Hoa Cải

 

Nguyễn Văn Thà

 

Bilderesultat for hoa cải

 

Người Việt mình không dễ nhờ nhỏi gì, và khi hứa giúp, họ quên đôi lần, rồi quên luôn. Đó là kinh nghiệm nhiều năm chung đụng với trên dưới 35 người Việt ở hãng lớn nơi Văn làm việc, từ những người trí thức, nghiêm trang, cho đến kẻ ba trợn, xuề xòa, từ những người đã vào ngạch, hoặc chỉ làm tạm. Họ có khuôn mặt giông giống nhau, với nhiều bất trắc, gài bẫy trong từng lời nói. Văn sợ quen biết với họ, tránh tiếp xúc khi có thể, và họ cũng chẳng cần gì Văn. Anh ít biết tên họ, nếu biết cũng quên dần, và họ trở thành một khối gồm những khuôn mặt giống như những chuổi mặt nạ mẹt treo trên cột ở một quán bán đồ lưu niệm nào đó ở phố cổ Hà Nội.

Châu đến với Văn, một ngày, không như thế.

Na Uy, lúc ấy trời đã sang xuân, Văn cần hạt cải giống để ươm sẵn trong nhà đợi nắng hạ đến. Văn thường để dành hạt cải mùa trước để gieo mùa sau, nhưng năm nay dọn nhà, gói hạt giống lạc đâu mất. Trồng cải cay hoa vàng vào mùa hạ đã trở thành một nghi lễ hằng năm đối với Văn. Không có không được. Buồn lắm. Mùa hạ buồn lắm. Lá xanh lá xanh, ngồng cải hoa vàng rưng rưng nắng và mẹ trong nắng cải hoa vàng. Tất cả đã ra đi, ra đi luôn những vang vọng, cả những vang vọng buồn bã vốn quanh quẩn rất lâu trong trí tưởng hơn những vang vọng vui tươi; tuyệt tích luôn những sợi đường, cả những sợi đường thoi thóp bấy nay lấm chấm những chấm chân vốn đã vô tích sự từ lâu.

Mấy người Việt đi qua bàn ăn Văn đang ngồi trong căng tin. Đôi người nhếch mép cười với Văn, đôi người đi thẳng không nói năng gì, đôi người lại cười, nói to, đ. má đ. mẹ với người (Việt) đi bên cạnh. Có cô gái Việt đi ngược chiều, ngực đeo miếng IPod xanh lá mạ, tay kia cầm tờ báo, có lẽ là báo xuân tiếng Việt, bìa màu vui mắt. Cô, người cao ráo, dáng mong manh cọng sen, tóc mềm và dài như tiếng thở dài trong đêm sâu quên mất đường về, mặt là dung nhan muôn thủa của một cô gái miệt vườn, nhìn vào, lòng liền bình yên như khi nhìn vào mặt nước sông quê cô, nhưng trên bình yên ấy luôn luôn rạng rỡ lục bình, sen hồng, súng trắng:

“Chào anh.”

”Chào cô. Hân hạnh được cô chào… lại được cô cười. Mà cô tên gì?”

”Trời ơi, gì mà dữ vậy! Em tên Châu.”

”Mà cô đang cầm trên tay tờ báo gì đó?”

“Tờ Phù Sa!”

“Mời cô ngồi.”

Châu đưa tờ báo cho Văn và khẽ khàng kéo ghế ngồi xuống.

Văn lượt qua tờ báo:

“Thế nào mà chẳng có tu hú kêu nước lên, cải lên ngồng hoa vàng, gió bấc tháng chạp bâng khuâng…”

“Vâng, cũng nhiêu đó, mấy ông bà nhà thơ nhà văn nói tới nói lui hoài mà vẫn cứ thích, làm nhớ sông nước, ruộng đồng muốn chết.”

“Sao vậy?” Văn ngước đầu lên nhìn vào mặt Châu.

Châu cười:

“Em không biết.” Rồi giọng Châu trùng xuống: “Có lẽ vì đó là những cái của ông bà mình.”

Văn nhập giòng:

“Nên thương hoài ngàn năm?”

Châu cười thật tươi:

“Đúng rồi. Sao anh tán ra hay vậy? ”

Văn cười, đùa:

”Nghề của chàng mà! Mà cô ngồi đây luôn nói chuyện cho vui!”

“Vâng. Mà anh cũng phải ăn đi chớ!”

Văn có vẻ ngạc nhiên vì cái giọng ân cần mà anh chẳng mấy khi được nghe từ nhiều năm nay.

”Mà cô đang nghe gì đó?”

“Leonard Cohen anh à!”

Văn tròn xoe mắt:

“Vậy hả!”

“Vậy hả cái gì!? Anh cứ tưởng em đang nghe tuồng cải lương chắc?”

“Vâng, tôi ít nghe cải lương, vọng cổ, nhưng không phải vì thế mà tôi cho cải lương, vọng cổ kém giá trị. Tuy nhiên, Leonard Cohen không phải ai cũng thích nghe. Cô đặc biệt lắm à nghe!”

Châu cười:

“Đặc biệt cái gì! Không dám! Không dám!”

“Leonard Cohen, cô thích bài gì nhất?”

“Em thích nhiều bài, nhưng bài So Long, Marianne cứ quanh quẩn mải trong đầu. Để coi, gì mà… ” Châu hát nho nhỏ “… Now, so long Marianne. It’s time we began to laugh and cry and cry and laugh about it all again. (Thôi, ta chia tay nhé Marianne. Đến lúc chúng ta lại bắt đầu cười và khóc và khóc, rồi cười về tất cả chuyện ấy.) Dám ông này kiếp trước là thầy chùa lắm mới viết ngon như vậy!” Và Châu lại ân cần: “Anh ăn đi kẻo hết giờ ăn, lại đói bụng.”

“Nghe cô nói cũng đủ no!”

“Có thì nói, không thì thôi đó nha! Có gì nói tiếp luôn, kẻo sau hối không kịp.”

“À ha!… Nhìn cô cũng đủ no.”

“Thiệc hông?”

“Thiệc mà!”

“Nữa!”

Hai người yên lặng không nói. Nước sông đã đầy, tu hú không còn kêu nữa. Mênh mông và bình yên vô chừng. Lách chách tiếng nước liếm bờ. Và từ sông nước Cửu Long bước vào vườn cải hoa vàng chỉ trong gang tấc, tiếng chân hình như đã là tiếng của bước chân hai người, khi thì thấp thoáng sánh đôi, khi thì chập choạng kẻ trước, người sau.

Châu cho biết má cô mới gởi cho cô một bị hột cải cay, từ cải trồng nơi liếp vườn má cô, được phơi nắng kỹ càng, mười hột như một. Và Châu hứa biếu Văn một ít và hẹn ngày mai, giờ ăn, mang đến căng tin cho Văn.

Nhưng, ngày hôm sau không thấy Châu đâu, Văn có vẻ hơi buồn. Hôm sau cũng chẳng đến, anh buồn hơn, nhưng hôm thứ ba Châu đến, đến bàn Văn đang ngồi, loay hoay đưa cho anh gói hạt cải, ngượng ngùng:

“Xin lỗi em đã sai hẹn. Hai ngày qua em quên, tới hãng mới nhớ. Em cứ tránh mặt anh, vì kỳ quá! Em quên thiệt đó nha!”

“Không sao đâu. Tôi cũng hay quên vậy. Có điều ngồi căng tin, không có cô, thấy văng vắng.”

Châu lại vui được ngay:

“Rồi, lại muốn gì đây!?” Và Châu chỉ diễu đến chừng đó, rồi im bặt, mặt đỏ mận hồng đào.

Văn mánh thấy rõ:

“Muốn thì muốn nhiều. Nhưng trước mắt cảm ơn cô đã cho hạt cải.”

“Có gì đâu anh! Má em dặn: Chia cho bà con bên đó một người một ít trồng cho vui. Mà em phải xuống.”

“Sao chưa ăn mà đã xuống.”

“Em có chút công chuyện.” Và giọng Châu chăm sóc: “Anh ăn đi, còn đi làm.”

Văn mỉm cười:

“Cảm ơn!”

Mấy anh chàng người Việt ngồi đằng xa mà xem chừng nghe cả: “Chà, tình quá ha!”

Văn không nói gì, và anh cúi xuống mở gói hạt cải, đúng là mười hột như một, đen đen màu đất phù sa, loang loáng ánh sáng đồng xanh, và có cả tiếng sông nước muôn nhánh reo vui và thấp thoáng bóng người nữ ca dao trên từng hạt cải. Những sợi đường tàn phai dần dần thành con đường rộng với những bước chân nhẹ thênh và những vang vọng dễ chịu.

***

Văn đọc ở đâu đó rằng trong tù, có tù nhân chỉ biết nhìn bốn bức tường tăm tối, nhưng cũng có người biết nhìn những vì sao. Cuộc sống ở trại tù cải tạo Bàu Tó cay cực, khổ sở như bao nhiêu nhà tù khác trên đất nước Việt Nam, một Việt Nam bị cộng sản thống trị, nhưng vẫn có những vì sao đối với khá nhiều tù nhân: buổi chiều, ăn tối xong, trời mát mẻ, được nghe bài Bèo giạt mây trôi với giọng hát của nữ tù nhân Ngọc từ những loa phát thanh; những bụi hoa phù dung rực rỡ hồng mà cũng rất đỗi muộn phiền hồng trước thềm buồng giam mà ông trực sinh Thao chăm sóc kỹ lưỡng; nhìn thằng cu, con của nữ tù nhân Ngọc, chạy lăng xăng khu này qua khu khác; và nghe tiếng sáo của sư huynh Hoành thổi bài Lời mẹ ru của Trịnh Công Sơn. Hành vi của mỗi người xem ra chỉ làm riêng cho họ, nhưng lại làm vui lòng người chung quanh mình không ít; và biết đâu ảnh hưởng giòng đời của nhiều người, như anh Ngộ đau dạ dày kinh niên có bữa nói với Văn.

Nghe đâu: Cô Ngọc đó bị án chín mười năm gì đó; cô có liên can với tổ chức phục quốc vùng Duyên Hải, mà chồng cô, một đại úy bộ binh sư đoàn 18 không chịu đi cải tạo, là người cầm đầu, và đã bị xử bắn.

Hồi ở biệt giam, hình như Văn có nằm chung phòng biệt giam với ông đại úy đó một thời gian ở trại tạm giam huyện. Ông là một con người có tư cách, mà không tỏ ra là mình như thế, và ông không phải là một sĩ quan võ biền. Ông biết nhiều văn chương, nhạc của Việt Nam, và của thế giới. Ông nói nhiều về Trịnh Công Sơn, về nhạc tính giản dị thích hợp để chuyên chở những lời ca như thơ của ông, một loại thơ, mà mỗi câu mỗi có những chữ hay đến sững sờ; chúng như trổi lên từ một cõi nào, và vào cõi thế này qua ngọn bút của ông. Ông đại úy còn nói về Joan Baez, và nhất là Bob Dylan mà nhiều cuốn tuyển tập văn học Tây phương đã đưa lời ca của ông vào như một đại diện tiêu biểu cho nền thi ca Tây phương, tuy nhiên khi so sánh với lời ca của Trịnh Công Sơn, ông cho là Dylan thua xa.

Rồi ông còn lan man qua Leonard Cohen:

“Ông này cũng vậy, lời ca thật đẹp, dùng chữ thật đắt, để coi: You held on to me like I was a crucifix1.” Rồi ông đại úy nói như reo: “Anh xem: Em ôm chặt anh như thể anh là tượng thánh giá. Phải là người có đạo, mà phải người mộ đạo lắm mới thấm thía được hình ảnh cứu rỗi này: You held on to me like I was a crucifix… Rồi tôi còn nhớ chàng ta gọi những cô gái giang hồ là sisters of mercy, những em phước, chị phước, dì phước, bà phước, trong bài hát cùng tên; lại còn And you won’t make me jealous, if I hear that they sweeten your night. Và bạn sẽ không làm cho tôi ghen đâu, nếu tôi nghe rằng các nàng làm ngọt đêm của bạn. Anh xem: Cái động từ sweeten tuyệt vời quá xá! Không có đàn bà cuộc đời này sẽ đắng đót biết bao, dù là những người đàn bà đó có khi chỉ là các cô gái giang hồ!”

“Vâng.”

“Tôi đã từng nhiều lần nghe lính của tôi trối trăng dặn dò: ‘Nhờ đại úy nói lại vợ em lấy chồng, nuôi con.’ Sau khi nghe lời ca như thế, tôi càng hiểu vì sao họ bao dung dặn dò như vậy.”

“Vâng.”

Ông thở dài :

“Ừ, mà như tôi giờ đây, ai đó sau này lấy vợ tôi, đùm bọc lấy nàng, tôi trong thế giới bên kia, tôi rất cảm ơn nghĩa cử ấy. Nàng lại có thai khi chúng tôi bị bắt… Nàng vì tôi, mà chịu khó trong suốt cuộc chiến nay đây mai đó, giờ cũng vì tôi mà sa vào vòng tù tội. Nàng thực sự không đóng vai trò gì trong vụ tôi, nhưng cái tính khinh mạn của nàng làm cho tụi nó ghét. Bọn họ chủ trương chuyện giết người là một việc thiện, kể cả tàn sát người tập thể, nên tôi thấy không hi vọng gì. Nàng tù tội chắc là lâu. Còn tôi, tôi biết tôi thế nào cũng bị án tử. Họ chỉ đợi để bắt hết những người trong tổ chức của chúng tôi… Tôi cứ nhớ những lúc bên nhau, nàng nằm hiền ngoan như con mèo con, im lặng, say sưa nghe tôi nói những chuyện như tôi nói với anh hôm nay. Nàng là người vợ, người bạn tri âm đúng nghĩa của tôi.”

Văn cũng trở thành bạn tri âm với ông đại úy cho đến khi Văn được chuyển vào buồng chung, và sau đó nghe tin đồn là ông bị đưa ra tòa và bị kết án tử hình, và ngay hôm đó, bị giải ra trại giam tỉnh, chờ ngày hành quyết. Vợ ông ta nghe nói cũng chuyển trại sau đó không lâu.

***

Văn chưa bao giờ thấy được mặt người có tiếng hát xé lòng mà thấm đượm ủi an đó, và anh cũng không rõ cô Ngọc đó có phải là vợ ông đại úy hay không vì trong vụ khởi nghĩa đó, và những vụ kế tiếp, có nhiều sĩ quan, công chức của chế độ cũ VNCH bị bắt, bắt tràn lan cả những người thân, và, không biết tại sao anh suốt tháng nằm biệt giam với ông đại úy, anh không hỏi tên cô vợ của ông ta là gì, và ông ta, ông ta chẳng bao giờ xưng tên vợ trong khi nói chuyện. Nghe nói cô Ngọc này tuy có giọng hát hay, nhưng từ chối vào đoàn văn nghệ trại, nhưng sau đó không biết sao đó lại vào, nhưng cô chỉ hát bài Bèo giạt mây trôi mà thôi. Có lẽ nhờ thế cô không phải lao động cực nhọc, được ở lại phòng làm việc đan lát, và chăm cho đứa nhỏ mà cô sinh trong tù cách đó bốn năm. Không biết tại sao ban giám thị dễ dãi như thế với cô. Hay là bài hát ấy thật xót xa mà cũng thật vỗ về cho bao nhiêu thế hệ vợ chồng phải xa nhau trong một Đất Nước chiến chinh triền miên, và họ cũng có những người yêu, những người vợ, những bà mẹ chờ đợi như thế? Hay những người mặt sắt ấy cũng phải nể nang, dù chỉ ngấm ngầm, khí phách của người nữ tên Ngọc ấy, vì ai mà chẳng nể trọng những phẩm tính cao cả, dẫu là từ kẻ thù? Hay họ, những con người, cũng có lòng thương xót, từ bi, lân tuất chẳng nỡ xuống tay tồi tàn? Người ta chỉ xì xào bàn tán như thế.

Thường thì cùng khi mẹ hát, thằng nhỏ con chị Ngọc chạy lăng xăng từ khu này đến khu khác. Ai cũng thương, cũng cười với nó, kể cả mấy ông cán bộ quản giáo nổi tiếng gian ác nhất. Dường như nó hạnh phúc. Nó cũng được no bụng nữa. Ai cũng thương mà! Nó bụ bẫm như một hình ảnh siêu thực. Nó cười nhiều, những tiếng cười nguyên tuyền tưởng biến mất khỏi cõi thế này từ lâu. Đây là tiếng cười của nó, trong thế giới duy nhất của nó, một thế giới toàn người lớn tù tội hom hem, tơi tả, nhưng lại là một thế giới rất tự nhiên và dễ chịu đối với nó.

Những buổi trưa chủ nhật hanh nắng, toàn trại nghỉ lao động, hay những tối yên lặng nặng trĩu, sau một ngày làm thân trâu ngựa (theo nghĩa đen), cũng thật là mát lòng, và êm ả cái đầu khi được nghe sư huynh Hoành thổi sáo bản Lời mẹ ru. Những giây phút linh thiêng cho những tưởng nhớ linh thiêng nhất. Nhiều buổi trưa chủ nhật thằng cu lon ton con chị Ngọc chạy lại ngồi bên sư huynh Hoành nghe ông thổi bài đó, rồi có bữa nó nói: “Mẹ cháu thích nghe ông thổi bài này, và mẹ cháu cũng ru cháu ngủ bài này đó ông!” Rồi nó còn hát ư ư theo tiếng sáo. Sư huynh Hoành cười, sung sướng xoa đầu nó, và sau đó dường như tiếng sáo của sư huynh vi vút hơn, tha thiết hơn. Bài hát đó, ngay cả mẹ của Văn, một bà mẹ quê mù chữ, mà cũng đã cảm được.

Hồi mẹ Văn còn sống, Văn còn đi học, vào một đêm khuya lâu lắm, đêm yên ắng, nhiều sao, sao sáng vì đêm đen nhiều, Văn ngồi đàn hát trước thềm bài Lời mẹ ru ấy, bà nằm trên võng trong góc nhà trong tôi tối đèn dầu, bỗng tiếng bà vọng ra:

“Bài ca thiệt hay, Văn ạ!”

Văn ngạc nhiên hết sức:

“Hay sao hở mẹ?”

“Thì hay, mẹ chỉ thấy hay, thấy rưng rưng trong lòng… Mẹ ru con, mẹ ước mơ cho con bao nhiêu sự cho con, mà cái được, cái không. Mà cái không thì nhiều hơn cái được trong một Đất Nước dữ dằn như Đất Nước mình:”

“Dạ.”

“Mà đời người thì ngắn quá, nhất là đời người mẹ xứ mình. Mà mẹ nào mà chẳng muốn sống mãi với con.”

“Dạ, ngắn mà cũng thật dài đó mẹ. Vì mẹ đâu có bao giờ chết trong lòng con mình.”

Và Văn nghe mẹ nghèn nghẹn:

“Ừ, … Bây giờ mẹ nằm, lá đổ ngoài sân.”

“Dạ, lá đổ ngoài sân, lá mãi đổ lên nơi mẹ nằm như lòng con vỗ về thương mẹ khôn nguôi.”

“Ừ, dù khổ, dù sở, mẹ cũng thiệt cảm ơn Trời Phật cho mẹ được làm mẹ, làm mẹ các con của mẹ.”

“Dạ.”

“Hát nữa đi con, cho mẹ nghe. Mà ông đó phải thương mẹ lắm mới đặt ra bài ca hay như vậy.”

“Dạ…

Lời mẹ ru con đến những khu vườn
Ru con trưa nắng (i i a)
trong mộng cười ngon
Ru mộng con thơm
Lời mẹ ru con
nghe ra nỗi niềm

Ru con nghiêng nghiêng nằm
Con ngủ giấc tròn
cho mẹ ngồi trông…

…Rồi một mai con đã lớn khôn

rồi

Con thôi thơ ấu (í i a)

Mẹ rời thật mau

Mẹ rời chiêm bao

Đời mẹ ru con bao lâu mỏi mòn

nên lâu cũng mỏi mòn

Bây giờ mẹ nằm

Lá đổ ngoài sân

Lá đổ ngoài sân.

để ru mẹ ngủ.2

***

Hôm trở lại thăm quê, khi Văn vừa xuống xe ở bến, nhiều anh xe ôm xúm nhau giành khách. Cuối cùng Văn chọn anh xe ôm đang đậu xe cạnh xe nước mía. Anh ta trạc tuổi Văn, có vẻ tử tế, và xem ra chạy xe ôm không phải là nghề của anh. Anh mỉm cười vẫy tay ra hiệu, như người thân đang chờ.

“Anh làm ơn chở tôi về An Bình, cách đây khoảng 30 cây số. Anh lấy bao nhiêu?”

“Anh cho bao nhiêu cũng được.”

Văn cười thật tươi:

“Chà, câu nói tử tế tôi được nghe lần đầu tiên từ khi xuống máy bay đến giờ. Anh làm cho tôi an tâm.”

Anh xe ôm cười, đưa tay bắt tay Văn đúng điệu dân thầy:

“Cảm ơn.” Và anh ta không nói gì thêm.

Một lúc sau, xe chạy qua con đường nằm trước trại giam. Trại giam nhìn chung không có gì thay đổi, chỉ có những cây điều mà các bạn tù Văn và Văn trồng hồi trước trong những đám đất quanh nhà tù, giờ chúng đã cao vượt cả bức tường nhà tù vốn cao, xum xuê lá xanh, và những trái điều đỏ treo lộn ngược, đỏ rực như muốn chiếm hết tán lá xanh. Bỗng anh xe ôm kêu lên:

“Anh xem, những trái điều treo treo như muôn giọt máu!”

“Hả, anh nói gì!?”

“Những trái điều trong trại tù treo ngược như những giọt máu. Anh xem! Mà máu nhiều quá!”

Văn im lặng. Rùng mình.

Anh xe ôm kêu tiếp:

“Máu của những người đàn ông, của những người đàn bà, của những đứa bé!”

Văn vẫn im lặng, căng thẳng im lặng, và đợi cho xe chạy qua khỏi nhà tù, anh mới ngần ngại đề nghị:

“Thế này nhé: Đường về nhà tôi còn dài mà trời gần tối rồi. Anh chở tôi quay trở lại thị trấn, kiếm cho tôi cái khách sạn ngủ tạm. Được không?”

Anh xe ôm có vẻ như không nghe lời đề nghị của Văn, chạy tiếp. Văn lắc đầu, nói thầm chỉ đủ cho mình nghe: “Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa.”

Còn anh xe ôm, giọng nửa đọc nửa hát, đưa tay chỉ phía trời tây trước mặt:

“Anh xem, mặt trời kia, mặt trời như trái cây tuyệt vọng,3

“Hả!”

“Anh xem, một mặt trời ọc ọc máu bầm.”

Văn ngước mắt nhìn về phía tây, rợn người.

Anh xe ôm lại nói, nhấn mạnh từng tiếng, tuồng như giận dữ:

“Những mặt trời máu me như thế này tôi nghĩ nơi xứ sở này mới có. Nơi anh định cư có mặt trời như thế này không?”

“Không, mặt trời nơi tôi đang ở, không bao giờ đỏ như thế.” Văn nói như hụt hơi, nhưng cũng gắng đưa tay vỗ nhè nhẹ vai anh xe ôm, giọng dỗ dành:

“Anh chở tôi lại thị xã đi. Tôi không cần phải về nhà sớm. Tôi sẽ thù lao anh đầy đủ.”

Anh xe ôm, giọng phẫn uất:

“Người ta không cách nào đền bù cho thoả đáng cho một chuyến đi bị cắt đứt tàn nhẫn nữa chừng. Nhưng tôi sẽ chở anh trở lại thị trấn mà không đòi hỏi gì.”

Văn xem ra hiêu hiểu khẩu khí anh xe ôm, cười cười:

“Anh nói chuyện như một danh sĩ bất phùng thời.”

Anh xe ôm cười cay đắng:

“Không dám, không dám. Đời này không ai được phép khác người. Chém treo ngành đó nghe chưa ông!”

Rồi anh ta không nói năng gì, quay đầu xe lại, hướng vế phía thị trấn. Trên con đường đìu hiu qua những đám ruộng thiu thối nước phèn, cả hai người cùng lặng thinh trong tiếng ve râm ran hối hả.

Anh ta chở Văn đi kiếm một khách sạn tương đối sạch sẽ, xinh xắn với những những bụi hoa giấy đủ màu vui, những chùm hoa vui mà anh đã nhìn một cách thèm khát không biết bao lần trong những cuốn giới thiệu du lịch vùng nhiệt đới. Văn đưa cho anh xe ôm một số tiền kha khá:

“Anh cứ cầm cho tôi vui. Cảm ơn anh nhiều”

“Cảm ơn anh đã chịu khó nghe tôi nói quàng xiên.”

“Anh đừng nói vậy, đâu dễ gì ra đường gặp được một hào sĩ như anh!”

“Ha ha! Danh sĩ, hào sĩ, hay cuồng sĩ gì gì đi nữa cũng vậy thôi… Thôi, chào anh. Anh đã may mắn rồi, chúc anh may mắn thêm nữa.”

“OK. Chào!”

“Chào!”

Anh xe ôm vẫy tay thân thiện, rồi lái xe đi. Văn thở phào, vội vã đi vào làm thủ tục lấy phòng rồi chạy nhanh lên phòng.

Sau khi tắm rửa, Văn đứng trên ban công hóng mát. Cái mặt trời trái cây tuyệt vọng đã lặn rồi, nơi chân trời tây chỉ còn vang váng một vài nhát ánh sáng màu cam tươi tắn trên những màng mây nhàn nhạt khăn voan. Ở quê anh, giờ này mặt trời chắc cũng thế, và có lẽ rất êm ả với bức tranh muôn thủa chiều quê. Nhưng xem ra Văn không hối tiếc gì lắm khi quay lại thị xã này. Anh vui trông thấy. Có người đàn ông cũng đang đứng ban công bên cạnh, chào, và nói vói qua, thân thiện:

“Anh mới về hả?”

“Vâng.”

“Anh quê ở đây?”

“Không đúng hẳn, quê tôi ở An Bình, cách đây 30 cây số. Về đây thì trời vừa tối. Tôi nán lại đây một đêm.”

“Ừ, hưởng một chút riêng cho mình, rồi về; về đến nhà, mình là của mọi người.”

Văn cười:

“Ờ ờ, phải đó. Mà xin lỗi anh tên gì, quê anh ở đâu?”

“Tôi người Cần Thơ, tên Tam. Tôi ở Mỹ về. Tôi ra đây kiếm mấy đứa hồi ở chung buồng trong tù. Tàu của tui hồi đó chết máy, dạt ra tới đây, bị tóm vào Bàu Tó. Mới gặp tụi nó hôm qua ở ngoài quán Bến Sỏi. Cũng mừng tụi nó làm ăn khá. Chu cha, hôm qua nhậu một bữa đã đời. Kể lại những chuyện mánh mung, chôm chỉa tài sản xã hội chủ nghĩa trong tù mà cười muốn chết. Tối nay nhậu một cử nữa…. Hay là… anh đi chung với tui cho vui. Mà hồi trước anh có sa lưới vì theo bơ thừa sửa cặn của đế quốc không vậy?”

“Có, ở tới ba năm tập trung cải tạo đó anh. Cũng Bàu Tó. Chắc tôi ở tù không cùng lúc với anh. Mà có thể cùng mà không thể biết hết được. Tù gì mà cả mấy ngàn người.”

“Ừ.”

“Anh nói tôi mới nhớ. Tôi cũng có mấy đứa chung buồng với tôi, tụi nó cũng ở ngoài xóm Bến Sỏi đó. Ừ, phải đó, biết đâu gặp lại họ cũng vui. Để xem: Chín Đen, Ba Mạnh, Long Mập…”

“Đúng rồi. Ra đó bảo mấy người tôi quen đi kiếm giùm mấy tay đó lại chơi cho vui.”

Quả đúng như anh Tam nói. Ra đó, cười nói hỉ hả, nhậu đồ biển, và chuyện kiếm mấy người bạn của Văn không khó. Chín Đen ra ngay, cả hai người kia nữa, bỏ luôn chuyến đi biển dự tính đêm đó.

Chín Đen một “ông thày”, hai “ông thày” với Văn, mừng rỡ thật lòng, cười hàm răng Hynos trắng nhỡn:

“Lâu quá, lâu quá ông thày ơi, khoẻ không ông thày ơi, mà dzợ con gì chưa, ông thày?”

“Chưa, mà Chín hỏi chi vậy?”

“Tui biết ông thày mà, đa sầu đa cảm mà. Bộ còn yêu đơn phương tiếng hát Bèo giạt mây trôi hả?”

Văn giật mình, cười:

“Hè hè, nói bậy.”

“Trời ơi, hồi tui làm trực sinh, ăn chung với ông thày, ông thày tâm sự với tui hết mà, còn chối gì nữa. Tui, tui cũng yêu bả nữa lợ! Tui mà chưa vợ chưa con tui cũng cua rồi. Đã đẹp người, lại nghĩa khí, giọng ca hay. Đúng là Nguyệt Nga tái thế!”

“Ừ.”

Chín Đen xì xào:

“Mà lại bàn đằng góc này tui kể cho nghe. Tui nắm hết.”

Chín Đen và Văn lẳng lặng lại ngồi bàn đằng góc, trông ra biển:

“Ông thày có muốn gặp lại bả không nè? Tui đi kiếm cho. Dễ ẹc!”

“Ủa, mà chị ấy được thả về hồi nào vậy?”

“Tui cũng không rõ lắm. Nhưng mới hồi Tháng Tư đây chơ đâu, cái ngày kỷ niệm giải phóng giải phiếc của mấy chả đo, tui buồn tình đi xem đoàn văn công tỉnh hát, tui thấy con mẻ Ngọc ong ỏng hát bài Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng… Rồi còn chưa hết, con của bả, cái thằng dễ thương chạy lon ton trong trại hồi đó đo, tui nghe nói là mấy năm sau, khi mẹ nó chuyển trại khác đâu ngoài Yên Bái, người ta đưa nó ra ngoài lò đường của trại phụ việc mấy năm, rồi không biết sao, sau đó, nó lại loong toong đi theo mấy tay quản giáo coi tù, cũng gian ác không thua gì công an thứ thiệt, và không biết sao bữa đó tui thấy nó lại giữ cái chân kéo màn. Tui nghe nói mẹ con con mẻ theo Vẹm luôn rồi.”

“Trời Đất!”

“Chưa hết đâu nghen. Mà ông thày bình tĩnh nghen.”

“Không sao, anh Chín cứ kể cho tôi nghe!”

“Cái lão giám thị Cung hồi đó đo. Lão có kế hoạch ‘Vì lợi ích 10 năm thì phải chôm cây, vì lợi ích 100 năm thì phải chôm gái.’đó nghe ông thày. Khi bả chuyển trại, hắn ta chuyển ra làm sở lương thực. Khi bả được thả, thằng chả bỏ bà vợ già Bắc kỳ, dê bà Ngọc rồi lấy bả luôn.”

“……”

“Ông già tui, hay tuồng hay tích, nghe tui kể, chỉ biết lắc đầu nói: ‘Chỉ có đời nay mới sinh ra những hạng người như vậy.’ Ổng còn nói là đã tới thời mạt thế rồi.”

“Ông già anh muốn nói về ai?”

“Thì cái lão Cung đó, lão có kế hoạch chim bà Ngọc từ hồi còn trong trại. Bộ dễ mà làm sai ý chả được à, rồi còn được ưu tiên khơi khơi vậy? Bà Ngọc cũng vậy, cũng đâu có vừa gì. Hóa ra mạt cưa mướp đắng cả.”

“Biết đâu lão Cung tuy là người cộng sản nhưng biết trọng cái nghĩa khí?”

Chín Đen cỏ vẻ tức khí:

“Trời ơi, vậy sao giờ bà Ngọc, vợ ổng, lại đi hát văn công, thì nghĩa khí con mẻ còn nằm chổ nào mà ông thày nói lão Cung trọng nghĩa khí? Xin lỗi ông thày nghe: Chẳng qua dán bùa lồn mèo mà thôi. Mà ông thày sách Tàu, sách Tây lãu thông, ông thày nghĩ sao?”

Văn toát mồ hôi lạnh: “Thôi, được rồi, được rồi!” nhưng cũng rán đánh trống lảng: “Mà Chín, vợ con, làm ăn ra sao?”

“Vất vả nhưng cũng sống được ông thày à. Được cái con dzợ nó không thuộc loại tham đó bỏ đăng. Nói cho ông thày mừng: Thằng con đầu tui sắp học hết lớp mười hai rồi đó nghe ông thày. Nó cũng nói năng hay ho như ông thày dzậy đó. Mà ông thày biết quới danh nó là gì hông?”

“Sao mà tôi biết được!”

“Giờ nó mang cái tên giống tên ông thày đó.”

“Nữa!”

“Hồi trước nó tên là Đực. Hồi ở tù về, nhớ ơn ông thầy đã giúp đỡ tui, tui đặt lại tên nó là Chương. Chương… Văn với Chương thì mấy thứ! Ha ha ha! Xưa còn thương kẻ mắc nàn. Huống nay ai nỡ quên đàng ngãi nhơn4, phải không ông thày?”

***

Văn sáng sau cũng về đến được nhà. Khi thắp hương cho mẹ, ảnh thờ mẹ tuy nâu cũ, nhưng Văn vẫn còn thấy được khuôn mặt đẹp đẽ, hiền lành, tươi tắn của mẹ; và anh thấy có vẻ là lạ, anh nói với thằng em út đứng cạnh:

“Mẹ ngày xưa đẹp đó chơ! Mà sao khá giống với người bạn gái anh mới quen bên Na Uy. Con nhỏ người Nam, thật hiền lành.’’

Thằng Út, nay đã 36 tuổi mà vẫn còn kén chọn, giọng sành sõi:

“Vậy hả!? Đàn bà hiền lành mặt giống nhau!”

“Ừ, có thể lắm. Mà Út nè, sao hồi mẹ mất em gởi cho anh tấm ảnh thờ khác, mặt mẹ già, giờ sao tấm ảnh thờ này mặt mẹ trẻ măng vậy?”

“Thì hồi trước em cũng đưa bức ảnh mẹ mình già đó lên bàn thờ để thờ. Thờ được mấy năm, nhưng rồi, tối Thứ Bảy, khoảng 5 giờ sáng, cuối Tháng Sáu mới đây chơ đâu, bố dậy sớm đọc kinh cho mẹ, nhìn lên bàn thờ, bố thấy mẹ trong ảnh khác hẳn bức ảnh lúc trước. Bố ngừng đọc kinh, đập vai kêu em và chỉ cho em thấy, chơ em đọc kinh mà ngủ gà ngủ gật có thấy gì đâu. Bố tuy ngạc nhiên, nhưng lại có vẻ mừng. Và bố nói ảnh mới này giống mẹ y đúc hồi bố mới cưới mẹ. Bố hỏi em kiếm đâu ra hay vậy, và thay hồi nào không cho bố biết. Phần em, em sinh nghi cái thằng Triều con chị lớn, cái thằng nó phụ việc ở tiệm hình Hồng Anh đo, là thủ phạm. Nhưng khi em hỏi nó thì nó chỉ cười, cái kiểu cười nghịch ngầm muôn thuở của nó. Nhưng miệng nó cứ chối bai bải ‘Cháu đâu có dám làm chuyện bậy bạ như vậy, cậu!’, rồi nó lại cười mỉm chi. Hắn chơ ai vô đây! Nhưng bố lại thích tấm hình mới đó, nên em cứ để nguyên và em cũng không tra hỏi thêm mà chi. Bố vui hơn và bố siêng đọc kinh cho mẹ hơn…” Rồi thằng Út trổ cái giọng săm soi của Monsieur Poirot: “Mà tại sao lúc đó cái khung ảnh vẫn khung ảnh cũ, và bụi trên mặt kiếng vẫn nguyên, không có dấu tay, dấu chân gì hết?”

“Nhà mình gần đường lộ đất đỏ, bụi nhiều, đâu có gì là lạ đâu! Đồ đoàn mới lau, quay đi quay lại đã đầy bụi! Còn tấm hình mới đó chắc là cái thằng Triều nó nghịch, mà nghịch kiểu như hắn, dễ thương đó chơ!”

“Vâng, có thể. Và anh biết không? Sau đó mấy bữa bố cả cười cả nói: Mẹ mi hồi con gái tên Trai chơ không phải tên Hảo đâu. Vào Nam, sợ Việt Minh theo bắt nên mới đổi tên. Bố cũng vậy, hồi ngoài Bắc, bố tên Bốn.’”

“Chắc là ông bà ngoại mong con trai nên mới đặt tên cho mẹ như vậy. Trước đã có ba dì rồi, rồi còn lọt ra mẹ.”

“Không phải vậy đâu! Mẹ còn có tên lót là Ngọc, thành ra Ngọc Trai. Ngọc trai là ngọc trân châu đó! Bố nói ông ngoại mình là nhà nho mà thích đặt tên nôm cho con.”

“Ờ ờ..” Rồi Văn lẳng lặng bỏ ra nhà sau, và cúi đầu đi tới đi lui, miệng lẩm bẩm:

“Thứ Sáu, tối St. Hans, 23/6, mình nhớ như in 12 giờ khuya trời Na Uy mà nhiều nắng như trưa ở Việt nam, và lúc đó mình đang với Châu ngồi trên ghế đu đu đưa đu đưa, nhìn nắng cải hoa vàng từ hạt giống Châu cho, và thủ thỉ với nhau những ước mơ…”

Văn trở lại phòng khách, lại ngước nhìn lên bàn thờ mẹ, rồi anh tròn xoe mắt nhìn đăm đăm tấm ảnh thờ vì anh sững sờ thấy những giọt nước mắt đỏ như máu, hình thể giống những trái điều lộn hột đỏ nhỏ li ti, chảy xuống từ đôi mắt của mẹ anh trong ảnh, đôi mắt tuyệt vọng buồn một nỗi buồn mà Văn chưa bao giờ thấy trong mắt mẹ những ngày gần mẹ, cả trong những giờ tuyệt vọng, nhưng lại giống nỗi buồn thương Văn thấy lên màu trong đôi mắt của Châu vào đêm trắng ấy, mặc dầu, trong vòng tay ân cần của Văn, Châu đang thầm thì về mộng con thơm, ấm êm chồng vợ, khu vườn xinh xinh có hoa cải vàng, con bướm cũng vàng trưa nắng hanh hanh.

***

Khi trở lại Na Uy, Văn gọi điện thoại cho Châu, thì được tổng đài tự động báo là số điện thoại đó vô danh. Văn trở lại đi làm, có ý tìm Châu, nhưng không thấy nàng đâu. Anh hỏi mấy người Việt, thì họ chỉ trả lời bâng quơ rằng có lẽ cô ấy chỉ làm tạm mấy bữa rồi hết việc, không đến nữa. Văn lại hỏi con nhỏ người Na Uy phụ trách phòng phối trí nhân viên, con nhỏ lâu nay có vẻ thân thiện với Văn, thậm chí cách đây không lâu đã rủ Văn đi uống cà phê, giờ lại tỏ vẻ lạnh lùng với Văn, còn dũa Văn: “Việc tư ra việc tư, việc công ra việc công; tôi không thể cho anh biết ai làm việc ở đây:”

“Ôi, lòng dạ đàn bà!” Văn kêu vậy bằng tiếng Việt khi vừa khép cửa đi ra khỏi phòng phối trí nhân viên.

Oslo, 2 IX 2007

Chú thích:

1Một câu trong phiên khúc 4, bài So long, Marianne, của Leonard Cohen.

2Mời nghe toàn bài Lời mẹ ru và xem hình tại http://www.youtube.com/watch?v=BEobMwqdDjs. Giọng ca rất ngây thơ của NH. Nghe rất cảm động. Hình ảnh rất quê mẹ.

3Từ bài Níu tay nghìn trùng, của Trịnh Công Sơn.

4Thơ Lục Vân Tiên, của Nguyễn Đình Chiểu.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close