh tế Quốc gia, Bộ trưởng bộ Tài chính và bộ Tổng thống; và trước đây, tôi đã được giao phó công tác chăm lo cho các đồng bào tị nạn di cư từ Miền Bắc Việt Nam; như thế có nghĩa là tôi có thể theo dõi, từng bước, sự phát triển của Chính phủ hiện nay.

Về điểm đầu tiên, năm 1954, chúng tôi phải chiến đấu chống các tông phái đồng thời phải tái định cư người di cư tị nạn từ miền Bắc. Như Quý Ngài đã biết, cuộc chiến của các tông phái là một cuộc chiến tranh vũ trang, liên quan đến tông phái: Bình Xuyên (Bin Xuân), Hòa Hảo, Cao Đài. Trong năm 1956, chúng tôi đã tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên bầu Quốc hội lâm thời. Từ 1956-1959, chúng tôi đã có một số thời gian tương đối yên ổn và quãng thời gian này đáng lẽ có thời giờ cho cho việc tu chính hay không tu chính Dụ số 10, nhưng cũng tôi xin phép nêu lên rằng, theo Hiến pháp của chúng tôi, việc tu chính hay không thì phải có sự yêu cầu của đa số đại biểu Quốc hội. Trong Quốc hội khóa đầu tiên, có rất nhiều dân biểu theo Phật giáo; trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1959 cũng có rất nhiều dân biểu biểu Phật giáo. (Thế mà) vẫn không có yêu cầu nào đòi tu chính Dụ số 10. Cho nên, chiếu theo các thủ tục pháp lý được quy định theo Hiến pháp, không có yêu cầu từ Quốc hội và không có sự tu chính nào (về Dụ số 10) đã được (đưa ra) bàn bạc.

Ô. CORREA DA COSTA: Tôi muốn hỏi cho rõ thêm: Liệu cần phải có một số dân biểu quốc hội nào đó hay phải cần có đa số dân biểu quốc hội yêu cầu tu chính thì quốc hội mới bắt đầu thảo luận chuyện tu chính?

Ô. BỘ TRƯỞNG: Đã có luật qui rằng rằng phải có một số một đại biểu nào đó muốn tu chính, và trong trường hợp đó đề nghị tu chính luôn luôn phải được đem ra thảo luận.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Riêng tôi muốn hỏi là tại sao các Chính phủ không tự đưa ra sáng kiến của mình để sửa đổi Dụ số 10?

Ô. BỘ TRƯỞNG: Đây là chính câu hỏi mà bây giờ tôi mong muốn trả lởi. Trong những năm 1956-1959 và mãi cho tới Tháng Năm 1963 trước biến cố Phật giáo, Chính phủ không có trong tay dự thảo luật nào của Quốc hội trình lên. Tôi đã phải giải quyết cho xong nguồn gốc đầu tiên để nguồn gốc đó có thể làm việc tu chính, nguồn gốc đó là Quốc hội. Chúng tôi từ 1956 đến 1963 đã 2 lần tổ chức bầu cử Quốc hội Lập pháp, và cho đến khi cuộc khủng hoảng Phật giáo nổ ra Chính phủ không thấy ai đòi hỏi chuyện tu chính và trong tay Chính phủ cũng không có một dự thảo tu chính Dụ số 10 nào trình lên. Nguồn tu chính khác có thể tu chính lại chính là Chính phủ. Nhưng chuyện cần hay không cần tu chính Dụ số 10 lại phải cân nhắc 2 điều: Trước hết chúng tôi phải xem có cần thiết hay không chuyện tu chính đó, và thứ hai, dân chúng có đòi hỏi làm điều đó không. Về điểm thứ nhất, cho đến khi cuộc khủng hoảng Phật giáo vào Tháng Năm 1963 chúng tôi không thấy có bất kỳ sự cần thiết lớn lao nào khiến Chính phủ phải tu chính nó, bởi vì, mặc dù điều khoản của Dụ cũng rất khắt khe và điều này sẽ dẫn đến chuyện kiểm soát rất gắt gao các hiệp hội, Chính phủ không bao giờ áp dụng Dụ số 10 một cách gắt gao cả.

Chúng tôi luôn luôn rất phóng khoáng về vấn đề tôn giáo và đặc biệt đối với Phật giáo. Một số quy định của Dụ chẳng hạn như nhiệm vụ ghi tên và trình lên Bộ Nội vụ các người cư trú trong chùa, tên các Ban, Hội Phật giáo, chuyện này gần như hoàn toàn không bó buộc nữa, đặc biệt là ở các tỉnh. Cho đến năm 1960, khi tôi trở thành Bộ trưởng Bộ nội vụ, chuyện không ghi tên tuổi như thế đã trở thành thông lệ. Thông lệ này cứ tiếp tục như thế và tôi chẳng kiểm soát mà làm gì, nhưng vào năm 1963 (nhân vụ Phật giáo nêu ra Dụ số 10), tôi đã mở hồ sơ và tôi thấy rằng có một số ngôi chùa và một số tín đồ, và tôi thấy rằng họ đã chẳng hề áp dụng Dụ số 10. Những sổ bộ của chùa chẳng cập nhật hóa (như Dụ số 10 quy định) và đó là bằng chứng cho thấy chúng tôi đã áp dụng Dụ số 10 một cách rất thoải mái và linh động. Nhiều chùa và các Hiệp hội Phật giáo đã được thành lập mà chẳng có sự ghi tên vào sổ bộ nào; chuyện không cần ghi tên vào sổ bộ này đã được chấp nhận trong thực tế ở các tỉnh đã đành, mà cả tại các thị xã hoặc tại Bộ Nội vụ cũng không có hồ sơ loại này. Từ năm 1954 đến Tháng Năm 1963, Chính phủ không hề nhận được yêu cầu nào từ dân, không lá thư nào, đòi sửa đổi Dụ số 10.

Tôi muốn làm sáng tỏ 2 điều. Đó là chỉ mãi tới Tháng Năm 1963, tức là năm nay, trong cuộc khủng hoảng Phật giáo, lúc đó tôi mới lưu tâm chuyện mở hồ sơ để xem chuyện số lượng chùa chiền ra sao. Chỉ tới lúc đó tôi mới khám phá ra rằng những hồ sơ của chúng tôi đã trở thành lỗi thời và rằng ngay ở các tỉnh chùa và các hiệp hội chẳng hề ghi tên vào sổ bộ của Chính phủ. Chúng tôi, trái lại, chỉ nhận được những khiếu nại từ các hiệp hội Phật giáo về những vấn đề khác vào những năm 1960, 1961 và 1962; ví dụ, chúng tôi nhận được từ các tỉnh Miền Trung Việt Nam những yêu cầu liên quan tới cái gọi là những tranh chấp giữa người Công giáo và các Phật tử và từ những người tân tòng, ý muốn nói tới những người mới nhập đạo Công giáo, tại cấp độ làng thôn ở một số tỉnh Miền Trung Việt Nam.

Trong những yêu cầu này không có yêu cầu nào, mà chúng tôi đã điều tra tại chỗ, đã nêu sự cần thiết phải sửa đổi Dụ số 10. Như thế, tất cả chẳng qua chỉ là truyện thù địch giữa Phật giáo và Công giáo. Cả 2 đều muốn có thêm nhiều tín đồ tín hữu; đây là một vấn đề hoàn toàn khác hẳn. Các tài liệu bí mật bị tịch thu trong chùa, mà chúng tôi sẽ cố gắng trao cho các Ngài sử dụng càng sớm càng tốt, các tài liệu này sẽ cho thấy những bằng cớ đầy đủ rằng Chính phủ đã giúp đỡ chùa chiền rất nhiều và, quan trọng hơn hết, trong những tài liệu này không hề nói đến sự cần thiết phải sửa đổi Dụ số 10.

Để kết luận, tôi muốn nói rằng kể từ khi có Thông cáo chung ngày 16.6.1963 ký kết giữa chúng tôi với các đoàn đại biểu Phật giáo, chúng tôi đã thôi thúc Quốc hội và Quốc hội đã thành lập một Ủy ban để nghiên cứu các phương thức cho việc sửa đổi Dụ số 10. Và đồng thời mọi sự thực thi Dụ số 10 đều bị ngưng chỉ.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Cảm ơn Ngài. Tôi muốn hỏi Ngài một câu hỏi gồm các điểm khác nhau, nhưng chúng đều liên quan chặt chẽ với nhau:

(a) Ngài có thể giải thích cho chúng tôi chuyện này: Có phải trước ngày 6.5 không có những vụ xô xát, ít nhất theo những gì chúng tôi biết được, giống như những vụ xô xát mà tất cả chúng ta đã nghe nói sau ngày 6.5?

(b) Có những quyền lợi và những tự do được đề cập đến trong đoạn 2 của tài liệu “L’Affaire bouddhiste au Việt Nam (Vụ Phật giáo ở Việt Nam)”, được xem là bình thường trong trường hợp những quyền lợi và những tự do không kích động bạo lực. Làm thế nào mà Chính phủ lại coi những quyền lợi, những tự do này như những mưu đồ?

(c) Trước đây có lúc nào Chính phủ sử dụng hoặc mang xe tăng và xe bọc thép khác ra để dương oai diệu võ hầu đàn áp Phong trào (Phật giáo)?

Nói chung, và rốt cuộc, chúng tôi muốn biết càng tường tận càng tốt, tùy theo mức độ thiện ý của Ngài cho chúng tôi biết, về sự kiện là Chính phủ có bằng chứng xác thực rằng những phong trào này có kích động bạo lực.

Ô. Bộ trưởng yêu cầu nói rõ điểm sau và ông Trưởng Phái bộ trả lời:

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Tôi có ý muốn nói đến các Phật tử chung chung, đặc biệt là những điều đã dẫn đến những vụ xô xát, bao gồm cả vụ xô xát tại Huế.

Ô. BỘ TRƯỞNG: Tôi sẽ trả lời câu hỏi đầu tiên, nhưng tôi phải lặp lại chúng để tôi chắc chắn rằng tôi đã hiểu chúng một cách chính xác. Nếu tôi không nghe lầm, thì Ngài Trưởng Phái bộ mong muốn tôi giải thích về sự kiện là trước ngày 6.5 đã không xảy ra những vụ xô xát mang hình thức của những sự xô xát nổ ra sau ngày 6.5. Như Ngài đã nêu, 3 điểm kể trên có liên hệ chặt chẽ với nhau vì vậy tôi xin đưa ra một lời phát biểu đề cập đến nhiều điểm.*

* Bộ trưởng nói rằng ngày 6.5 là ngày Chính phủ ra thông tư về việc sử dụng cờ và rằng sự xô xát mà Trưởng Phái bộ nói tới đó là vụ xô xát xảy ra ngày 8.5.

Sau những vụ xô xát ở Huế, tôi đã cố gắng để tìm hiểu tại sao bạo lực đột nhiên bùng nổ và tại sao, khi tôi có mặt tại Huế hôm trước đó, tôi chẳng thấy gì đáng nghi ngờ. Chính tôi đã gặp tất cả các tăng sĩ mà Phái bộ phỏng vấn ngày hôm qua, kể cả Thích Trí Quang, người bây giờ đang ở trong Tòa đại sứ Hoa Kỳ. Tôi đã nói chuyện với họ. Tôi giải thích thông tư và thảo luận với họ và họ đã đoan chắc với tôi rằng lời giải thích của tôi đánh đúng vào sự việc, và họ thỏa mãn và hoàn toàn hài lòng, và trong tình huống như thế, tôi có thể an tâm quay trở lại Sài Gòn. Tôi đã rất vui mừng và tôi lên đường về Sài Gòn mà không một chút lo lắng là những vụ xô xát lại bùng nổ ra vào ngày tiếp theo.

Bây giờ tôi muốn làm sáng tỏ một số điểm. Thông tư 6.5 đến Huế vào ngày 7.5. Bản thân tôi đã đến Huế vào ngày 7.5 lúc 10g sáng và nửa giờ sau đó, các nhà lãnh đạo của các nhà sư yêu cầu được gặp tôi để nghe tôi giải thích nội dung và lý do tại sao lại có một thông tư như thế. Tôi đã giải thích cho họ và tôi cũng đã chỉ thị các nhà chức trách hành chánh địa phương tạm thời không áp dụng thông tư kể trên. Lý do là khi tôi đến Huế, từ phi trường đến thành phố tôi thấy tất cả các lá cờ đã được treo theo cách sắp đặt trước khi có thông tư, và không thể nào hạ tất cả mọi cờ xuống nội trong một ngày. Các nhà lãnh đạo tăng sĩ rất hài lòng. Họ lắng nghe tôi và nói với tôi rằng tôi đã làm cho họ thỏa mãn hoàn toàn. Tôi chẳng làm được gì đúng theo quy định mà tôi với tư cách là Bộ trưởng Bộ nội vụ đã ban hành được nữa, bởi vì cờ Phật giáo và cờ Quốc gia đã treo sẵn ngày trước Lễ Phật đản.

Khi tôi trở lại Sài Gòn, ngày 8.5, tôi nghe nói về những xô xát đẫm máu ở Huế. Tôi đã ngạc nhiên và tôi đã trở lại Huế.

Tôi tự hỏi tại sao các nhà lãnh đạo tăng sĩ đã cam đoan với tôi là họ hài lòng và bây giờ lại nổ ra các xụ xô xát như thế. Vào thời điểm đó, tôi không thể hiểu được, nhưng sau đó, sau khi chúng tôi đã bắt giữ 2 hoặc 3 người. Tôi có trong tay một lời phát biểu viết tay này từ một cộng tác viên thân thiết của Thích Trí Quang (nhà sư đang ẩn náu tại Tòa đại sứ Hoa Kỳ), đó là ông Đặng Ngọc Lưu. Tôi đọc và tôi mới hiểu.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Người đàn ông đó (ông Lưu) bây giờ đang ở đâu?

BỘ TRƯỞNG: Ông ta đang ở chỗ chúng tôi. Chúng tôi bắt giữ ông ta, và trong bản khai của ông ta, ông ta nói rằng âm mưu này (và đây là lý do tại sao từ ngữ “âm mưu” được sử dụng trong tài liệu), là một âm mưu của Cộng sản, âm mưu này có từ năm 1960, là năm đã có sự thỏa thuận giữa họ với Cộng sản là những vụ xô xát phải xảy ra dưới hình thức nào.

Tôi chỉ có thể kết luận rằng thông tư của 6.5 chỉ được sử dụng như là một lý do khả dĩ để họ gây ra biến cố vì âm mưu đã được quyết định sẵn vào đầu năm 1960. Điều này trả lời cho điểm (a) và (b). Bây giờ tôi nói sang điểm (c). Tôi điều tra tại chỗ ngay ngày sau khi vụ xô xát ở Huế bùng ra. Tôi đến với một thành phố vẫn còn rất kích động; các cuộc biểu tình của các nhóm và các cá nhân trong các đường phố vẫn còn xảy ra. Tôi đã gặp lại các lãnh đạo tăng sĩ, đặc biệt là Thích Trí Quang, người hiện đang ở Tòa đại sứ Hoa Kỳ. Vào thời điểm đó tôi không biết ông là người lãnh đạo, bởi vì tính theo đẳng cấp, ông ta là cấp dưới so Lão Tăng thống Hòa thượng Thích Tịnh Khiết mà tôi đã gặp ở Chùa Ấn Quang. Vào lúc đó tôi không còn nghi ngờ gì về vai trò mà Thích Trí Quang nắm giữ trong những vụ xô xát này. Trong quá trình điều tra của tôi vào ngày 9.5, tôi biết, dựa theo những lời khai của tất cả mọi người, rằng chính Thích Trí Quang đã thay đổi tất cả mọi sự trong chương trình ngày Lễ Phật đản, chương trình này trước đó vốn đã được trình lên và đã được chính quyền địa sở tại thỏa thuận, và sư Thích Trí Quang đã đơn phương thay đổi nó mà không tham khảo ý kiến với các thẩm quyền hành chính sở tại. Tôi đã tính là tốt hơn nên nói chuyện với ông ta và hỏi tại sao sự việc lại trở nên nông nỗi như thế, và tôi đã làm như tôi đã tính.

Khi tôi gặp ông ta, tôi đã trách ông ta. Chỉ 2 ngày trước khi tôi gặp ông ta, tôi đã biểu lộ sự kính trọng đối với ông và ông đã đoan chắc với tôi rằng các lời giải thích mà tôi đã đưa ra với ông, các chỉ thị bắt ngưng sự thực hiện thông tư ngày 6.5 vào thời gian hiện hành là thỏa đáng, nhưng chỉ một ngày sau đó, ông ta đã tạo ra những vụ xô xát vừa nêu trên. Tôi muốn nói chuyện tay đôi với cá nhân ông. Trong tư cách là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, tôi không muốn thấy các cuộc biểu tình trong các đường phố ở Huế, những cuộc biểu tình vốn đã bị ông ta xúi giục. Tôi xin phép nói thêm rằng tôi đã thấy ông ta trong số những người biểu tình và tôi đã mời ông ta đến văn phòng của tôi, và tôi đã nói với ông ấy rằng tôi không muốn có bất kỳ chuyện rắc rối nào xảy ra nữa. Tôi cho người đưa cho ông ta một chiếc xe Jeep và một máy phóng thanh để cùng với ông Tỉnh trưởng ra các đường phố để làm dịu những người biểu tình. Ông cho biết ông sẽ làm như tôi yêu cầu, và thực sự, ông đã làm. Nhưng đó chỉ là một mưu kế để xoa dịu tôi mà thôi. Ông bảo đảm với tôi rằng sẽ không có chuyện gì nữa xảy ra và tôi trở lại Sài Gòn. Nhưng ngay lập tức những vụ xô xát khác lại bùng nổ.

Và bây giờ tôi đề cập đến câu hỏi về xe bọc thép và xe tăng, điểm (c). Trong đêm 8.5 (Lễ Phật đản), đã có một chương trình vốn đã được thoả thuận trước nhằm tổ chức một buổi lễ công cộng phía trước của ngôi chùa trung tâm. Như Ngài đã biết tất cả các lễ tôn giáo đều có những buổi hành lễ nào đó xung quanh chùa chiền. Đêm đó, vào lúc 8 giờ tối, sẽ có một vị sư nổi tiếng thuyết pháp trước của ngôi chùa trung tâm và sau đó sẽ diễn ra những lễ lạc hàng năm vẫn được tổ chức. Nhưng rồi Thích Trí Quang, loại bỏ buổi thuyết pháp dự định này vào giờ chót và ủy thác các thầy chùa cấp dưới ở một số nơi nói với thiện nam tín nữ: “Đừng có viếng chùa lễ Phật ở đây. Hãy đi tới Đài phát thanh, ở đó sẽ lễ lạc sẽ vui hơn, thích hơn.” vì vậy, tất cả mọi người giải tán và đi đến Đài phát thanh.

Đài phát thanh nằm ở một vị trí rất tốt, tôi không biết liệu Quý Ngài có biết nhiều về Huế hay không vì nơi đó có một chiếc cầu bắc qua sông Hương, có một ngã tư và ở trung tâm khu đó có một ngôi chùa. Đó là một nơi rất thuận tiện cho chuyện biểu tình công cộng; có những đại lộ rộng dẫn tới chùa đó và từ cầu luôn luôn có người lớp lớp đổ về. Rất khó mà phân tán họ. Thích Trí Quang chờ đám đông tề tựu đầy đủ rồi mới yêu cầu Ô. Giám đốc đài phát thanh ngay lập tức thay đổi ngay chương trình sắp phát thanh. Ô. Giám đốc đài phát thanh nói rằng chương trình đã được soạn thảo cùng với sự thỏa thuận của các vị sư liên hệ; ông ta đã có những cuộn băng đã được thâu âm sẵn sàng phát thanh vào dịp này với những bài ca Phật giáo và những mục khác đã định trước, và bây giờ vị sư này (Thích Trí Quang), lại nói với Ô. Giám đốc đài là ông ta muốn thay chương trình đã định sẵn bằng những băng thu âm của của ông ta (Thích Trí Quang) đã được thu trong buổi lễ diễn ra lúc sáng trước đó.

Tôi phải giải thích thêm rằng sáng 8.5 đã có một cuộc rất lễ lớn và Thích Trí Quang cũng đã thay đổi nội dung buổi lễ đó. Để minh họa cho ý đồ lừa gạt của các nhà lãnh đạo Phật giáo trong cuộc, bao gồm Thích Trí Quang, Thích Trí Quang đã mời nhân viên hành chính của Huế đến dự lễ; nhưng trong nơi cử hành lễ, lại trưng những biểu ngữ mang các khẩu hiệu chống Chính phủ, và Thích Trí Quang, ngoài chương trình định sẵn, đã giật lấy micro và hô to từng khẩu hiệu một trong khi cho máy thu âm lại. Sau đó, ông ta đọc một bài diễn văn đầy cuồng nộ chống lại Chính phủ và thu âm lại những tràng vỗ tay của đám đông. Khi tôi tới Huế, tôi nghe nói lại, và tôi hỏi những viên chức hành chính lý do tại sao họ cứ đứng đó suốt thời gian những chuyện này xảy ra, tại sao họ không bỏ về. Họ nói rằng họ không muốn đối kháng các tăng sĩ vì vậy họ đành đứng chịu trận trên lễ đài. Gặp tôi, tôi chắc chắn sẽ bỏ về để phản đối. Thích Trí Quang trước đó đã thay đổi chương trình lễ vốn được cử hành theo truyền thống mỗi năm, nhưng ông Thiếu tá Tỉnh Trưởng cho biết ông không muốn đối kháng các nhà lãnh đạo tăng sĩ, và đó là lý do tại sao ông ta ấy vẫn ở đó, mặc dầu ông ta phải nghe những lời chửi rủa ông qua những khẩu hiệu và bài thuyết pháp. Toàn thể buổi lễ đã được thâu âm, và lúc 9 giờ tối các lãnh đạo tăng sĩ muốn ép Ô. Giám đốc đài phát thanh phát thanh cuộn băng này, vốn là điều không được định trước trong chương trình. Ô. Giám đốc của đài phát thanh nói ông không thể thay đổi chương trình đã thu âm sẵn của đài vào phút chót như thế, Thích Trí Quang bèn kích động các tín đồ Phật giáo, lúc này đã tụ tập rất đông đảo, hò hét thật lớn và đẩy cửa đài phát thanh. Ô. Giám đốc sợ quá và đã khoá cửa giam mình vào bên trong; rồi ông ta gọi điện thoại cho Ông Tỉnh trưởng và các chức trách quân sự, và khi đó ông Tỉnh trưởng mới được báo động. Ông Tỉnh trưởng này là một Phật tử thuần thành và là con tinh thần của Đức tăng thống Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, người mà Quý Ngài đã gặp ở chùa Ấn Quang. Ông Tỉnh trưởng đến hiện trường và thấy những gì đang xảy ra, và ông ta nói những lời hòa hoãn với Thích Trí Quang, nhưng lãnh tụ Thích Trí Quang không muốn nghe. Ông Tỉnh trưởng đã phải kêu những chiếc xe tăng nhỏ tới, không phải là tăng thực sự, nhưng là loại nửa như xe vận tải xe thường có bọc thép đến để giải cứu bởi vì ông ta hi vọng rằng chỉ cần có xe thiết giáp tới sẽ làm cho đám đông kinh sợ và sẽ ngăn được bọn họ khỏi đập phá cửa lớn và cửa sổ của đài phát thanh. Ông Tỉnh trưởng đang cố gắng gỉai thích cho Thích Trí Quang rằng phải đóng cửa chính và cửa sổ, phải đóng như thế là vì Ô. Giám đốc đài phát thanh sợ máy móc bị đập phá. Thích Trí Quang bèn ra lệnh cho ông Tỉnh trưởng phải phát thanh chương trình của Thích Trí Quang về buổi lễ sáng nay. Và ông hô hào một số tín đồ, những kẻ đang bị kích động cao độ, trèo vào hành lang, đập phá cửa sổ, nạy cửa chính và vào trong đài phát thanh để ép Ô. Giám đốc đài phát thanh phải phát thanh chương trình của nhà sư này. Ngay lúc đó ông phó Tỉnh trưởng bảo Trợ lý trưởng ty cảnh sát phát ra lời cảnh cáo những tín đồ đang đập phá cửa sổ, yêu cầu họ leo xuống và giải tán. Cảnh sát cảnh cáo nhiều lần. Và ngay khi đó có 2 tiếng nổ. Tôi đã có mặt ở đó. Tôi trèo vào hiên và tôi đã thấy 2 vũng máu ở trên hành lang, 2 cánh cửa sổ bị vỡ tung, và trần của hành lang bị rơi xuống.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Đích thân Ngài có mặt ở đó?

Ô. BỘ TRƯỞNG: Không. Tôi đến đó ngày hôm sau. Các vụ nổ xảy ra lúc 8.30 sáng ngày 8.5 và tôi đến Huế lúc 9g30 sáng ngày 9.5 để điều tra; chính lúc đó tôi mới thấy tất cả như thế.

Tôi đến xem thi thể của những người chết. Tôi thấy hầu hết đỉnh đầu họ bị thổi bay, và thấy rằng một vài thi thể có nhiều lỗ trong ngực, nhưng không có vết thương từ dưới ngực trở xuống. Không có mảnh kim loại trong các thi thể, chỉ có những lỗ*. Tôi yêu cầu người BS pháp y giảo nghiệm xác chết và gửi cho tôi những kết quả. Ông BS đã xem xét rất kỹ lưỡng, chụp hình và cắt mổ những bộ phận ra để khảo cứu và gởi những gì ông tìm được cho tôi ở Sài Gòn.

* Nguyên văn tiếng Anh: I went to see the bodies of the dead. I found most of them had the top of their heads blown off, that some of them had many holes made by metal splinters in their chest, but no wounds below the chest. There was no metal in the bodies, only holes.

Dịch: Tôi đến xem thi thể của những người chết. Tôi thấy hầu hết đỉnh đầu họ bị thổi bay, và thấy rằng một vài thi thể (1) có nhiều lỗ do những miểng vụn kim loại chui vào trong ngực họ, nhưng không có vết thương từ dưới ngực trở xuống. (2) Không có mảnh kim loại trong các thi thể, chỉ có những lỗ*.

Bình: (1) và (2) mâu thuẫn nhau, và (1) còn mâu thuẫn với câu phía dưới đây. Người dịch cho là do dịch sai (Bộ trưởng Lương nói tiếng Pháp) hoặc đánh máy sai vì cứ đọc những câu trả lời của Bột trưởng, ta sẽ thấy ông trả lờ rất mạch lạc, lý chứng vững vàng, không thể có sự nói lộn, nên tôi cứ tạm dịch như trên. (ND)

Sau đó có tin đồn là lính đã lái xe tăng vào đám đông và nghiền nát người, nhưng thực tế là không có chuyện sử dụng xe tăng, nhưng chỉ sử dụng những xe bán vận tải nhẹ và xe bọc thép nhẹ, và rằng người chết đã không bị nghiền nát, nhưng đầu của họ bị thổi bay, và chỉ có thương tích từ ngực trở lên. Tôi hiện đang có trong tay những kết quả giảo nghiệm của BS pháp y và ông BS này nói rằng họ đã bị giết bởi sự nổ và luồng nổ rất mạnh, và rằng 8 người đã bị giết chết ngay lập tức. Tôi muốn nói thêm rằng riêng tất cả các thi thể được tìm thấy trên hiên đài phát thanh, không có thi thể nào trong số các thi thể nằm trong sân, và không có những miếng vụn kim loại găm trên các thi thể và cũng không có mảnh kim loại nào đã được tìm thấy trong hiên xi măng. Khi tôi đến Sài Gòn, tôi đã tham dự một cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo Phật giáo và Tổng thống, trong đó có ông Truyền, người có trong danh sách của chúng tôi, nhưng tôi không biết liệu Quý Ngài đã gặp ông ấy chưa.

Vì tôi đã có mặt tại đó, nên Ông Truyền hỏi tôi rằng theo sự điều tra của tôi, vụ nổ và những người bị chết là do đâu. Tôi đã nói với ông rằng tôi, sau khi tham khảo các chuyên viên ngành pháo binh và các người chuyên ngành ở Huế lẫn Sài Gòn, tôi đã kết luận gần như chắc chắn* rằng đó là bom làm bằng chất nổ nhựa dẻo và tôi đã nói với ông Truyền rằng chúng tôi đã có nhiều loại đạn mà Hoa Kỳ đã cho không chúng tôi rất nhiều, nhưng chúng tôi không có bom làm bằng chất nổ nhựa dẻo; chất nổ nhựa dẻo là vũ khí của du kích Việt Cộng.

*gần như chắc chắn: probably: insofar as seems reasonably true, factual, or to be expected: without much doubt (https://www.merriam-webster.com/dictionary/probably)

*bombs of plastic

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Tôi rất biết ơn Ngài về tất cả các thông tin mà Ngài đã cho chúng tôi. Có thể có một hoặc 2 điều cần làm sáng tỏ mà đồng nghiệp của tôi còn thắc mắc; những điều cần làm sáng tỏ này chỉ lên quan đến các câu hỏi và câu trả đã được đưa ra trong cuộc họp này. Nhưng trước khi làm điều đó, tôi muốn Ngài lưu ý một vài điểm mà tôi muốn trình lên Ngài. Hầu hết là những điểm mà Ngài có thể cung cấp cho chúng tôi thông tin về chúng sau này khi thuận tiện.

(1) Điều đầu tiên tôi muốn Ngài cho biết là liệu Ngài có vui lòng cung cấp cho chúng tôi bất cứ thông tin nào mà Ngài có sẵn đối với chuyện tự thiêu diễn ra trong thời gian Phái bộ ở Sài Gòn, ý tôi muốn nói là, hoặc là đã chấm dứt hoặc, hoặc nếu cuộc điều tra chưa được hoàn thành, các thông tin này liệu có sẵn đến mức nào trước khi Phái bộ ra đi, bao gồm thông tin như là: hoặc có di bút gì mà vị sư tự thiêu ngày 27.10 vừa qua để lại trong khi Phái bộ đang ở Sài Gòn và những di bút mà những người tự thiêu trước thời điểm trên để lại, cũng như kết quả điều tra của Chính phủ về tất cả mọi vụ tự thiêu. Ngài cũng có thể cho chúng tôi những thông tin như thế khi nào Ngài thấy thuận tiện cho Ngài, và trong chiều hướng đó, chúng tôi muốn biết liệu Chính phủ hiện nay có quan ngại những hành động tự thiêu khác đại loại như thế sẽ xảy ra hay không?

(2) Uỷ ban Liên phái cho rằng Ủy ban đại diện cho 14 trong số 16 tông phái. Chúng tôi muốn có một danh sách của các tông phái khác, ngoài tông phái Cổ Sơn Môn vốn không khắng khít lắm với Ủy ban này.

(3) Chúng tôi muốn có một danh sách các nguyện vọng của Phật tử mà Chính phủ đã ghi nhận và một danh sách các nhóm Phật giáo đã ký Thông cáo chung 16.6.1963 với Chính phủ, bao gồm những thông tin như là tông phái nào, nhóm nào có chữ ký của người đứng ra đại diện, những nhóm đó có bao nhiêu tín đồ, cơ cấu và tầm ảnh hưởng của những nhóm đó, xét theo quan điểm của Chính phủ.

(4) Một điểm khác tôi muốn hỏi đó là lai lịch của Thích Trí Quang và, theo quan điểm của Chính phủ Việt Nam, Thầy ấy bị lâm vào hoàn cảnh nào mà đã khiến Thầy phải xin tị nạn trong Toà đại sứ Mỹ, cả những thông tin về chuyện làm sao Thầy có thể vào Toà đại sứ được.

(5) Điểm cuối cùng là chúng tôi muốn có những thông tin chính xác như là: con số chính xác các sinh viên học sinh và sư sãi đang còn trong các trại, các nhà tù và trong các bệnh viện.

(6) Ngoài ra Phái bộ muốn có được một bản sao của Dụ số 10.

(7) Yêu cầu cuối cùng là về lai lịch của ông Đặng Ngọc Lưu, một bản sao tài liệu của ông Lưu mà Ngài Bộ trưởng trước đây đưa ra cho Phái bộ xem nếu có thể được.

Tôi một lần nữa thành thật cảm ơn Ngài về sự cộng tác mà Ngài dành cho Phái bộ sáng nay. Và tôi cũng xin lặp lại rằng chúng tôi không yêu cầu Ngài cung cấp chúng tôi những thông tin đó ngay sáng nay. Mong những yêu cầu của chúng tôi sẽ được đáp ứng càng sớm càng tốt trước khi chúng tôi rời khỏi Việt Nam.

Ô. BỘ TRƯỞNG: Tôi sẽ trả lời từng điểm cho 7 câu hỏi.

(1) Đối với vụ tự tử vào chủ nhật tuần trước, 27.10, đã được điều tra xong, việc giảo nghiệm cũng đã hoàn thành, và hôm qua lúc 4 giờ chiều chúng tôi đã phổ biến một thông cáo cho báo chí Việt Nam và đồng thời phát thanh trên làn sóng điện và cũng được công bố sáng nay trên báo chí tiếng Anh và tiếng Pháp.

Còn về di bút đã được người đàn ông tự sát để lại, thì tôi cũng như Phái bộ thôi, tôi nghe được từ các phóng viên báo chí nước ngoài cho rằng có di bút để lại. Chắc chắn qua các cuộc điều tra chúng tôi sẽ tìm ra liệu có di bút như thế hay không. Các kết quả của cuộc điều tra sẽ được thông báo cho Phái bộ trước khi Phái bộ ra đi, cũng như kết quả của những cuộc điều tra về những vụ tự thiêu trước đó.

Kết quả của của cuộc giảo nghiệm Bộ Y tế chỉ mới trình cho tôi hôm qua bởi vì Bộ Y tế rất cẩn thận trong việc phân tích các bộ phận cơ thể. Quý Ngài có thể đọc bản thông cáo về vụ này và kết quả cuộc giảo nghiệm đó thì đang trên nằm trên bàn viết của tôi. Người đàn ông đó bị bệnh lao cấp tính và phổi có nhiều lỗ, mỗi lỗ rộng nhiều cm.

Tôi những ước muốn trả lời câu hỏi của Trưởng phái bộ là liệu Chính phủ có quan ngại về những vụ tự thiêu khác có thể xảy ra. Tôi nói thẳng cho Quý Ngài biết rằng cơ quan an ninh của chúng tôi đã nắm được những thông tin rất đáng tin cậy, những thông tin này chứng minh đúng 100% về một phong trào lén lút của những kẻ gọi là tăng sĩ trẻ, những người trong thực tế không phải là nhà sư chính hiệu mà chỉ tự khoác cho mình danh hiệu nhà sư mà thôi. Họ muốn hiến mình tự thiêu. 10 người trong số họ hiến mình tự thiêu nơi công cộng trong thời gian Phái bộ ở đây. Chúng tôi đã có thể tiếp xúc được với 4 người trong số họ, và thông qua hệ thống tái giáo dục, chúng tôi đã có thể chuyện vãn với họ, và chúng tôi hỏi họ: “Bộ chán đời không muốn sống hay sao vậy? Bạn bị gì mà phải chống lại Chính phủ phủ như vậy? Vì cớ gì mà lại muốn tự thiêu vậy bạn?” Sau đó, 5 người đã viết một lá thư ngỏ, trong đó họ nhận ra sai lầm của mình và họ tình nguyện đi đến đài phát thanh để thừa nhận những sai lầm và kêu gọi 5 bạn đồng chí hướng khác đừng nghe những lời tuyên truyền vô căn cứ và hãy nhìn nhận sai lầm của mình. (Tôi xin nhắc nhở lại là có 10 người tình nguyện, và 1 người đã tự thiêu.) Trong thư của họ, họ nói rằng họ đã bị bao vây và bị canh chừng trong chùa và trong những nơi khác bởi những nhóm người bí mật, và một số người nào đó nói với họ rằng trong những cuộc tảo thanh chùa chiền từ ngày 2.8, ngày mà lệnh giới nghiêm bắt đầu có hiệu lực, một số tăng sĩ lãnh đạo đã bị giết. Đó là một lời nói dối, nhưng một khi họ bị nhốt trong 4 bức tường như thế, họ rất dễ tin theo tất cả những lời nói dối và tuyên truyền và họ lắng nghe và tự hình thành những ý tưởng sai lầm về cách Chính phủ đối xử với các nhà lãnh đạo tăng sĩ. Khi chúng tôi nói chuyện với họ, chúng tôi đã chứng minh với họ rằng tất cả các nhà lãnh đạo tăng sĩ ở chùa ở đó, không một ai bị giết, không một ai bị ngược đãi, không có ni sư nào bị cưỡng hiếp và đã có không có bất cứ bất kỳ hình thức bạo lực nào. Họ nhận ra sai lầm của họ và họ tình nguyện kêu gọi các người đồng chí khác đừng có khăng khăng làm chuyện đó nữa. Đây là câu trả lời cho Phái bộ, về câu hỏi liệu Chính phủ có quan ngại về vụ tự thiêu mới có thể xảy ra. Chúng tôi vẫn chưa tìm ra được 5 kẻ kia, nhưng chúng tôi hy vọng rằng lời kêu gọi bởi những người đồng chí hướng gởi cho họ, sẽ có hiệu quả.

(2) Tôi cũng sẽ cung cấp cho Trưởng Phái bộ danh sách các thành viên của các tông phái, ngoài tông phái Cổ Sơn Môn.

(3) Danh sách các nguyện vọng mà các Phật tử đã gởi cho Chính phủ và danh sách của những Phật tử đã ký Thông cáo chung 16.6.1963 với Chính phủ, bao gồm tên của những nhóm mà họ đại diện, những nhóm đó có bao nhiêu tín đồ, cơ cấu của nhóm và tầm ảnh hưởng những nhóm nhìn theo quan điểm của Chính phủ, tất cả sẽ được soạn thảo để trình cho Qúy Ngài, nhưng tôi cũng mong Quý Ngài lưu ý rằng thực ra, trong Thông cáo chung giữa Chính phủ với Uỷ ban Liên phái, không có nhiều nhóm Phật giáo có người đại diện ký vào. Những người ký toàn là người của Tổng hội Phật giáo Việt nam. Gần như hoàn toàn không có các tông phái khác đại diện cho bên ký.

(4) Tôi sẽ cung cấp cho Quý Ngài lai lịch của Thích Trí Quang. Chúng tôi có những thông tin rất đáng tin cậy về lai lịch của ông ta và chúng tôi sẽ thông tri cho Trưởng Phái bộ. Ông ta từng là một cán bộ cao cấp Cộng sản, và các hồ sơ bí mật của chúng tôi chứa bằng chứng cho chuyện này. Chúng tôi sẽ thông tri điều đó cho Phái bộ. Còn tại sao ông ta đã tị nạn tại Tòa đại sứ Hoa Kỳ và làm thế nào ông ta đã thành công trong việc thâm nhập Đại sứ quán, tôi sẽ cung cấp cho Quý Ngài một văn bản trả lời sau khi đi duyệt qua những biên bản điều tra và hồ sơ của tôi hầu cung cấp cho Quý Ngài thêm nhiều chi tiết khác.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Chúng tôi cũng muốn biết lý do tại sao ông đã chọn Tòa đại sứ Hoa Kỳ?

Ô. BỘ TRƯỞNG: Tôi cũng sẽ trả lời bằng văn bản về điểm này, nhưng tôi có thể cho biết ngay bây giờ rằng, theo tài liệu thu giữ trong chùa và cũng chiếu theo những tường trình của Thích Tâm Châu, người, tại Uỷ ban Liên phái, phụ trách liên lạc với báo chí nước ngoài, ông Thích Trí Quang thường tiếp xúc với ngoại nhân để đòi lật đổ Chính phủ. Những tường trình này có chứa tên của người nước ngoài mà ông ta đã liên lạc, nhưng tôi sẽ trả lời bằng văn bản. Tôi xin phép trích dẫn một vài tên tuổi của người nước ngoài nêu được nêu ra trong tường trình: Cumming, Boggs. Tuy nhiên, trước khi thông tri thông tin này, tôi đã phải xin phép Chính phủ của tôi, bởi vì tôi không phải là toàn thể Chính phủ, và trong chuyện quan hệ giữa chúng tôi với Hoa Kỳ, thì trước tiên tôi phải tham khảo ý kiến ​​các đồng nghiệp của tôi trong Chính phủ. Nhưng, cá nhân tôi, để làm sáng tỏ Vấn đề Phật giáo tôi sẽ kín đáo bày tỏ với Quý Ngài.

(5) Còn như về số lượng chính xác sinh viên học sinh và các nhà sư vẫn còn trong các trại và các bệnh viện, điều này trong khả năng của tôi, và tôi sẽ cung cấp cho Phái bộ một danh sách những tên tuổi đó.

(6) Còn chuyện cung cấp cho Phái bộ với một bản sao của Dụ số 10, sáng nay trước khi Phái bộ khởi hành đi Huế, Tổng Thư ký Bộ Ngoại giao gọi tôi để báo rằng ông Volio đã yêu cầu văn bản của Dụ số 10* và các thông tin khác. Đó là nhiệm vụ của tôi để cung cấp cho mỗi thành viên của Phái bộ một bản sao. Chúng đang được đánh máy. Cũng để làm cho sáng tỏ thêm, tôi sẽ cung cấp cho Quý Ngài các văn bản của các Luật năm 1933 và 1939, thông qua dưới thời chính quyền Pháp, là những luật đưa ra những quy định cho những người Công giáo, nhờ đó Quý Ngài có thể so sánh và thấy được sự khác biệt về chuyện đối xử người Công giáo cũng như Phật từ dưới chính quyền thực dân và chính quyền thời nay.

*Văn bản tiếng Việt của Dụ số 10 đã được trao cho Phái bộ. Bản dịch ra Anh ngữ xin xem Phụ lục XV.

(7) Đối với lời xác nhận của ông Lưu, tôi đồng ý cung cấp cho Quý Ngài các tin tức liên hệ và tôi đang có sẵn bản sao chụp lời xác nhận đó.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Tôi đã tham khảo ý kiến ​​các đồng nghiệp của tôi và chúng tôi rất hài lòng với câu trả lời Ngài đã cho chúng tôi bây giờ, và chúng tôi không có gì để hỏi thêm ở giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, Ngài đại diện của Ba Tây có 2 yêu cầu.

Ô. CORRÊRA DE COSTA: Tôi muốn yêu cầu Ngài Bộ trưởng cung cấp cho chúng tôi những tấm ảnh chụp và kết quả của cuộc giảo nghiệm của 8 người bị giết ở Huế hồi Tháng Năm và các văn bản của các bài thuyết pháp của Thích Trí Quang đã thuyết buổi sáng, mà ông ta muốn phát sóng buổi tối hôm đó, bài mà giám đốc của đài phát thanh từ chối phát đ

(Ô. Bộ trưởng đồng ý cung cấp những tài liệu này)

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Đây không phải là một câu hỏi, nhưng tôi tự hỏi, liệu Ngài có thể cho tôi biết là liệu chúng tôi có được liên lạc với 4 người muốn tự thiêu, mà Chính phủ đã thành công trong việc thuyết phục, cho nên đã không tự thiêu, để chúng tôi phỏng vấn họ.

Ô. BỘ TRƯỞNG: Vâng, được chứ! Điều này cũng nằm trong quyền hạn của tôi, tôi có thể sắp xếp được. Khi Quý Ngài thấy thuận tiện, xin Quý Ngài vui lòng ghi rõ ngày, giờ, nơi chốn. Xin Quý Ngài cứ để đó cho tôi để cho tôi thu xếp chuyện đó với thư ký của tôi.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Khi chúng tôi quay trở lại văn phòng của chúng tôi, tôi sẽ xem lại chương trình và sẽ thông báo cho văn phòng của Ngài về ngày, giờ và nơi phỏng vấn. Nơi phỏng vấn phần chắc là khách sạn Majestic, nhưng tôi xin thưa với Ngài rằng chúng tôi muốn chờ cho tới khi Phân đoàn Phái bộ từ Huế trở về. Vì Phân đoàn Phái bộ theo dự tính sẽ trở lại Sài Gòn sáng Thứ Năm, do đó cuộc phỏng vấn sẽ không diễn ra trước thời điểm này. Tuy nhiên nếu bản thân Ngài, và Chính phủ của Ngài có lo ngại gì về địa điểm phỏng vấn, thì tôi nghĩ, tôi không nên khăng khăng đòi họ phải đến khách sạn, nhưng chúng tôi sẽ vui lòng gặp họ bất cứ nơi nào mà Ngài chọn

Ô. BỘ TRƯỞNG: Cảm ơn Ô. Trưởng Phái bộ. Tôi sẽ thông báo cho ông rõ về điểm này trong thời gian ngắn.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Chúng tôi muốn gặp tất cả những người được phỏng vấn ở cùng một nơi vì như thế sẽ dễ dàng hơn và ít tốn thời gian hơn.

Ô. BỘ TRƯỞNG: Xin đồng ý. Bây giờ tôi muốn cảm ơn Ô. Trưởng Phái bộ vì mong muốn đạt được sự vô tư trong việc điều tra của Phái bộ, đã cho tôi cơ hội để cung cấp cho Quý Ngài nhiều chi tiết về vấn đề mà mà chúng ta cùng quan tâm, đó là sự khủng hoảng giữa Cộng đồng Phật giáo và Chính phủ.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close