Dụ số 10: Vọng ngữ và ác nghiệp! – Lữ Giang: Cựu thẩm phán VNCH Nguyễn Cần

Vọng ngữ và ác nghiệp!

Lữ Giang

DU 10
Trang 1 của dụ số 10

 

Câu chuyện Dụ số 10 được Bảo Đại ban hành ngày 6.8.1950 được các nhà lãnh đạo đấu tranh Phật Giáo 1963 nêu lên như một bằng chứng “kỳ thị tôn giáo” đã được trả lời trong bản phúc trình điều tra của phái đoàn Liên Hiệp Quốc năm 1963, nhưng thỉnh thoảng lại được một vài cao tằng của Phật Giáo, “đại sử gia” hay đám lau nhau nhắc lại như một “bằng chứng lịch sử” để biện minh cho cuộc đấu tranh cướp chính quyền thất bại của Phật Giáo dưới thời VNCH.

Ngày 17.1.2010, Hoà Thượng Quảng Độ đã lấy tư cách Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN, gởi Thông Tư số 07/VHĐ/VT đến các chư Tôn đức Tăng Ni và Đồng bào Phật tử nói về “hiện trạng vu khống, chụp mũ hàng Giáo phẩm GHPGVNTN lưu hành trên Mạng và các cơ quan truyền thông”, trong đó có nói rằng “Dụ số 10 tồn tại từ thời thực dân Pháp xem Phật giáo như một hội đoàn, với nhiều kỳ thị, ức chế dưới thời đệ nhất Cộng hoà.”

Khởi đầu bằng bài “Bằng chứng tự thú” phổ biến ngày 9.3.2010, chúng tôi đã đưa ra đầy đủ bằng chứng để bác bỏ những quy trách của Hòa Thượng, kể cả quy trách Dụ số 10 “kỳ thị tôn giáo”. Hòa Thượng không trả lời được các phản chứng của chúng tôi. Trước đó, chúng tôi cũng đã phản bác các luận điệu tương tự của Hòa Thượng Chơn Thành ở Garden Grove và “đại sử gia” Trần Gia Phụng ở Canada. Nhưng thỉnh thoảng đám lau nhau lại nhắc lại. Đống phân càng bới càng thối, nhưng rất tiếc ngày nào cũng có kẻ đòi bới lên cho họ ngửi, chúng tôi đành làm theo yêu sách của họ. Âu đó cũng là nghiệp quả.

TẠI SAO CÓ DỤ SỐ 1O?

Dưới thời Pháp thuộc, trên đất nước Việt Nam có nhiều quy chế lập hội khác nhau do chính quyền Nam Triều và chính quyền Pháp ban hành. Tại Nam Kỳ, thuộc địa của Pháp, và các vùng nhượng địa của Pháp, Luật về Hiệp Hội 1901 (Les associations loi 1901) của Pháp được áp dụng. Tuy nhiên, sau khi Thỏa Ước Élysée ngày 8.3.1949 trao trả phần lớn độc lập cho Việt Nam, Chính phủ Nguyễn Phan Long được thiết lập do Sắc Lệnh số 6/QT ngày 21.1.1950 của Quốc Trưởng Bảo Đại đã quyết định biên soạn một quy chế hiệp hội chung cho cả nước. Nhưng công việc này chưa hoàn tất thì cuối tháng 4 năm 1950 chính phủ Nguyễn Phan Long bị giải tán. Chính phủ Trần Văn Hữu được thiết lập do Sắc Lệnh số 37/CP ngày 6.5.1950 đã tiếp tục công việc này.

Sau khi soạn thảo xong, dự luật được gởi trình Quốc Trưởng Bảo Đại lúc đó đang ở Pháp. Bảo Đại đã ký đạo luật này tại Vichy, Pháp, ngày 6.8.1950 với tên là Dụ số 10, được đăng vào Công Báo Việt Nam số 33 ngày 19.8.1950. Dụ này gồm 5 chương và 45 điều khoản.

Nội dung của Dụ số 10 được biên soạn dựa theo Luật về Hiệp Hội năm 1901 của Pháp đã nói trên, chỉ sửa lại một vài chỗ cho phù hợp với tình hình của Việt Nam thời đó. Điều 1 của Dụ số 10 đã quy định như sau:

“Hội là hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.
“Muốn có hiệu lực thì hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về khế ước và nghĩa vụ.”

Rõ ràng là điều luật này đã phỏng theo điều 1 của Luật về Hiệp Hội của Pháp năm 1901:
“L’association est la convention par laquelle deux ou plusieurs personnes mettent en commun d’une façon permanente leurs connaissances ou leur activité dans un but autre que de partager des bénéfices. Elle est régie quant à sa validité, par les principes généraux du droit applicable aux contrats et obligations.”

ĐIỀU KHOẢN BỊ XUYÊN TẠC

Tuy nhiên, Điều 44 của Dụ số 10 có quy định: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa và Gia tô và các Hoa kiều Lý sự hội sẽ ấn định sau.” Tại sao Điều 44 phải quy định như vậy? Có phải đây là một điều khoản ưu đãi Thiên Chúa Giáo và người Hoa không?

1.- Cách nhìn méo mó của Phật Giáo

Trong bản Tuyên Ngôn 5 điểm của Phật Giáo ngày 10.5.1963, điểm 2 đã ghi như sau:
“Yêu cầu Phật Giáo phải được hưởng một chế độ đặc biết như các Hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo đã được ghi trong Dụ số 10.”

Bây giờ ngồi xem lại, chúng tôi thấy cả 5 điểm yêu cần trong bản tuyên ngôn nầy đều là vọng ngữ. Nhưng trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ nói đến điểm yêu cầu thứ hai vừa trích dẫn mà thôi. Đây là cách nhìn méo mó của các nhà lãnh đạo Phật Giáo.

2.- Sự thật về Điều 44 Dụ số 10

Theo thỏa Ước Việt – Pháp được ký kết giữa Bảo Đại và Tổng Thống Vincent Auriol của Pháp tại điện Élysée ngày 8.3.1949 và các hiệp định thi hành thỏa ước này được Quốc Trưởng Bảo Đại và Cao Ủy Pháp Pignon ký ngày 30.12.1949 tại Toà Đô Chánh Sài Gòn, Pháp công nhận Việt Nam có tổ chức hành chánh riêng, tư pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng, liên hệ ngoại giao riêng, v.v. Tuy nhiên, Khoản I của thỏa ước đã đưa ra một giới hạn như sau:

“Sự cai trị các sắc dân không phải là người Việt Nam… sẽ được cứu xét bằng quy chế riêng… Các quy chế này phải được sự thỏa thuận của Đại Diện Chính Phủ Cộng Hoà Pháp Quốc, vẫn còn có trách nhiệm đối với họ.”

Năm 1960, trong một bài viết về Thỏa Ước Élysée, ông Vũ Quốc Thông, Giáo Sư Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, giải thích rằng việc quy định những vấn đề liên quan đến chính sách ngoại giao hay các luật lệ liên quan đến người Pháp và ngoại kiều sinh sống tại Việt Nam, đều phải có sự đồng ý của Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, chính phủ Việt Nam mới được ban hành. Do đó, muốn ban hành các quy chế về các hội truyền giáo của Thiên Chúa Giáo và của Hoa Kiều đang hoạt động tại Việt Nam như Société des Missions Etrangères de Paris, Protestant Mission, Chinese Congregations, v.v…, đều phải có sự đồng ý của Pháp mới ban hành được.

[Vũ Quốc Thông, Việt Nam Tự Do, Chính Thể Cộng Hòa Nhân Vị, Nguyệt san Quê Hương số 16, ngày 16 tháng 10 năm 1960, tr. 1 – 39 và 247 – 262].

Giáo sư Vũ Quốc Thông đã giải thích đúng theo Thỏa Ước Élysée. Lúc đó:

– Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đang hoạt động theo quy chế của Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Paris (Société des Missions Etrangères de Paris) của Pháp nên chịu ảnh hưởng của luật lệ Pháp. Do đó, Thỏa ước Élysée đòi hỏi mọi sự thay đổi về định chế của hội này phải có ý kiến của Pháp. Mãi đến ngày 24.11.1960 Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII mới ban hành Tông Thư “Venerabilium Nostrorum” thiết lập “Hàng Giáo Phẩm Công Giáo Việt Nam” với 3 Giáo Tỉnh: Hà Nội, Huế và Sàigòn. Kể từ đó, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mới tách ra khỏi Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris.

– Theo thoả ước giữa Pháp và Trung Hoa, ngày 27.12.1886 Pháp đã chính thức hóa quy chế bang hội của người Hoa tại Việt Nam. Người Hoa phải gia nhập vào một trong 5 bang hội sau đây để quản lý: Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam và Hạ Châu. Lúc đó, Hoa Kiều Lý Sự Hội được đặt dưới quyền quản lý của Pháp nên những sự thay đổi của hội này cũng phải có ý kiến của Pháp.

Như vậy, một “chế độ đặc biệt” được nói ở điều 44 Dụ số 10 không phải để ưu đãi Thiên Chúa Giáo và người Hoa, mà vì Thỏa ước Élysée đòi hỏi muốn sửa đổi quy chế của các hiệp hội này phải được sự thỏa thuận của Đại Diện Chính Phủ Cộng Hoà Pháp Quốc, nên Điều 44 phải quy định như vậy.

TIẾP TỤC CÃI CHÀY CÃI CỐI

Trong bài thuyết pháp trong chương trình “Tiếng Từ Bi” vào lúc 8 giờ tối ngày 8.11.2007 trên đài phát thanh Little Saigon và sau đó trên làn sống AM 1190 của Võ Cự Long, Hòa Thượng Thích Chơn Thành, trụ trì chùa Pháp Hoa ở Garden Grove, đã phát biểu về Dụ số 10 như sau:

“Sau mồng 1 tháng 11, 1963, Phật Giáo Việt Nam đã được thống nhất. Mọi người con Phật cũng tưởng rằng Phật Giáo có cơ hội nghĩ ngơi và phát triển Phật Pháp một cách bình đảng như cac công dân khác, mà trong thời Pháp thuộc thực dân Pháp đưa Phật Giáo vào trong cái tròng của Đạo Dụ số 10 gióng như là một hiệp hội đá banh, hiệp hội đua ngựa, vân vân…”

Trong bài “Lộng giả thành chân” đăng trên Sài Gòn Nhỏ ngày 7.12.2007, chúng tôi đưa các bằng chứng cho thầy Chơn Thành thấy đây là một nhận định hoàn toàn sai lầm. Nhưng sau đó, một số người khác vẫn nhai lại luận điệu của thầy Chơn Thành. Có hai giả thuyết đã được đặt ra:

– Giả thuyết thứ nhất, các nhà lãnh đạo Phật Giáo không hiểu Điều 44 của Dụ số 10 nói gì, nhưng không tìm hiểu mà cứ nói bừa.

– Giả thiết thứ hai, các nhà lãnh đạo Phật Giáo hiểu rất rõ Điều 44 nói gì nhưng cố tình xuyên tạc để kích động lòng hận thù tôn giáo làm động lực đấu tranh.
Cả hai trường hợp đều bị giới luật của nhà Phật gọi là VỌNG NGỮ, một trọng tội, còn danh từ luật pháp gọi là MALICE (có ác ý) khi quy định hình phạt.

1.- Giáo hội hay hiệp hội đều là hội

Trên phương diện luật pháp, Luật Hiệp Hội 1901 của Pháp hay Dụ số 10 của Việt Nam đều xem các tổ chức về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, thể thao và đồng nghiệp ái hữu đều là hiệp hội. (association). Tại Hoa Kỳ, mỗi tiểu bang đều có những đạo luật ấn định quy chế các hiệp hội bất vụ lợi (nonprofit corporations) tương tự như thế. Luật thuế vụ liên bang của Mỹ [Federal 501(c)(3) Status] đã định danh 5 thứ hiệp hội bất vụ lợi có thể được miễn thuế, đó là các hiệp hội có mục đích bác ái, các tổ chức khoa học (scientific organizations), các tổ chức giáo dục (educational organizations), các hiệp hội có mục đích văn học, và các nhóm tôn giáo (religious groups).

Hầu hết các tổ chức của Phật Giáo, Cao Đài Giáo và Phật Giáo Hòa Hảo của người Việt hải ngoại đã xin gia nhập các quy chế này. Có tôn giáo nào tố cáo quy chế hiệp hội của Mỹ kỳ thị tôn giáo vì coi tôn giáo như là “một hiệp hội đá banh, hiệp hội đua ngựa, vân vân…” đâu?

2.- Chỉ Thiên Chúa Giáo mới gọi là Giáo Hội

Chúa Jesus đã chính thức thành lập giáo hội khi ngài nói với môn đồ Peter: “Thầy bảo cho con biết, con là Peter, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, thầy sẽ xây giáo hội của thầy, và các cửa địa ngục sẽ không thắng nổi.” (And I say to thee, thou art Peter, and upon this roch I will build my Church, and the gates of heil shall not prevail against it.) (Mat. 16: 18-19)

Chữ “Giáo Hội” trong tiếng Việt được dịch từ chữ “Ecclesia” trong tiếng Latin, chữ “Église” trong tiếng Pháp hay chữ “Church” (viết hoa) trong tiếng Anh. Chữ “Giáo Hội” của Thiên Chúa Giáo phát xuất từ Thánh Kinh như đã nói trên.

Phật giáo có đến 84.000 pháp môn, mỗi pháp môn tu tập theo một phương thức riêng. Không chỗ nào trong kinh Phật quy định việc thành lập Giáo Hội Phật Giáo để thống nhất các tông phái. Vậy năm 1964, khi thành lập “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”, các nhà lãnh đạo Phật Giáo đã lấy danh từ “Giáo Hội” ở đâu ra? Không lẽ lấy trong Thánh Kinh của Thiên Chúa Giáo?

VỌNG NGỮ VÀ ÁC NGHIỆP

Sách Trí Độ Luận, quyển 14, có viết: “Vọng ngữ là cái tâm không trong sạch, luôn muốn nói dối trá, che dấu sự thật, nói sai sự thật và sinh khẩu nghiệp.” Còn Tự điển Phật Học Hán Việt giải thích: “Vọng ngữ là một trong Thập Ác. Do cố ý lừa dối người khác mà dựng lên những lời nói không thực.”

Cứ theo hai định nghĩa này thì rõ ràng việc quy trách Điều 44 Dụ số 10 “kỳ thị tôn giáo” đúng là những lời vọng ngữ, tức dựng lên những lời không thực để lừa dối kẻ khác và sinh khẩu nghiệp.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close