BTT 13: Tường trình của Trưởng Phái bộ với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

H. TƯỜNG TRÌNH CỦA TRƯỞNG PHÁI BỘ VỚI BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO

85. Trưởng Phái bộ đã đến thăm Bộ Ngoại giao ngày 31.10.1963 để thảo luận xem có thể phỏng vấn nhà sư Thích Trí Quang là người đang tị nạn trong tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn hay không (xem đoạn 5152 ở trên).

Sau đây là biên bản về cuộc họp mặt được Trưởng Phái bộ tường trình cho Phái bộ:

Tôi đã có một cuộc họp với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong văn phòng của ông chiều nay lúc 3g chiều, để nói chuyện với ông ta về chuyện liệu Phái bộ có thể phỏng vấn sư Thích Trí Quang, người đang tị nạn tại Toà đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Tôi nghĩ rằng tốt nhất là yêu cầu một thành viên của Phái bộ đi với tôi đến cuộc họp này. Do đó, tôi đã thỉnh ý Ô. Corrêra da Costa, và ông đã vui lòng đi với tôi.

Chúng tôi đã gặp Ngoại trưởng trong văn phòng của ông. Ông đã mở đầu cuộc họp và hỏi chúng tôi Phân đoàn Phái bộ từ Huế đã trở lại chưa và Phân đoàn Phái bộ đã hoàn thành sứ mạng ở đó chưa? Tôi nói với ông ta là Phân đoàn Phái bộ đã trở lại rồi, họ đã gặp tất cả những người mà họ muốn gặp, và rằng họ đã hoàn thành nhiệm vụ của họ. Sự hợp tác của Chính phủ dành cho các thành viên Phái lưu ở lại Sài Gòn đã cho phép họ liên lạc với những người mà họ đã muốn gặp. Do đó, công việc này được tiến triển tốt đẹp và hôm nay tôi có cảm tưởng rằng nếu Phái bộ cố gắng thêm một ít nữa và với sự tiếp tục hợp tác từ phía Chính phủ, chúng tôi có thể hoàn thành sứ vụ của chúng tôi cuối tuần này.

Ngoại trưởng chân thành cảm ơn Phái bộ đã thấy được sự hợp tác từ phía Chính phủ.

Tôi đã nói với Ô. Bộ trưởng rằng trong một số bản tin được gởi đi viết rằng một thành viên của Phái bộ đã bị cáo buộc là ông ta đã nói một điều gì đến nỗi Chính phủ Việt Nam không cộng tác với Phái bộ. Tôi bảo đảm với Ô. Bộ trưởng rằng không có thành viên nào của Phái bộ đã nói như vậy với báo chí, và thậm chí nếu ai đó đã làm như vậy, thì điều này sẽ không phản ảnh quan điểm của Phái bộ; Phái bộ luôn biết ơn Chính phủ về sự họp tác của Chính phủ.

Sau đó, tôi nói với Ngoại trưởng rằng bản tin thứ 2 gởi đi cùng ngày đã chỉ rõ ra rằng một thành viên của Phái bộ, Ngài Senerat Gunewardene, đã viếng thăm vị Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tôi đã nhân danh cá nhân tôi và nhân danh Phái bộ bảo đảm với Ô. Bộ trưởng rằng bản tin gởi đi này là tin mới đối với tôi cũng như đối các độc giả khác.

Bản tin cũng nêu rõ là Ngài Senerat Gunewardene đã thăm viếng Đại sứ Lodge vì họ là bạn thân với nhau kể từ khi Ô. Đại sứ Lodge làm đại diện thường trực cho Mỹ tại LHQ. Tôi nói rằng tôi đã có đã đề cập chuyện này với Ngài Senerat Gunewardene khi ông ấy từ Huế về và ông đã nói với tôi rằng cuộc thăm viếng đó mang tính cách hoàn toàn cá nhân vì vậy ông ta đã nghĩ là không cần thiết phải thông báo cho Phái bộ, do đó cuộc viếng thăm sẽ không liên quan gì đến Phái bộ trong bất kỳ dưới hình thức nào.

Tuy nhiên, đây chỉ là những chuyện nhỏ, và chuyện tôi chiều nay đến gặp Ô. Bộ trưởng là có liên quan với một người đã xin tị nạn tại Đại sứ quán Hoa Kỳ. Tôi nói với ông ấy (Gunewardene) rằng ngày hôm qua tại cuộc họp của chúng tôi với Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng đề cập đến tên của Thích Trí Quang và rằng chúng tôi đã yêu cầu Ô. Bộ trưởng Nội vụ cung cấp cho chúng ta những thông tin cơ bản về nhà sư đó. Một khi nhà sư đã trở thành một người được biết đến rộng rãi và công khai trên toàn thế giới, tôi đã nói với Bộ trưởng Bộ Nội vụ rằng tôi nghĩ rằng chuyện để cho nhà sư này được phỏng vấn là một điều rất quan trọng đối với tất cả các thành phần, cụ thể là cho Cộng đồng Phật giáo, Chính phủ Việt Nam, Phái bộ cũng như Đại hội đồng, bất kể là nhân cách hay tính chất của vai trò nào của nhà sư trong tình hình Phật giáo mà ông ta có thể có như thế nào.

Tôi giải thích rằng khi tôi trao cho Ô. Bộ trưởng danh sách của chúng ta với tất cả các nhân chứng, mà chúng ta thấy cần phải phỏng vấn, tôi đã nghĩ là tôi không nên đưa tên nhà sư này vào danh sách ở giai đoạn này, nhưng nên đưa sự việc này một cách riêng biệt như là một trường hợp đặc thù và trình lên Chính phủ hầu tránh bất kỳ rắc rối không đáng có nào. Tôi nghĩ rằng bây giờ là thời điểm thích hợp để đưa vấn đề này ra với Ô. Bộ trưởng theo cách này, và hỏi về thái độ của Chính phủ đối với trường hợp này. Ông Ngoại trưởng nói rằng đầu tiên ông muốn nói một vài lời về gốc gác này người. Ông nói rằng những nhà sư quê gần quê của Ô. Bộ trưởng, và rằng ông biết rất rõ nhà sư này. Tên của tỉnh chánh quán nhà sư là Quảng Bình cũng là chánh quán của Tổng thống VNCH.

Năm 1945, nhà sư này đã tham gia vào phong trào Cộng sản. Nhiều người không Cộng sản cũng tham gia vào phong trào này vào thời gian đó vì mục tiêu chung của họ ở giai đoạn đó là giành độc lập cho Đất Nước. Nhà sư này đã tạo ra một Phật học Viện có mối liên hệ chặt chẽ với Mặt trận Cộng sản.

Ông đã bị người Pháp bắt 2 lần. Dĩ nhiên không vì thế mà nói rằng ông ta là một người Cộng sản. Ô. Bộ trưởng cũng đã bị Pháp bắt giữ. Nhưng Ô. Bộ trưởng biết nhà sư có cảm tình với chủ nghĩa Cộng sản. Ô. Bộ trưởng đã nghe nhà sư này thuyết pháp. Đã có một lần nhà sư đã nói công khai là về mặt siêu hình học là không có sự khác biệt giữa Phật giáo và chủ nghĩa Cộng sản, và cả 2 có sự tương dung với nhau. Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy tiến trình tư tưởng của nhà sư như thế nghiêng về phía chủ nghĩa Mác xít.

Nhưng Ô. Ngoại trưởng cho biết ông vẫn không dùng sự kiện này làm nền cho kết luận của ông vì một số Kytô hữu tiến bộ cũng có thể theo cùng một dòng suy nghĩ như nhà sư. Ông nói rằng ông đã có dữ kiện chính xác khác. Việc đầu tiên là nhà sư có liên quan với Lê Đình Thám, người sáng lập An Nam Phật học Hội và là Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới của Việt Nam tại Hà Nội khoảng 25 năm trước đây. Năm 1951, nhà sư đã họp tại Đà Lạt với một BS Cộng sản Pháp. Ô. Bộ trưởng nói rằng nhà sư là người, mặc dù không phải là người đứng đầu các Phật tử, nhưng là người lãnh đạo của Phong trào Phật giáo. Lãnh đạo tinh thần của Phong trào này là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, nhưng nhà lãnh đạo thực sự đứng sau cánh gà sân khấu của Phong trào này là nhà sư này.

Ô. Bộ trưởng cho biết rằng họ đã có một bộ sưu tập các bức thư gửi cho Phó Tổng thống mà Thích Trí Quang với chức năng là Chủ tịch của Ủy ban liên bộ đã gởi. Những lá thư, được viết trên danh nghĩa của Uỷ ban Liên phái, nhưng lại phản ánh chính xác đường lối suy nghĩ của nhà sư này. Ông là người đã mở một văn phòng và thâu nhận các thanh thiếu niên Phật tử; các em sẵn sàng cầm vũ khí để bảo vệ Phong trào Phật giáo. Trong danh sách mà Phái bộ đã trình cho Chính phủ, vốn có 3 hoặc 4 người cũng đối lập với Chính phủ, và nếu không đụng đến vấn đề nguyên tắc, Chính phủ sẽ không có bất kỳ phản đối nào, thậm chí để cho Phái bộ phỏng vấn những người này. Nhưng đó là một vấn đề đụng nguyên tắc, và Chính phủ không thể để cho Phái bộ phỏng vấn họ. Trong thực tế, Ô. Ngoại trưởng còn nói rằng ông thậm chí còn không biết liệu những người này vẫn còn đối lập với Chính phủ hay không.

Ông nói rằng bây giờ chúng ta đề cập đến “Nhóm Caravelle”, nhóm này gồm 18 thành viên đã ký tuyên ngôn. Khi tình hình Phật giáo đã trở thành nghiêm trọng, những người này nói với Chính phủ rằng vì quan tâm các mối nguy hiểm đang đối đầu với các Quốc gia, họ sẽ đặt sang một bên chính trị của đảng họ và vì lợi ích của dân tộc, họ sẽ ngưng đấu tranh. Trần Văn Đỗ là một trong những người ký tên là người anh cùng cha khác mẹ với cựu Đại sứ tại Việt Nam tại Mỹ, cha của bà Nhu. Bộ trưởng cũng đề cập đến BS Phan Huy Quát, hiện đang làm việc tại Bộ Y tế.

Bộ trưởng do đó cho biết ông muốn bảo đảm với Phái bộ rằng Chính phủ không chấp nhận tên của một số người mà Phái bộ muốn phỏng vấn, thì chỉ vì dựa trên một nguyên tắc, nhưng người đàn ông mà tôi nêu ra, là người đang ở trong Đại sứ quán Hoa Kỳ, là nhà lãnh đạo thực sự của tất cả Phong trào Phật giáo mang tính chính trị và tính bạo loạn. Sau đó, Bộ trưởng giải thích chính sách của Chính phủ liên quan tới cách hành xử tình hình hiện tại, đặc biệt trong lãnh vực quốc phòng chống lại Cộng sản. Ông cũng nói rằng chuyện tị nạn của nhà sư này là một phần nằm trong chiến thuật của Cộng sản để đáp trả chiến lược cách ly Cộng sản khỏi những ấp chiến lược, ở chỗ họ tìm cách ly gián Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Hoa Kỳ bằng cách tạo nên sự hiểu lầm giữa 2 Chính phủ. Đây là chìa khóa để hiểu biết về toàn thể tình hình. Ô. Bộ trưởng nói: Nhà sư này lý ra đã không có lệnh bắt ông nếu ông ta sống trong chùa và cư xử như những nhà sư khác. Nhà sư đã sống như một chiến sĩ cách mạng. Không thể kiếm ra những nơi cư trú của ông ta, và ông ta liên tục di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Điều này thể hiện tính cách đặc biệt của ông ta trong số các nhà sư và các nhà lãnh đạo tôn giáo khác. Ông ta đã làm những gì mà các nhà sư khác đã không làm; chẳng hạn, ông ta cũng có thể đã tự thiêu hoặc rời khỏi Nước.*

*He did what other monks had not done; for instance, Reverend Khiet could also have burned himself or left the country: Hòa thượng Khiết cũng có thể đã tự thiêu hoặc rời khỏi quê của Ngài.

Có lẽ dịch sai khi viết là “Hòa thượng Khiết…” vì HT Khiết không ăn nhập gì vào chỗ này.

Bộ trưởng nói thêm rằng khi Thích Trí Quang đi đến Toà đại sứ Mỹ, các nhiếp ảnh gia các phóng viên đang chờ sẵn. Chính phủ Hoa Kỳ bị đặt trong thế kẹt cứng bởi chiến thuật này của đối phương; Chính phủ Việt nam cũng vậy. Nếu Hoa Kỳ không chấp nhận ông ta, các Phật tử sẽ khiếu nại chống lại Hoa Kỳ. Nếu Hoa Kỳ đón nhận ông ta, như thế là rơi vào bẫy sách lược của đối phương; điều này có thể hiểu là Hoa Kỳ hỗ trợ mục tiêu đấu tranh của Phật giáo và biểu lộ sự thù nghịch của Chính phủ Hoa Kỳ đối với Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Sự có mặt của Thích Trí Quang trong Toà đại sứ Hoa Kỳ là một sự vi phạm luật của nước chúng tôi, Bộ trưởng nói. Từ lúc đó Hoà thượng Thích Tịnh Khiết đã gọi Thích Chí Quang về lại chùa tu, và Ô. Ngoại trưởng cũng mời Thích Trí Quang trở lại chùa. Nhưng Chính phủ Hoa Kỳ đã không trả lại ông ta. Sự kiện không trả lại nhà sư này, Ô. Ngoại trưởng nói, đã cản trở chuyện hành sử và sự thực thi lời kêu gọi từ một vị lãnh đạo tinh thần của Phật giáo, như thế là can thiệp vào tôn giáo, cũng như cản trở chuyện thực thi luật pháp Việt nam đối với nột công dân đã vi phạm luật ấy.

Sau đó, Bộ trưởng cho rằng, từ quan điểm của công pháp quốc tế, một người trong tình trạng tị nạn không được phép tham gia vào bất kỳ hoạt động hoặc liên lạc nào mà không có sự chấp thuận của Chính phủ của Nước đó. Trong trường hợp này Chính phủ phản đối sự tiếp xúc của Thích Trí Quang với Phái bộ hoặc với bất kỳ người nào khác. Chính phủ chỉ có thể đồng ý để cho Phái bộ tiếp xúc như vậy nếu nhà sư đã được chuyển giao cho chính quyền.

Bộ trưởng nói thêm rằng nhà sư này vẫn liên lạc với các tổ chức ngầm, bao gồm chuyện kích động các cuộc biểu tình nhất định trong thời gian lưu trú của Phái bộ tại Sài Gòn và hoạch định kế hoạch tự thiêu. Bộ trưởng cho rằng ông rất có thiện cảm với những người tự thiêu. Nhưng thực tế là những chuyện tự thiêu, ông nghĩ, không ai mà cầm lòng thương tiếc được, nhưng những vụ tự thiêu như thế nên được xem là những vụ giết người có tổ chức. Các nạn nhân đã được nói cho biết rằng Chính phủ đã giết Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, rằng Chính phủ đã giết ni sư Diệu Huệ, đã trấn nước cho chết các nhà sư, đã đốt chùa Xá Lợi, và vì thế họ nên tự thiêu để phản đối những hành vi này của Chính phủ.

Như ví dụ điển hình, Bộ trưởng nói về 3 trường hợp tự thiêu. Trường hợp đầu tiên là của Thích Quảng Đức vào ngày 11.6. Bộ trưởng cho biết ông đã được thông báo một tuần trước vụ này, và đã muốn ngăn chặn vụ tự thiêu. Buổi tối trước khi vụ tự thiêu, lúc 21 giờ tối – vụ tự thiêu đã diễn ra lúc 9 giờ sáng hôm sau – một người phụ nữ vốn là bạn thân của nhà sư này đã đến gặp nhà sư và nói với nhà sư rằng bà ta đã nghe nói vụ tự thiêu được dự tính này. Vị sư nói với bà ấy rằng đúng như vậy; ông có đã ý định một vài tuần trước đây, nhưng sau khi đọc những lời dạy thiêng liêng của Đức Phật, ông thấy ra rằng Đức Phật không cho phép tự tử, và do đó ông đã đổi ý và muốn sống. Chính ngay thời gian người phụ nữ này đang thưa chuyện với nhà sư như thế, thì mọi sự được chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc tự thiêu sáng hôm sau. Thế là sáng đó có một đám rước dài và vị sư này đã được đưa vào một chiếc xe Austin ở đầu đám rước với 2 vị sư khác ngồi kèm vị sư này. Đám rước dừng lại ở một vị trí ở phía trước của Đại sứ quán Căm bốt, một Nước mà Quý Ngài biết là không thân thiện với Chính phủ Việt Nam. Thích Quảng Đức không đi bộ một mình, nhưng với 2 nhà sư xốc nách ông. Nhà sư xem ra đã bị đánh thuốc mê. Rồi mấy nhà sư đổ xăng lên Thích Quảng Đức. Còn những nhiếp ảnh gia và các thành viên của báo chí chực sẵn phía trước của Đại sứ quán Căm Bốt. Mọi người đều biết về chuyện chờ chực đó của đám báo chí, ngoại trừ Chính phủ. Nạn nhân lấy ra một cái bật lửa để đốt mình nhưng bật lửa bị hỏng. Một trong 2 vị sư khác quẹt một que diêm và châm lửa.

Tại sao bật quẹt không bắt lửa? Đây là một câu hỏi mà chúng tôi tự hỏi. Có phải cục đá lửa đã bị lấy ra khỏi hộp quẹt ra trước đó?

“Chúng tôi đã cố gắng bắt giữ cái ông thầy chùa châm lửa, nhưng chúng tôi đã không bắt được,” Bộ trưởng nói. Ông thầy chùa châm lửa này hoặc là bị hối hận và đã lánh đi hoặc đã bị những người Cộng sản cầm giữ vì ông thầy chùa đó là một nhân chứng quan trọng. Cảnh sát và lính cứu hỏa không thể vượt qua vòng tròn các nhà sư bao xung quanh Thích Quảng Đức để giải cứu ông ta. Về chuyện cố gắng giải cứu mà không thành này, chúng tôi cũng có hình ảnh, đặc biệt là những bức xuất hiện trên tờ Paris Match.

Còn về lần tự thiêu thứ 2, họ đã thay đổi chiến thuật của họ, bởi vì Tổng thống đã tuyên bố vụ tự thiêu đầu tiên là một vụ giết người. Kể từ thời điểm đó các nhà sư đã dể cho người ta thiêu mình lén lút hoặc các nạn nhân đã tự bật lửa thiêu. Đây là trường hợp của một một cậu thanh niên 18 tuổi. Cậu ta đã muốn theo người Công giáo, nhưng không được chấp nhận, bởi vì cậu ta không được thông minh cho lắm. Vì cậu ta cô đơn như thế, cho nên cậu ta đến xin ở trong chùa. Ở đó, cậu đang chuẩn bị thi trung học. Thật đáng để nêu ra đây điểm này vì rõ ràng anh ta không muốn chết; nếu không, tại sao cậu ta lại cố gắng chuẩn bị để thi cho đậu?

Cậu ta đã được lựa chọn theo bài bản của tổ chức hoạch định tự thiêu. Cậu ta muốn chạy trốn, nhưng bị bắt lại và Ô. Bộ trưởng tin rằng cậu ấy đã bị đánh đập tới chết trước khi cậu bị đốt cháy. Khi người ta tìm được cậu trong ruộng, thì thấy không có ai xung quanh cậu ta cả và người cậu ta vẫn còn bốc lửa. Cái nơi mà cậu đã được tìm thấy chỉ ra rằng cậu ta đã chết vì bị đập chết trước đó rồi mới đốt bởi vì xác của cậu ta đã được tìm thấy với những cánh tay và chân duỗi ra thay vì co lại, vì luật tự nhiên sẽ co lại theo nếu cậu ta còn sống mà lại chết thiêu. Chúng tôi còn có những hình ảnh chụp vụ này.

Cậu này trước đó đã có một người anh, anh này đã bắt đầu chống lại chùa, nơi anh ta ở, nhưng báo chí lại viết là Chính phủ đã tung tin này để che đậy cuộc tự thiêu này.

Trường hợp thứ 3 là một người đàn ông khá lớn tuổi và có một con trai, cũng là một nhà sư và giảng dạy tại Đại học Văn Khoa, Sài Gòn. Ông cũng đã được tổ chức kể trên lựa chọn. Ông đã bỏ chạy và tìm cách lánh nạn với gia đình của mình, nhưng họ đã bắt cóc ông. Ô. Ngoại trưởng cho biết rằng ông này đã bị giết; Phái bộ có thể hỏi con ông ta về vụ này. Ô. Bộ trưởng nói thêm rằng những người đứng đằng sau tất cả những vụ này là Thích Trí Quang. Mọi thứ đã được sắp xếp như thế. Nhóm này đã muốn có thêm 10 trường hợp tự thiêu nữa vào danh sách tự thiêu trong thời gian Phái bộ lưu lại, và tất cả những kẻ này là do Thích Trí Quang nhào nặn mà ra cả.

Nói chuyện tới 5 giờ chiều thì Ô. Bộ trưởng nói rằng ông đã có một cuộc hẹn với người đại diện của Gia nã đại. Tôi nói rằng chúng tôi không muốn làm mất thêm thời gian của ông, nhưng tôi muốn biết chính xác lập trường của Chính phủ Việt Nam.

Bộ trưởng cho rằng Chính phủ Việt Nam đã phản đối bất kỳ sự liên hệ nào với Thích Trí Quang vì, chiếu theo quyền tị nạn, một người tị nạn không có quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hoặc liên lạc với bất cứ ai. Đó là lý do tại sao ngay cả trong Đại sứ quán, Ô. Bộ trưởng được cho biết rằng, căn phòng nơi Thích Trí Quang đang trú ngụ không có cửa sổ. Nếu người Mỹ nộp Thích Trí Quang cho chính quyền Việt Nam, chính quyền Việt nam sẽ cho phép Phái bộ phỏng vấn Thích Trí Quang như Phái bộ đã phỏng vấn những người khác.

Tôi cho rằng vì Ô. Bộ trưởng có một cuộc hẹn, nên tôi nghĩ rằng tôi nên kiếu từ. Khi chúng tôi đã nói lời kiếu từ, Ô. Bộ trưởng nói rằng thật là tốt nếu Phái bộ trước đây đã liên lạc tất cả các tông phái “Đại thừa”, thì Phái bộ cũng nên thăm ít nhất một cộng đồng Tiểu thừa. Ngoài ra, cá nhân ông, ông nghĩ rằng một cuộc thăm viếng như thế sẽ làm cho Ngài Senerat Gunewardene, người đại diện của Tích Lan, hài lòng, và tôi cho rằng gì thì gì, Phái bộ sẽ đi thăm. Bộ trưởng nói rằng có lẽ cuộc thăm viếng này có thể được sắp xếp cho buổi chiều ngày Thứ Bảy, và chúng tôi đã đồng ý.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close