BTT 6 – Tướng Trần Tử Oai

Trantuoai
Tướng Trần Tử Oai

III. Lập trường của Chính phủ

72. Lập trường của Chính phủ VNCH trong những mắc mứu với cộng đồng Phật giáo đã được phác họa cho Phái bộ tại nhiều cuộc họp với các viên chức cao cấp của Chính phủ và được viết xuống như sau:

A. PHÁT BIỂU VỀ VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM CỦA TƯỚNG TRẦN TỬ OAI

73. Tướng họ Trần trình bày vấn đề này bằng tiếng Pháp. Phái bộ LHQ được cung cấp văn bản viết bằng tiếng Pháp và tiếng Anh của lời phát biểu này. Lời phát biểu như sau:

Cuộc khủng hoảng Phật giáo mà Việt Nam đã và đang phải gánh chịu và làm sôi sục lòng những tầng lớp không được thông tin đầy đủ trong Đất Nước này, phát nguồn từ những việc rắc rối đã xảy ra ở Huế đầu tháng 5.1963. Những sự việc rắc rối này là hệ quả của việc áp dụng những qui định của Chính phủ liên quan tới việc treo cờ trong những nơi thờ phượng. Những sự việc rắc rối này lúc đầu là những sự việc đơn lẻ và không có gì là trầm trọng, nhưng sau đó, do có sự giật giây của những thành phần quá khích, đã chuyển hướng một cách không ngờ và sự chuyển hướng này cuối cùng đã dẫn tới một phong trào rộng lớn đòi trình lên Chính phủ những đòi hỏi.

Những kẻ xách động này, với sự cộng tác của những kẻ phiêu lưu chính trị và của Cộng sản, và núp dưới lá cờ Phật giáo và dưới lớp áo cà sa, đã giựt giây một cách tài tình và khéo léo nhằm kích động những tình cảm quần chúng ở trong nước cũng như ở ngoài nước, và đầu độc tâm trí của một số khá đông người. Hệ quả là, ở Việt Nam, các thầy tăng và ni cô thuộc Tổng hội Phật giáo và các tín đồ Phật giáo đã sa vào phong trào này – là phong trào được điều khiển từ chính một số chùa nhất định trong nước – và nước ngoài; đặc biệt trong những nước Phật giáo lân bang với Việt Nam, một số báo chí và một số công luận, bị hướng dẫn sai lạc và bị kích động, đã chỉ trích kịch liệt Việt Nam. Vài chính trị gia – bị ảnh hưởng nặng nề bởi những bản tường trình thiên vị của báo chí, thậm chí đã chỉ trích Chính phủ Việt Nam không tôn trọng nhân quyền, vi phạm sự tự do làm theo lương tâm và phân biệt đối xử tôn giáo.

Đã tới lúc cần phân tích sự khủng hoảng Phật giáo này và làm sáng tỏ sự việc này, ngay cả không vì mục đích nào khác hơn là soi sáng những người có thiện chí và những bạn bè của dân tộc Việt Nam.

Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng: vấn đề treo cờ Quốc gia và cờ tôn giáo (6.5.1963)

Cách đây hơn một năm, trong khi thanh tra một nơi gần Sài gòn, nơi tín đồ Phật giáo đang hành lễ, Tổng thống Ngô Đình Diệm thấy rằng, giữa một rừng cờ Phật giáo, chỉ có một cờ Quốc gia rách tơi tả và bạc màu, và tại một nơi khác cũng chỉ có một lá cờ Quốc gia, mà lại là cờ giấy. Và sau đó Tổng thống còn ghi nhận rằng tại những cơ sở Công giáo, cờ Vatican cũng bị xử dụng một cách không thích hợp. Dựa trên những dữ kiện như thế, Tổng thống VNCH quyết định phải qui định chuyện treo cờ như thế nào và qui định nơi danh dự dành cho cờ của Quốc gia, biểu tượng cho Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam. Những chỉ thị phát xuất từ quyết định này sau đó đã được gởi xuống Bộ Nội Vụ, bộ này mãi từ 1962 đã qui định xong chuyện treo các loại cờ ở những nơi thờ phượng trong những lễ lạc tôn giáo.

Vào ngày 6.5 vừa rồi, trong một thông tư, Tổng thống VNCH đã kêu gọi dân chúng chú ý đến những qui định treo cờ này đồng thời ghi rõ rằng ở những nơi công cộng người ta có thể treo cờ Quốc gia, và rằng trong khuôn viên những nơi thờ phượng, nghĩa là, thánh đường và chùa chiền, cờ và huy hiệu của mỗi tôn giáo có thể treo tùy ý. Cũng cần nhấn mạnh rằng, trước khi gởi thông tư này, Tổng thống VNCH trước đó đã xin và đã được các vị đứng đầu Tổng hội Phật giáo Việt Nam và Tông phái Tăng già* Sài Gòn một bên, và, một bên khác khâm sứ Toà Thánh (Vatican) ở thủ đô đồng ý.

Như thế quyết định của Chính phủ liên can tới vấn đề treo cờ được áp dụng cho mọi tôn giáo mà không phân biệt gì cả.

Các vị đại diện cho Tổng hội Phật giáo Việt Nam ở Sài gòn đã vui lòng tuân thủ qui định này và năm nay, nhân ngày Lễ Phật đản, tín đồ Phật giáo đã không treo cờ Phật giáo trước chùa Xá Lợi ở Sài Gòn vốn là trụ sở chính của Tổng hội này.

Nếu chuyện rắc rối này không xảy ra vào dịp đó, thì cơn khủng hoảng Phật giáo tất sẽ không xảy ra, Chính phủ Việt Nam sẽ không phải tốn phí nhiều thời giờ mà Chính phủ ưu tiên để chống Cộng sản, và những Chính phủ ngoại quốc nào đó sẽ không xen lấn vào một chuyện thuần tuý nội bộ Việt Nam Cộng Hoà.

Thật không may, ngày truớc ngày Lễ Phật đản, những việc đổ bể đáng tiếc đã xảy ra ở Huế hoàn toàn chỉ vì chuyện treo cờ tại các chùa. Khi Chính phủ ngay trước ngày lễ đã kêu gọi dân chúng chú ý tuân thủ những qui định này, Chính phủ đã không phải không biết rằng đại Lễ Phật đản này đã gần kề; mà còn biết rằng Lễ Chúa Lên Trời (của Kytô Giáo, trong đó có Công giáo) sẽ đến sát sau Lễ Phật đản. Như thế, những chỉ thị này không chỉ nhắm vào tín đồ Phật Giáo.

Dẫu sao đi nữa, những hành sử này đã bị hiểu sai bởi một số giới Phật tử nhất định, những người này coi những hành sử này là hành vi xử tệ với họ. Những phần tử quá khích do đó tung ra một chiến dịch dựa trên những diễn dịch đầy thiên vị về những sự kiện trên đây nhằm mục đích đầu độc tâm trí những tín đồ Phật giáo, tạo sức ép nặng nề trên chư vị sư sãi đáng kính, và dấy động lên một phong trào bất phục tùng dân sự, dưới danh nghĩa “đấu tranh chống lại sự đàn áp Phật giáo” và “bảo vệ Đạo pháp”.

Trong những hoàn cảnh như thế, một đám rước và một cuộc tụ tập được tổ chức sáng đó nhằm tôn kính Đức Phật đã biến thành một cuộc biểu tình và tụ tập với những biểu ngữ có nội dung chống Chính phủ. Và đêm hôm đó một cuộc biểu tình khá dữ dội hơn đã diễn ra tại đài phát thanh Huế. Các phần tử Cộng sản đã lợi dụng cơ hội ném 2 kíp chất nổ làm chết 8 người, trong đó có nhiều đứa trẻ và một cô gái Công giáo.

* Còn gọi là Tông Phái.

Cuộc đấu tranh dưới nhãn hiệu “Bảo vệ Phật giáo”

Tiếp theo cuộc xô xát đẫm máu này, những kẻ quá khích bắt đầu những hoạt động có mục đích đặc biệt là gieo rắc bất ổn. Như sẽ được làm sáng tỏ sau này, những kẻ này đã âm mưu cấu kết với Cộng sản. Từ Huế cho đến Sài gòn, một chiến dịch sách động đã bắt đầu. Mục đích của phong trào này là quấy lên trong dân chúng sự bất mãn đối với Chính phủ.

Trong bối cảnh như thế, tưởng cũng cần nhắc lại là đã có một qui định có hiệu lực từ nhiều năm nay và được nghiêm khắc áp dụng trong tình trạng khẩn trương hiện tại của Việt Nam, đó là tất cả các cuộc nhóm họp đông người trong tư gia cũng như các trụ sở hội và tất cả những tụ tập nơi công cộng, người ta phải xin phép trước với các nhà chức trách địa phương; cũng trong cùng qui định đó đòi hỏi rằng tất cả các biểu ngữ, khẩu hiệu đều phải xin và được chấp thuận trước bởi một Ủy ban đặc biệt trước khi đem ra xử dụng.

Những kẻ lãnh đạo Phật giáo, những kẻ đã thi hành chiến dịch kích động không phải là không biết qui định đó, nhưng họ không quan tâm tới điều đó và họ đã đốc thúc tín đồ của họ đi biểu tình ngoài đường phố, tụ tập và phân phát sách mỏng mà không thèm đếm xỉa gì đến luật pháp Quốc gia.

Những hành động phi pháp này đã không bị trừng phạt. Chính phủ đã bỏ qua cho họ cho tới ngày họ vượt qua mọi giới hạn, và do đó có cơ đe dọa một cách nguy hiểm tới an ninh và trật tự công cộng. Tới nước đó, cảnh sát phải can thiệp, và những kẻ gây rối đã khai thác điều này và ồn ào tố cáo là Chính phủ đàn áp Phật giáo. Mặc dù các chức trách địa phương đã có thái độ kiên nhẫn và hòa giải, chiến dịch kích động chống Chính phủ vẫn tiếp tục càng ngày càng mạnh. Ở Huế, Sài gòn và các tỉnh duyên hải Miền Trung các nhà sư bắt đầu thách thức thẩm quyền của Chính phủ một cách công khai. Họ phát hành những thông tư, chỉ thị cho các chùa, phát sách mỏng cho dân chúng, gởi điện tín ra nước ngoài. Họ làm tất cả các điều đó với đích nhắm là khuấy động dư luận trong nước cũng như quốc tế.

Nhằm làm yên lòng dân và kiếm một giải đáp cho vấn đề này, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đã tiếp kiến Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Tăng thống Tông phái Tăng già khất sĩ Việt Nam (Đúng ra Tăng thống vào thời kỳ này là Hòa thượng Thiện Luật 1961-1965). Trong cuộc hội kiến này, Phái bộ đã trình ra Năm Nguyện Vọng, Những nguyện vọng này được xem xét ngay và đã được Tổng thống trả lời một cách thoả đáng.

Năm Nguyện Vọng này cũng đáng để xem xét một cách thấu đáo hơn ở đây:

Nguyện vọng1: Yêu cầu Chính phủ thâu hồi lại lệnh hạ cờ Phật giáo.

Thực ra, Chính phủ chưa hề ra một lệnh như thế. Như đã được nêu ra trên đây, mục đích của Chính phủ trong quyết định liên quan tới việc treo cờ trong những nơi thờ phượng, đó là chấm dứt sự lạm dụng cờ tôn giáo và bảo đảm sự tôn trọng thích đáng cho cờ Quốc gia. Huy hiệu của Tổng hội Phật giáo và quốc huy của Vatican phải ở vị trí kiêm nhường hơn quốc huy của Tổ quốc trong các nơi công cộng. Dẫu sao đi nữa Tổng thống vẫn đồng ý xem xét lại chuyện treo cờ này.

Nguyện vọng 2: Rằng Phật tử phải được hưởng các qui định như đã dành cho các Hiệp hội truyền giáo Công giáo.

Với những lời lẽ như thế, nguyện vọng này có thể bao hàm rằng Chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm ưu đãi Công giáo và bắt Phật giáo chịu thiệt thòi. Thực ra sự thành lập các hiệp hội mang tính tôn giáo (chứ không phải chính tôn giáo – ND) và hiệp hội đời đã được qui định bởi Dụ số 10 ban hành ngày 6.8.1950 dưới thời Chính phủ Bảo Đại.

Với Dụ này các hiệp hội được phép mua hay nhận và giữ các bất động sản, và được phép nhận các khoản hiến tặng và cúng dường, vv. Điều 44 của Dụ này có nói rằng các qui định đặc biệt sẽ được soạn ra một cách kỹ hơn sau này cho các bang Hoa kiều (và các hội truyền giáo Công giáo và Tin lành), có nghĩa là, cho các hiệp hội dù đạo hay đời; làm như thế là nhằm giới hạn sự chiếm hữu các bất động sản của người ngoại kiều, và bảo toàn sự độc lập của Quốc gia. Những biện pháp được đưa ra trong Dụ này tới nay vẫn chưa được hồi lại. Dẫu sao đi nữa, những biện pháp này nằm trong thẩm quyền của ngành lập pháp, và mỗi công dân có quyền yêu cầu Quốc hội xét lại chúng.

Các qui định đặc biệt này được đưa ra sẽ không nhất thiết có nghĩa là chỉ ưu đãi trước tiên các hội truyền giáo Công giáo và Tin lành. Hơn nữa, trong thực tế, Chính phủ (của vua Bảo Đại và của Tổng thống Ngô Đình Diệm) đã và đang không bắt buộc nhất định phải tuân thủ Dụ số 10 khi liên quan các hiệp hội mang tính tôn giáo thuần túy.

Riêng đối với Phật giáo, Chính phủ đã du di rất nhiều; bằng cớ là hàng trăm chùa đã được xây dựng mà chẳng có vị nào thông báo cho chính quyền sở tại, xin chấp thuận, hay cho biết chút gì về chuyện xây dựng chùa chiền của các vị đó.

Rất thường là những chùa này, mà bên ngoài xem ra có vẻ cùng chung một mối, thực ra chỉ đứng đó dưới danh hiệu Đức Phật và lớp áo cà sa, nhưng chẳng có những mối giây ràng buộc nào giữa các chùa với nhau. Hiện nay có nhiều chùa và nhiều phái Phật giáo hoàn toàn khác nhau trong lễ nghi cúng tế và hoàn toàn không phải là chi nhánh của Tổng hội Phật giáo.

Thực ra, từ khi công bố Dụ số 10, Chính phủ đã áp dụng những khoản bắt buộc của Dụ có liên quan tới các hiệp hội thuộc các tông phái, mà hoạt động thì lại mang tính chất của những nhóm nhuốm màu xã hội ngoài đời – những nhóm như “Phật giáo phụng sự xã hội” chẳng hạn. Chẳng bao giờ có chuyện dùng Dụ này nhằm xử tệ với bất cứ tôn gíao nào.

Cũng nên ghi nhận là từ 1949, nghĩa là, hơn 10 năm nay, không một hiệp hội thuộc các tông phái nào, Công giáo, Phật giáo lại càng không, nêu lên những vấn đề có liên quan tới Dụ này.

Dẫu sao đi nữa, để đáp ứng nguyện vọng của Phái bộ Phật giáo, Tổng thống VNCH đã chỉ thị Bộ Nội vụ liên lạc với ngành lập pháp để tu chính Dụ số 10, và Quốc hội đã ngay lập tức thiết lập một uỷ ban đặc biệt để xem xét toàn thể vấn đề này, đối với các hiệp hội truyền giáo.

Nguyện vọng 3: Yêu cầu Chính phủ chấm dứt chuyện bắt bớ và bức hại Phật tử.

Khi trình bày kiểu như thế, nguyện vọng này có vẻ ngụ ý rằng Chính phủ chủ trương chính sách bức hại và đàn áp Phật giáo.

Trong thực tế, Chính phủ không hề đã và đang bắt bất cứ Phật tử nào chỉ vì họ là một Phật tử. Đó là lý do tại sao Tổng thống tuyên bố với Phái bộ rằng Chính phủ có bổn phận phải bảo vệ quyền lợi cao hơn của Quốc gia và do đó bó buộc phải dùng những biện pháp cần thiết để giữ vững an ninh và trật tự công cộng và rằng Chính phủ chẳng bao giờ ra lệnh bắt Phật tử chỉ vì họ là Phật tử, và nếu có bằng cớ đủ thuyết phục nào về những bắt bớ phi pháp, Chính phủ sẳn sàng xem xét.

Nguyện vọng thứ 4: Rằng các sư sãi Phật giáo vả tín đồ phải được phép hưởng tự do cúng tế và tự do hoằng pháp.

Tổng thống đã nhắc nhở rằng tự do tôn giáo đã được ghi trong chính Hiến pháp, và tự bản thân ông, ông không hề ưu đãi bất cứ tôn giáo đặc biệt nào. Bằng cớ cho sự tự do này là người ta có thể thấy khắp mọi nơi, từ thành phố đến thôn quê, Chính phủ đã để cho các vị lãnh đạo Phật giáo ở mọi miền tự tổ chức đoàn thể của họ và để cho các vị xây dựng nhiều chùa chiền; đặc biệt Chính phủ đã hỗ trợ việc này. Nếu Phái bộ Phật giáo có bằng chứng vi phạm tự do tôn giáo, Chính phủ sẽ sẵn sàng xem xét.

Nguyện vọng năm: Rằng Chính phủ phải bồi thường cho những gia đình nạn nhân trong những vụ biến động ở Huế và trừng trị nghiêm khắc những kẻ có trách nhiệm.

Trong thực tế, các nạn nhân không phải tất cả là Phật tử, bởi vì có một nạn nhân là người Công giáo. Chính phủ đã trợ giúp tất cả gia đình có trực tiếp lên hệ đến nạn nhân, như Chính phủ đã từng làm như thế trong quá khứ trong những trường hợp tương tự.

Còn đối với lời cáo buộc rằng Chính phủ đã ra lệnh giết các người biểu tình bằng xe tăng, đại bác, súng trường và lựu đạn, lời cáo buộc này là một sự vu khống hoàn toàn. Theo những dữ kiện tìm ra được bởi các chuyên viên y khoa, thì các vết thương trên cơ thể của các nạn nhân gây ra bởi các kíp chất nổ, loại chất nổ này Quân đội và các Lực lượng an ninh của Việt Nam không xử dụng, chỉ có Cộng sản mới sử dụng. Dẫu sao, Tổng thống đã ra lệnh điều tra để xác định trách nhiệm thuộc về ai trong trường hợp này.

Các biện pháp sẽ mau chóng đem ra thi hành để giải quyết một cách êm đẹp Năm Nguyện Vọng này theo những đường hướng kể trên, trong khi, trong một số nhóm Phật giáo, có người đã lên tiếng phản đối tính chất đại diện của Phái đoàn Phật giáo đã được Tổng thống tiếp kiến. Do đó, Chính phủ phải đợi các người cầm đầu của Tổng hội Phật giáo lập một Phái đoàn Phật giáo mới với thẩm quyền cần thiết cho cuộc tái thương thảo.

Trong khi đó, viện cớ rằng Chính phủ đang cản trở, Tổng hội Phật giáo đã kích động các nhà sư, các ni cô từ các chùa tổ chức các cuộc biểu tình đông người dưới hình thức những đám rước tôn giáo trên đường phố để cầu siêu cho những nạn nhân trong biến cố ở Huế mặc dầu những đám rước như thế không được các thẩm quyền cảnh sát cho phép.

Sau sự cố ý coi thường luật pháp Quốc gia và những lời dạy của Đức Phật, một số thượng toạ đã tách khỏi nhóm của Tổng hội Phật giáo hầu thoát khỏi sự kềm toả của những phần tử quá khích.

Bắt đầu từ ngày 5.5.1963, và hầu như toàn quốc, một phong trào tuyệt thực xuất hiện trong những nhóm thầy tăng và ni cô, phong trào này được toan liệu để gây chấn động các thiện nam tín nữ mà đa số là đàn bà và trẻ em.

Những sự liều lĩnh trong một phong trào như thế là nhằm gây những hiệu ứng xấu trong dân chúng. Do đó, để an lòng dân, ngày 6.6.1963, Tổng thống VNCH đã kêu gọi toàn dân Huế phải suy nghĩ thật sâu xa về lợi ích Quốc gia cũng như nhiệm vụ của mỗi công dân là phải giữ gìn trật tự công cộng và tôn trọng kỷ luật Quốc gia.

Chính phủ sau đó đã chỉ định một Ủy ban liên bộ, cầm đầu bởi Phó Tổng thống VNCH và bao gồm cả Bộ trưởng Bộ Nội vụ mở cuộc thương thảo với Uỷ ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo đã được thành lập đầu tháng 6.1963. Thực ra Ủy ban này chỉ đại diện cho một vài nhóm Phật giáo. Một số nhóm khác đứng ngoài.

Trong khi còn trao đổi quan điểm như thế giữa Uỷ ban Liên bộ và Uỷ ban Liên phái và chưa đạt được một sự thỏa thuận nào, thì Tổng hội Phật giáo dẫu sao đi nữa vẫn cứ tiến hành chiến dịch đầu độc và tổ chức cuộc tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức ngày 11.6.1963, với mục đích gây áp lực với chính Chính phủ, gây ra sự bất ổn trong dân chúng và khuấy động dư luận thế giới.

Chính Tổng thống đã xúc động sâu xa bởi diễn biến không hay này và sự kích động không đáng, không cần thiết này, và Tổng thống đã lại kêu gọi toàn dân phải bình tĩnh nhìn lại tình và xem xét mọi vấn đề không xốc nổi và với một lòng yêu nước. Tổng thống cũng trấn an mọi người rằng bất cứ vần đề gì, dù khó khăn đến mấy, cũng có thể giải quyết được trong tinh thần công lý và đoàn kết giữa anh em với nhau, và rằng Chính phủ chẳng có mưu đồ trì hoãn sự giải quyết vấn đề, cũng như rắp tâm bức hại Phật tử.

Mặc dầu có những nỗ lực cần mẫn của Ủy ban Liên bộ, người ta phải chờ đợi Thượng toạ Thích Tịch Khiết, Tăng thống Tổng hội Phật giáo đến từ Huế ngày 12.6.1963 trước khi có thể đạt được một kết quả chung cuộc.

Vào ngày 6.6, một Thông cáo chung (xem phụ lục XIV) được ký kết giữa Ủy ban Liên bộ và Phái đoàn Phật giáo nhằm giải quyết cho xong Năm Nguyện Vọng. Thực ra, Thông cáo chung bao này gồm những điều khoản rõ ràng không khác những biện pháp đã được Tổng thống VNCH thấu đáo suy nghĩ trong cuộc hội kiến với Phái bộ Phật giáo đầu tiên ngày 5.5.1963.

Chính vì thế trong một Thông cáo chung Tổng thống đã ký phê chuẩn kèm theo ghi chú: “Những điều khoản trong thông cáo chung này đã được tôi tán thành trên nguyên tắc từ đầu.”

Căn cứ theo Thông cáo chung này, Ủy ban Liên bộ được giao cho nhiệm vụ thi hành Thông cáo chung này và Tổng hội Phật giáo có nhiệm vụ thông báo những vi phạm những điều đã quy định trong Thông cáo chung mà Ủy ban có thể khám phá ra.

Sự xung đột xoay chiều thành sự xách động chính trị – Sự nghiêm trọng của cơn khủng hoảng – Sự tăng cường độ của những hoạt động chống Chính phủ

Tiếp theo sau Thông cáo chung đưa ra, mọi ngưởi, cả phía Chính phủ lẫn dân chúng, có thể cảm thấy được thoả mãn vì rằng mọi sự hiểu lầm đã được hóa giải, cuộc tranh chấp cuối cùng được giải quyết ổn thỏa. Nhưng rồi một số sư sãi thuộc Tổng hội Phật giáo tiếp tục kích động dân chúng làm những chuyện phi pháp với mục đích rõ ràng là để ngăn chặn sự thi hành Thông cáo chung, tăng cường và mở rộng chiến dịch kích động ra toàn thể lãnh thổ Quốc gia.

Những người sùng đạo quá khích này đã cương quyết và dữ dội chỉ đạo một âm mưu chống lại Chính phủ bằng tất cả các phương tiện hiện có: phân phát các trích đoạn từ một tờ báo nước ngoài chứa thông tin sai lệch chỉ trích Chính phủ, phân phát sách mỏng với thông tin bóp méo sự thật, tổ chức tuyệt thực, tung ra các lời kêu gọi được lặp đi lặp lại nhiều lần khuyến khích công nhân và thương nhân ngừng mọi hoạt động, thậm chí kích động sinh viên học sinh đình công. Trong cơn phấn khích của những lời bình luận nặng phỉ báng, và thậm chí xúc phạm, họ cáo buộc các nhà chức trách đang thi hành một chính sách hận thù, tàn ác và áp bức đối với Phật giáo.

Sợ rằng sự kéo dài tình trạng này chỉ có thể làm hại đến an ninh và trật tự công cộng, đau đáu muốn một lần nửa chứng tỏ thái độ hòa giải hết mình và thiện chí của Chính phủ, Tổng thống VNCH, trong một lời hiệu triệu mới gởi quốc dân ngày 18.7.1963, đã kêu gọi thành lập một Ủy ban Liên hợp gồm đại biểu của Ủy ban Liên bộ và Uỷ ban Liên phái để giám sát sự thi hành Thông cáo chung. Sự thiết lập một Ủy ban hỗn hợp như thế sẽ đánh bật khỏi dư luận quần chúng sự hiểu lầm là Chính phủ không tôn trọng những cam kết trong Thông cáo chung.

Sau đó, Ủy ban Liên bộ đã nhiều lần đề nghị Uỷ ban Liên phái gặp nhau để lập ra một Ủy ban Liên hợp, nhưng Uỷ ban Liên phái lần này tới lần khác cố né tránh sự việc này và từ chối cộng tác. Trái lại, họ kiên trì giữ cho cuộc đấu tranh sống mãi, một cuộc đấu tranh mà mỗi ngày qua đi mang đến những hậu quả xấu hơn.

Ở Huế, Sài Gòn và Nha Trang và tại các chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Bát Nhã, Uỷ ban Liên phái tổ chức những cuộc tụ họp chống Chính phủ, lập những văn phòng để tuyển dụng và huấn luyện các chiến sĩ Phật giáo, và gây quỹ phòng một cuộc đấu tranh lâu dài. Ở chùa Xá Lợi, một nữ sinh chặt bàn tay. Ở Huế, Ninh Thuận, Khánh Hòa… những cuộc tự thiêu liên tiếp xảy ra y như chương trình đã định trước của họ. Tiếp theo sau mỗi cuộc hi sinh thân mình kiểu đó, người ta lại tổ chức các cuộc biểu tình và lễ cầu siêu cho các nạn nhân này với mục đích chụp ngay cơ hội và khai thác sự thiện cảm thơ ngây của học sinh, sinh viên, đặc biệt ở Huế, hầu kích động bạo loạn khắp nơi, và giữ cho dài lâu một tình hình căng thẳng. Họ gởi điện tín ra nước ngoài với nội dung bóp mép sự thật và vu khống Chính phủ với hậu ý để gây nên một sự bất bình trên thế giới đối với Chính phủ, đặc biệt trong những nước Phật giáo.

Để có một ý tưởng chính xác về tình trạng bùng nổ này, người ta phải nhớ rằng sự khủng hoảng Phật giáo làm nhà cầm quyền Việt Nam phải lo lắng và làm cho nhà cầm quyền bó buộc phải trải mỏng những nỗ lực của mình một cách nguy hiểm, và cơn khủng hoảng này lại xảy ra vào lúc mà Chính phủ VNCH đang vừa bước vào một giai đoạn một sống một chết trong cuộc đấu tranh chống lại Cộng sản.

Xuyên qua suốt giai đoạn căng thẳng cùng cực, các lực lượng hành quân Việt Nam đã từng tịch thu được nhiều tài liệu quan trọng phanh phui ra rằng có một sự hợp tác bí mật giữa những phần tử quá khích Phật giáo và bọn Cộng sản, cũng như một chương trình tiến hành một cuộc đảo chánh.*

Bộ Tổng tham mưu Quân đội VNCH đã được báo động, và đã khẩn khoản yêu cầu tuyên bố đặt Đất Nước trong tình trạng khẩn trương nhằm ngăn chặn bất cứ cố gắng tạo loạn nào có thể xảy ra.

*Phái bộ đã đòi Chính phủ giao bằng cớ và tài liệu tịch thu này và Chính phủ đã đồng ý, nhưng khi cuộc điều tra của Phái bộ gần xong, thì xảy ra đảo chánh, do đó chuyện Chính phủ giao những tài liệu từ không thực hiện được.

Nhu cầu tuyên bố tình trạng khẩn trương

Do đó, trong giai đoạn từ ngày 8-19.8.1963, diễn ra 159 cuộc biểu tình: 25 ở Huế, 32 ở Sài Gòn, 10 ở Đà Nẵng, 8 ở Quảng Trị, 7 ở Quảng Nam, 18 ở Quảng Ngãi, 13 ở Nha Trang, vv.

Chiến dịch xách động chính trị và đầu độc tâm trí người dân được sự hỗ trợ trong Nước và ngoài Nước, bởi bộ máy tuyên truyền vĩ đại và khoa học của Cộng sản, và bởi một số phái viên đặc vụ nước ngoài; chiến dịch này đã đạt đến tột đỉnh vào ngày 8.8: Các người lãnh đạo Phật giáo đã công bố một bản tối hậu thư gởi Chính phủ trước một đám đông 20 000 người tụ tập trước chùa Xá Lợi (xem thư số 162, đề ngày 16.8, Thượng toạ Thích Tịnh Khiết gởi Tổng thống VNCH).

Một mặt khác, theo một chương trình dứt điểm, các lãnh tụ Phật giáo sẽ dàn ra những cuộc biểu tình đẫm máu, những cuộc biểu tình như thế sẽ diễn ra tuần tự trước sau, với một nhịp độ nhanh trong nhiều tỉnh khác nhau và địa phương chính từ Huế tới Sài gòn, đó là Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hoà, Bình Thuận…

Để đương đầu với những nguy hiểm có thể xảy ra như thế, các tỉnh Trung phần Việt Nam có lẽ sẽ phải yêu cầu Sài gòn gởi cảnh sát tăng viện (cả cảnh sát dân sự lẫn cảnh sát dã chiến). Điều này có lẽ sẽ dẫn tới hệ quả là ở thủ đô sẽ thiếu những đơn vị vốn đóng ở đó với nhiệm vụ gìn giữ anh ninh và trật tự công cộng trong khi Việt Cộng lại đang sửa soạn tung những cuộc tấn công mới vào Sài gòn và ném lựu đạn trên đường trong lúc những cuộc biểu tình bạo loạn đông người đã được hoạch định trước, xảy ra.

Trước sự đe dọa trầm trọng cho nền an ninh trong Nước tạo ra bởi một nhóm nhỏ những người đã và đang lợi dụng tôn giáo cho mục đích chính trị, và trước vết nứt càng ngày càng rộng giữa những thành phần bị đầu độc trong đám dân thị thành và chính quyền, những kẻ mà long kiên nhẫn đã cạn, sự hiểm nguy về một sự tan rã của những lực lượng chiến đấu anh dũng của Quốc gia, và chiều hướng có thể mất đi những kết quả đã đạt được của Quân đội – nhờ có chương trình ấp chiến lược, Quân đội đã ghi được chiến thắng này sau chiến thắng khác – Quân đội, được đại diện bởi những chỉ huy có tinh thần trách nhiệm, đã chính thức tán thành và chấp nhận vào ngày 14.6 một nghị quyết bao hàm đường lối hành động đáp ứng hoàn toàn lời kêu gọi của Tổng thống ngày 11.6 và quyết định sẽ thi hành mọi nhiệm vụ mà Tổng thống sẽ ủy thác cho Quân đội để bảo vệ nền Cộng hoà và Đất Nước.

Trong nghị quyết thứ 2 được chính thức tán thành và chấp nhận ngày 20.8.1963, mọi tướng lãnh của Quân đội có cùng một mục đích trước mắt, đó là bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu Nguyên thủ Quốc gia, tuyên bố ngay tình trạng khẩn trương trên toàn quốc hầu tiêu diệt mọi thủ đoạn, mọi phá hoại và hướng nỗ lực của Quốc gia vào nỗ lực chống Cộng sản.

Trong khi đó, MTGPMN, một dụng cụ của Đảng Cộng sản Đông Dương, lợi dụng tình hình, điều động quân đội chính qui của họ vào vành đai Sài Gòn, trong khi cán bộ Cộng sản bắt đầu vận động dân chúng thị thành, đặc biệt dân trong vùng Tây Bắc thành phố này.

Do đó, Chính phủ bó buộc phải tuyên bố tình trạng khẩn trương trên toàn lãnh thổ Quốc gia và áp dụng một số biện pháp mạnh, như phải giám sát một số chùa ở Sài gòn, Huế và một số trọng điểm khác, và theo dõi vô thời hạn một số sư sãi.

Quân đội đã tìm ra trong một số chùa một số lớn vũ khí và tài liệu quan trọng, điều này chứng tỏ rằng những sư sãi quá khích đang theo đuổi một mục đích chính trị với sự trợ giúp từ Việt Cộng một bên, và bên kia từ những nhóm chính trị đối lập.

Do đó, những biện pháp được đưa ra xử dụng này, mặc dầu mạnh mẽ và triệt để, nhưng không gây ra đổ máu hay tổn thất nhân mạng. Điều này cho thấy những biện pháp này là cần thiết khi nhìn vào tình hình hiện tại, trên hết và lúc này khi Nước Việt Nam phải tập trung mọi nỗ lực để chiến đấu chống Cộng sản.

Với tình trạng khẩn trương này, Quân đội đã thành công lấy lại an ninh, đem lại sự tĩnh lặng cho chùa chiền, và giải thoát các vị sư, ni cô khỏi vòng kiềm toả của những sư sãi quá khích.

Những vị sư trưởng của Tông phái Tăng già khất sĩ, những vị trước đây đã rút tên khỏi sự thỏa thuận, đã xuất hiện trở lại để nắm quyền lãnh đạo phật sự với tâm nguyện phục vụ Phật giáo nguyên thủy. Một Ủy ban có tên “Ủy ban Đoàn kết Bảo vệ Phật giáo Nguyên thủy” đã được thành lập để đạt mục đích này, và để cộng tác với Chính phủ trong việc áp dụng những điều khoản bao hàm trong Thông cáo chung ngày 16.6.1963.

Trên toàn quốc những cuộc biểu tình đã được tổ chức bởi các nhóm Phật giáo, những nhóm chuyên môn cũng như nhóm dân thường, và bởi mọi tầng lớp xã hội để biểu lộ lòng tin tưởng và ủng hộ Chính phủ. Ở Huế, hơn 80 000 người, ở Sài gòn hơn 200 000 người, và trong những tỉnh lớn hàng chục ngàn người tụ tập để tố cáo những kẻ phản bội Đất Nước và đã thỏa thuận và chấp nhận những nghị quyết chung biểu lộ lòng biết ơn gởi lên Tổng thống VNCH.

Kết luận

Với một sự xem xét kỹ càng những sự kiện khách quan người ta phanh phui ra được rằng vụ Phật giáo này có ít tính chất tôn giáo, và rằng nhân tố chính trị chiếm phần lớn, đặc biệt ở chặng phát triển cuối của Vụ Phật giáo.

Vụ này có dáng dấp tôn giáo vì các thầy chùa và ni cô xuất hiện trong quang cảnh này và một số chùa chiền bỗng nhiên biến thành những cái đinh cho sự chú ý. Nhưng vụ khủng hoảng này mang tính chính trị một cách không chối cãi được, chiếu theo những tang vật, bằng cớ Quân đội và Cơ quan tình báo thu thập được. Những tay phiến loạn dưới mọi nhãn hiệu (những kẻ đầu cơ chính trị dưới lớp áo thầy chùa, những kẻ chống đối chế độ này, bọn Cộng sản…) thao túng riêng rẽ hay hùa bầy, đã lợi dụng những sự việc tự thân là vụn vặt nhằm cố gắng vận động dân chúng và dư luận thế giới chống lại Chính phủ. Bọn chúng đã thành công trong việc tạo được một tình trạng căng thẳng nhất định nào đó trong sinh hoạt Quốc gia và họ cố giữ tình trạng căng tình trạng căng thẳng này kéo dài và làm căng đến mức tột cùng trong một nỗ lực tạo nên một tình trạng rối loạn và sự mất an ninh rộng lớn, thuận lợi cho một cuộc đảo chánh. Thật may mắn, Quân đội Cộng hoà đã theo dõi sát những diễn biến và can thiệp kịp thời để cửu vãn tình hình và phục hồi trật tự công cộng vì lợi ích lớn lao cho cuộc chiến đấu chống Cộng sản.

Và vẫn còn chuyện đáng tiếc là trong lúc dầu sôi lửa bỏng như thế, một số cơ quan thông tấn ngoại quốc, ngay từ đầu vụ này đã bị thông tin sai lạc, nên đã vô tình hay cố ý, đầu độc một phần dư luận quốc tế.

Lời họ tố cáo Chính phủ VNCH không khoan dung trong vấn đề tôn giáo là chuyện phi lý. Thật khó mà tưởng tượng ra rằng Chính phủ này, vốn được điều khiển bằng Hiến pháp dân chủ cao độ và đã hãnh diện là Đất Nước này thuộc khối Thế giới tự do, lại có thể tự cho phép mình làm một việc phi pháp chống lại sự tự do tín ngưỡng.

Ở Việt Nam, không ai mà không biết rằng từ khi Tổng thống Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, sự hoằng pháp và hành đạo luôn dược diễn ra trong tự do ở thị thành cũng như thôn quê. Chỉ tính riêng Phật giáo, đã có 1.275 ngôi chùa được xây mới đây (tổng số chùa hiện có: 4.766), dữ kiện này cũng đủ chứng tỏ một cách hùng hồn về sự tự do tôn giáo ở trong Nước chúng tôi. Ngoài ra còn có 1.295 ngôi chùa đang được tái thiết hay sửa chữa lại. Để được như thế, Chính phủ đã hỗ trợ mặt tài chánh với 9 triệu đồng Việt Nam, chia cho chùa điền thổ từ bất động sản thuộc Quốc gia hay thuộc làng xã, và cung cấp vật liệu xây dựng.

Trong khi hành xử quyền hành, Chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm đã liên tục tôn trọng những điều khoản hiến định, nhất là những điều khoản về quyền làm người, và người ta có thể khẳng định rằng chẳng bao giờ có chuyện bức hại Phật giáo hay xử tệ.

Thực ra, “Vấn đề Phật giáo” chỉ là sự khủng hoảng của một Phật giáo đang lớn lên với Đất Nước, một cơn khủng hoảng mà những kẻ thù của dân đã và đang lợi dụng để khai thác hòng thủ lợi cho phía chúng. Nếu người ta theo dõi sát sự tiến triển của Phật giáo ở Việt Nam, người ta phải thấy rằng, trong những năm gần đây, tôn giáo này đã phát triển nhanh chóng đến nỗi chính những người lãnh đạo Phật giáo đã xuất hiện trước công chúng như những kẻ không có khả năng tương ứng để hành xử vai trò lãnh đạo của mình, đặc biệt trong lãnh vực đào tạo các sư sãi và lãnh vực trị sự. Những vết hoen càng ngày càng lớn trong một môi trường chậm tiến lại càng đáng quan tâm hơn vì không có sự liệt kê nào liên quan tới sự giám sát nhân viên, tới khả năng học vấn của các sư sãi, ni cô, các tiểu chùa, những người còn cần phải được đào tạo nghiệp vụ nhiều hơn nữa.

Tới lúc này, người ta có thể khẳng định rằng chiến dịch làm loạn của kẻ địch của chúng tôi đã và đang thất bại trong thành thị. Chúng tôi chỉ đề cập đến thành phố ở đây là vì thôn quê và đặc biệt những ấp chiến lược đã và đang đứng vững. Nhờ có đường lối quản trị mới và những tổ chức xã hội trong những ấp chiến lược này, dân chúng tiếp tục sống một cuốc sống đầy tĩnh táo và đầy cảnh giác và giữ vững lập trường kiên định chống lại bất cứ mọi hành động rắp tâm đánh đổ phát xuất từ bất cứ đâu.

Chính phủ đã và đang đánh tan mọi tổ chức bí mật, những tổ chức mà những hoạt động của chúng đã đầu độc tâm trí của các vị sư sãi và các sinh viên. Chính phủ đã ra lệnh mở lại các chùa chiền, những nơi mà trước đây đã tạm thời bị giám sát. Chính phủ đã cho phép những sư sãi bị bắt được trở về nơi thờ tự của họ và cũng đã trả về cho cha mẹ những sinh viên bị bắt.

Chính phủ tự thấy mình có quyền hi vọng rằng các bạn bè của Việt Nam sẽ giúp Chính phủ làm cho công luận của Thế giới Tự do hiểu biết rõ rằng Vụ (Phật giáo) này, mà Chính phủ đã suy nghĩ cân nhắc để giải quyết, nay đã được giải quyết ổn thỏa.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close