I Love Sakura

 

Nguyễn Văn Thà

 

Bilderesultat for sakura tree

 

Ở Na Uy, độ ấy nếu người hỏi tôi mùa xuân là mùa gì. Tôi xin thưa ấy là mùa chết đứng giữa trời; màu hoa, sắc cỏ làm người ta quên dần hơi thở. Người hỏi tôi mùa xuân là mùa gì. Tôi xin trình là mùa chao đảo trên giường mai giữa tiếng chim sơn ca réo yêu rừng ven và giọng bồng tình nam dong về đảo nắng Thái Bình. Và tôi van vĩ hoa rừng chờ, và tôi nài xin nhựa thông đợi, đợi chốc lát thôi mà, đợi người tôi yêu tỉnh giấc hẵng buông hương, bởi sợ nàng ghen xuân thơm sao sớm. (Người có biết chăng tôi từng chết những buổi sáng khởi nguyên, tẩm liệm trong muôn lần vải liệm vương hương?) Tôi nằm cạnh hồ ngọc xanh màu Ðinh Cường mát lành lơi lã, và tắm tôi gió tình lọt cửa tháng Năm; thánh sủng nguồn rờn rợn làn da. Tôi lè phè nhón lấy một múi xuân từ chiếc lẵng mộng vàng; và tôi, mở to mắt, ngoạp trọn trái xuân. Vậy mà Mai ta chết dưới cội đào/ Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu (1), cái tay thi sĩ nào mà nói bậy vậy?

Khi cờ xí cùng vó ngựa của đám quân chúa Mác Đao tràn chiếm được nước Hoa Mai, thì trên từ mỗi thớt voi, lưng ngựa, cho đến trong tráp của mỗi sĩ tốt đều có sơn; sơn từng thùng, sơn hộp, thậm chí sơn trong từng ve chai nhỏ. Sơn Ðỏ. Bọn lính tráng ấy, và cả chúa Mác Đao, đa số xuất thân, hay tự khoác, hay chạy chọt cho mình, tước hiệu “dân áo vải”, còn gọi là dân đánh trâu, nên vừa mới học thuộc lòng đâu được mấy câu vè, câu vạn đâu bên cái nước Liên Nhục, thành ra đi đâu cũng viết, viết bất cứ nơi nào có thể viết được. Và chữ phải viết bằng màu đỏ, hay ít nhất chữ vàng nền đỏ, vì màu đỏ là màu nóng, màu của sức sống, màu của mặt trời, chiếu theo lời dạy bảo của một tay mồm mép râu xồm từ một xứ lạnh teo quanh năm, thèm mặt trời đỏ. Nhưng ở cái nước Hoa Mai, màu đỏ, ấy là màu của mặt trời nóng mướt mồ hôi, là màu của máu đổ thịt rơi. Ớn chết cha, sợ chết bà đi được!

Làng An Lành độ ấy, sau mười mấy năm từ ngày dắt díu nhau di cư, đã bắt đầu an cư lạc nghiệp. Ða số đã có cơm ăn áo mặc, đã có cái ăn cái để, để mua dăm lượng vàng, hoặc tệ ra cũng đôi chỉ làm của, và nhất là có để thực hiện được cái mộng nhà ngói cây mít. Nhà xây gạch, tường quét vôi. Mới tinh khôi như những mộng lành vừa chớm, và mộng ấy sẽ mãi lành, nếu không có những dùi đục chấm sơn đỏ, bỗng một ngày, lớn lối hăm he. Mà thiệt là xúi quẩy, mấy tay trảo nha đóng chốt ở làng An Lành lại là những tay đánh trâu thứ thiệt, cho nên đòi hỏi nhiều, thiệt nhiều ”mặt bằng” để viết cho bỏ những ngày cầm cày cầm cuốc. Nào là “Chủ nghĩa Mác Đao bách chiến bách thắng muôn năm.” “Không có gì quý hơn Ðộc quyền Tự do.”, nào là “Trăm năm học cày, ngàn năm học cuốc.” Có nhiều bức tường, sợ quá, đành liều nhắm mắt đưa thân. Ðược thể, bọn trảo nha viết như điên như cuồng, nhưng viết xong, chưa ráo sơn, lại xoá, lại viết khẩu hiệu mới. Viết, xóa, viết, xóa, lại viết, viết ”tranh thủ” càng nhiều câu, càng tốt. Cho ra cái vẻ ta đây con nhà nòi vô sản chuyên chính. Cuối cùng, tường tèm lem, tan nát như giang sơn con nữ vỡ đời. Nhiều mảng tường như thế. Nhiều khoảnh nhà như vậy.

Nhưng, bức tường nhà anh chàng Thạch không như vậy. Ðã thế, một ngày chủ nhật đẹp trời, bà con giáo dân đi lễ Chúa nhật về còn thấy nơi tường đông nhà anh hiện lên hàng chữ I love Sakura; chữ I love sơn màu xanh, xanh vườn cây, lá lúa ruộng đồng; và chữ Sakura lại là màu hồng phấn, hồng cánh sen, má gái xuân thì; với kiểu chữ bay bướm, nghệ thuật trên các bìa sách của nhà An Tiêm, Lá Bối. I love Sakura. Cái đám dân miệt vườn cày sâu cuốc bẩm làng An Lành ấy không làm gì mà hiểu được ý nghĩa hàng chữ nghĩa Tây Tàu của anh Thạch, nhưng người người vẫn vui vẻ nhìn, như nhìn một cánh hoa đẹp hiếm hoi nơi đồng cỏ tầm vơ, như ngắm gái tròn trăng lạc giữa đám tuồng nữ dày dạn phấn trát son bôi.

Tôi không hiểu tại sao cái câu không phải chữ Việt đó cứ nằm khơi khơi trên bức tường phía đông đó của nhà anh Thạch như thế hằng mấy năm, vào thời gian sắt máu nhất sau ngày chiến thắng đế quốc bạch quỉ của đạo quân chúa Mác Đao, với bốn tên trảo nha cực kỳ hồng đang đường hoàng cầm dao lẩy cò. Tôi không biết bốn tên móng vuốt trung thành của chúa đó có hạch hỏi gì anh Thạch không? và anh Thạch vẫn chịu chơi, không ngán? hay là vì bốn tay ấy không biết gì, nên không dám hỏi, vì sợ quê cho chính mình, và nhất là sợ ê mặt cho chính chúa mình thờ, người đã từng thông báo cho năm châu bốn bể biết: Thần dân của ông là những đỉnh cao trí tuệ? Họ, bốn tên trảo nha, là những quí vị đỉnh cao như thế, mà không hiểu cái câu tiếng nước ngoài ấy, và khi đã một dạ một lòng với chúa, mà lại muối mặt đi hỏi cái thằng Nam man, thời há chẳng gián tiếp bôi gio trát trấu vào mặt thánh chúa của mình hay sao? Chuyện này tôi không được rõ lắm, nhưng, cho tới ngày tôi vượt biên, anh Thạch còn ở lại làng với hàng chữ của anh: I love Sakura.

***

Tôi mới dọn về ở một vùng khác rặt dân Na Uy ở, sau những bầm dập vì nhiều lần ngu muội với người mình. Bởi khi sống gần với người xứ mình, tuy chỉ gặp họ tháng đôi ba lần nơi nhà thờ, chốn hàng rau mắm, tôi dần dà thấy mình càng ngu muội, càng tội lỗi cùng mình, vì cái dân Rồng Tiên ấy ngoài chuyện trong đầu mỗi người có một ông vua ngự trị, họ còn gắn một cái đèn soi ếch ngay trước trán; soi cả ban ngày trời trưa đứng bóng. Ở những nơi tụ tập ấy, họ như về tắm lại ao nhà. Thói quen ném bùn a ha giở lại. Tôi chán cái ao ấy lắm rồi, chán từ Việt Nam lận. Nên, thôi, dọn về sống với dân bạch quỉ, ngoại ô núi vắng; tôi thờ núi xanh, mây bạc; tập ăn đồ Viking. (2) Dù phải mua nhà mắc gấp đôi nhà cũ. Dù đồ ăn Viking mắc hơn đồ An nam gấp bội. Tôi ghét người Việt; tôi an cư lạc nghiệp với người Tây. Làm tuần năm ngày, đêm ngủ tám tiếng. Khuya coi phim XXX. Sáng hè cuối tuần ngắm vú căng bãi cỏ xanh rờn, tứ chi ngọc ngà, mướt gấp ngàn lần con gái bà Âu Cơ. Ðêm đông bông lơn đầu ngõ, gặp hên ấm áp tóc vàng; không hên mở sách triết đọc dăm hàng, đôi khi sướng rên như thể bà nhập, đòi phen chỉ một chốc ngoẹo cổ ngáy khò, nước giải chảy quanh như ngày còn bé, vú mẹ vừa buông. Cũng có ban mai xuân, vù lên ngọn núi thấp sau nhà, học theo dân Nhựt Bổn, trải chiếu dưới cây anh đào thứ thiệt nằm lạc giữa rừng thông khắc kỷ cha chú, ngắm vạn môi hồng lủng lẳng tình chờ, nhâm nhi đôi xị, ngâm nga cổ kim bách phái, lại còn rềnh ràng thảo đôi tờ thư trình Tản Ðà tiên sinh, nhời rằng Hoa đào rơi rắc lối thiên thai, suối tiễn oanh đưa liếc lộc trời…. An cư lạc nghiệp giữa thiên thai xứ người. Thiên thai là thiên thai cho tôi, cái thằng cựu dân công nước CHXHCNVN, đã phải làm ngày mười sáu tiếng vẫn không đủ ăn, đủ mặc, đói nhiều lúc muốn điên, đã thế lại còn bị mấy anh loa, chị loa sáng tối ra rả dạy khôn, chứ chưa chắc là thiên thai cho dân Na Uy. Bằng cớ là có anh Na Uy trẻ tuổi bán nhà cho tôi; anh bán nhà vì vợ anh, cô Anna, một người đàn bà đẹp đẽ, cao ráo, khoẻ mạnh, là một kiến trúc sư lương cao, lại được chồng cưng chiều, tôn trọng, một người phụ nữ có đủ điều kiện để hạnh phúc, để sung sướng, vậy mà một chiều Chủ nhật đầu thu cô biệt tích. Hai tuần sau, người ta kiếm được xác cô trong rừng. Cô tự tử. Trước đó, cô ra quán mua một đĩa nhạc của một ban nhạc đang nổi tiếng cho chiếc máy CD bỏ túi của cô, mấy cái bánh mì ngọt Mặt trời, một chai nước cam, một cuốn truyện trinh thám, một chùm nho muscat. Cô chuẩn bị cho một buổi đi dạo trong rừng hưởng một chiều cuối tuần đầy nắng thu êm. Nhưng không, cô vào đấy để được chết. Báo chí cả mấy tuần bàn tán cố tìm lý do tại sao cô lại tự sát như vậy. Và có anh nhà văn cho là vì mùa thu Na Uy đẹp quá mà thôi, làm cho cô Anna ấy muốn tìm vào Thu Tuyệt Ðối, mà mùa thu Na Uy chỉ là một hành lang dẫn vào. Hay nói cách khác mùa thu Na Uy hôm ấy, chỉ là một thẻo hàng mẫu lụa thu mà ông chủ hãng Trời keo kiết nhá người kiều nữ tham lam. Và phải chăng cô Anna, cô cũng một nòi như ông nhà văn Nhựt Bổn Xuyên Ðoan Khang Thành (Kawataba Yasunari), người muốn tìm kiếm một mùa hoa anh đào lồng lộng nơi Nguồn Cội Bên Kia, dù rằng ông sống ở xứ anh  đào nơi nơi, cùng sự nghiệp văn chương lúc đó đã lên tuyệt đỉnh với giải văn chương Nobel đầu tiên lọt vào tay người Nhựt?

Người ta đoán già đoán non, nhưng tôi, tôi tình cờ lại biết nguyên nhân nào khiến cô Anna đi tự tử như vậy. Số là hôm tôi dọn về nhà mới, chồng cô, người bán nhà cho tôi, bảo là nếu tôi muốn, tôi có thể dùng cả kệ sách đầy sách mà người vợ quá cố của ông để lại. Ông không thể mang theo số sách đó đến nơi ở mới. Thế là, một đêm xúi quẩy sao đó, bị bồ cho leo cây, tôi đành đi ngủ sớm; chọn cuốn sách của triết gia Schopenhauer từ tủ sách của cô Anna để đọc dỗ giấc ngủ. (Thường thì không có gì làm mau ngủ bằng đọc sách triết.) Khi giở sách ra, tôi gặp ngay trang đã được đánh dấu, ngăn bởi một chiếc lá thu phong khô, đỏ máu bầm. Ðoạn ấy được người đọc Anna gạch dưới, rồi lại còn khoanh vòng. Ðoạn đó như vầy: Tự sát – sự tự ý chấm dứt cái hiện hữu cá nhân của một con người – là một điều hoàn toàn khác hẳn với sự chối từ ý muốn sống, và đó là một hành vi tự do có một không hai trong thế giới của những hiện hữu, là một hành vi mà Asmus, do đó, gọi là “sự biến đổi vượt trên đời thường” . Tự sát, hoàn toàn không phải là sự từ bỏ cái ý muốn sống; nó trái lại là diễn tả sự mãnh liệt chấp nhận ý muốn sống đó. Cái bản thể của sự chối từ ý muốn sống đó không phải ở sự kinh tởm thống khổ, nhưng trái lại, ở chổ kinh tởm những hưởng thụ giữa cuộc sống. Kẻ tự sát họ muốn cuộc sống, và chẳng qua kẻ ấy không thoả mãn với những cái mà cuộc sống bày ra, bày ra thế nào đó đến nỗi kẻ ấy phải trở thành một phần gắn vào cuộc sống ấy. Do đó hắn nào nhắm mắt buông xuôi ý muốn sống, nhưng là buông xuôi cái cuộc sống vừa nói, khi hắn tiêu hủy sự hiện hữu cá nhân của hắn. (3)

Ừ, ai muốn chết vì lý do gì đó, thì xin mời; còn tôi, tôi muốn sống dài dài để tận hưởng bốn mùa Na Uy, mà mùa xuân là mùa tuyệt diệu nhất. Rồi một sáng xuân như ý, khi tôi vừa xuống núi hoa đào, tay sách tay tráp, và đang sà tới tán dóc em vóc ngọc tóc nâu đang đứng nơi trạm xe buýt đầu khúc bùng binh cho viên mãn ngày xuân, thì bỗng thấy một  anh da vàng, tuồng như một Tuấn chàng trai nước Việt hắc ám thì phải, đang xuống xe tắc xi. Tôi quay mặt không muốn nhìn thêm, nhưng cũng đoán được sắc mặt của chả thế nào mà chẳng ra cái điều trầm trọng của cái dân có bốn ngàn niên văn hiến. Ðợi một lát, quay lại, tôi thấy, lạ chưa, hắn, quay lưng lại phía tôi, xăm xăm lối mòn, leo thoăn thoắt, như dân ở đây đã lâu, lên núi hoa đào của tôi! Tôi cảm thấy gã như đang xâm lăng bờ cõi đắt giá của tôi, và như tên lê dương mũi tẹt, hắn đang giày xéo núi thánh của tôi. Của tôi, của tôi! , tôi hốt hoảng, bỏ lửng câu tình. Con nhỏ mắt nâu đoán ý, buông câu:

“Cái anh người Nhựt Bổn đó, năm nào đầu mùa xuân cũng đến đây.”

“Hả!?”

“Anh ta đến đây, cứ ngồi thừ dưới gốc anh đào trên đó tới tối mới về. Cứ thế suốt một tuần. Ðã năm năm nay, năm nào cũng vậy. Cũng bộ đồ vét đó, cũng xe tắc xi màu đó.”

“Này, đừng có dựng tuồng nghe cô nhỏ. Mới học có năm đầu trường kịch nghệ mà nói năng như kịch sĩ đã thành tinh.”

Nghe tôi đùa, con nhỏ vẫn không cười, tiếp tục nói:

“Không đâu, tôi để ý và thấy đúng như thế. Có lẽ nhờ khả năng quan sát bén nhạy tôi học được trong hướng đạo tôi đi hồi mới lớp hai tới nay, và ở trường kịch nghệ.”

“Màø tại sao cô cứ cho ông ấy là người Nhựt, mà không phải là người Việt như tôi?”

“Thì cũng đoán chừng vậy thôi, vì thấy người Nhựt đi đâu cũng áo vét, cà vạt, lại còn cả chùm hoa anh đào nơi vạt túi trên áo vét, như thể mới kết hôn từ trong nhà thờ đi ra. Vả lại, hoa anh đào là hoa tượng trưng cho xứ Nhựt, không phải vậy sao?”

Vào những ngày xuân như thế này tôi không để ý lắm về những chuyện phải vắt đầu vắt trán; sao với trăng gì giữa sáng xuân lộng lẫy như vầy! Nhất là về cái giống da vàng lúc nào cũng úp úp mở mở; chán bỏ mẹ! Và cảm thấy rằng nói chuyện lăng nhăng rồi đâm cáu vặt như vậy, thời thật phí cho ngày xuân quá ngắn, tôi bèn xoay qua nói những chuyện lăng nhăng khoái trá đương nhiên phải trào ra cửa miệng khi đứng trước người em gái Bắc Âu nõn nường, thơm phức. Nhưng khi nghía em, thấy chữ LOVE nằm giẫy giụa trên ngực áo thun em, thằng lưỡi tôi sạn đạo loanh quanh:

“Nina có biết không, hồi ở Việt Nam, tôi thấy có người…”  và tôi nói về những bức tường, những khẩu hiệu của một thời hổ lốn, của lòng kiêu căng, và về cái hàng chữ I love Sakura, trong đó chữ Sakura tôi tới nay vẫn chưa hiểu.

Cô nhỏ ra chiều cảm động:

“Cái anh chàng đó chắc muốn tỏ tình với cái cô nàng nào đó mang tên đó.”

Tôi sốt ruột, cắt ngang:

“Ừ, tôi cũng đoán là như vậy, nhưng mà tên đó có nghĩa là gì mới được chứ!”

”Tôi không biết, nhưng cái từ này tôi nghe quen quen. Hình như là tên một loại kem mặt của Nhựt nào đó tôi có dùng qua. Không chắc lắm… Chắc con trai người Việt các anh ai cũng thương sâu thương đậm như thế? Anh có như vậy không? Cái giống đàn ông Na Uy nhạt nhẽo chết đi được; quay đi quẩn lại không qua khỏi cái cửa mình.”

Tôi chưa chi sướng rên líu lưỡi ”á, à…” và chưa kịp nói năng gì, Nina đã xăng xái chuyển đề:

”Hay là chúng mình leo núi lên hỏi cái anh chàng người Nhựt đang trên kia đi! Biết đâu nhờ vậy sẽ giải tỏa được câu thắc mắc lâu năm của anh.”

Tôi thở phào nhẹ nhỏm: “Ừ, phải đó.”,  không phải vì sắp được giải tỏa điều thắc mắc rất lâu năm ấy, cho bằng thấy con nhỏ rắp phạm điều tối kỵ trong binh thư: Hành binh dã, kị thâm lâm. (4)

Nhưng vừa leo lên được mấy gờ đá, Nina đã ngoái cổ xuống, nói chuyện không đâu:

“Anh có biết không mấy người ở đây lâu nói là cây hoa anh đào trên đó là do ai đó dư tiền, hoặc ai đó mê hoa anh đào, nên mới bỏ ra cả mấy ngàn đồng mua lên đó trồng? vì trước đây đâu có. Và cây mọc vượt thật nhanh. Khi anh đến đây ở tính ra thì cây chỉ mọc ở đó mới khoảng năm năm, mà nay to lớn như cây trăm năm. ”

Khi leo đến nơi, lạ, chúng tôi không thấy anh chàng người Nhựt của Nina đâu. Con nhỏ kêu hú bằng tiếng Anh, tôi bằng tiếng Pháp cầu may, nhưng vẫn không nghe tiếng trả lời, mà chỉ thấy những cánh hoa anh đào rụng xuống nhiều khác thường, như mưa.

Chẳng mấy chốc hoa rơi ngập lút đầu hai đứa chúng tôi. Chúng tôi cười khúc khích trong tổ kén đào hoa (5) hạnh phúc. Chúng tôi biết chúng tôi sẽ chết chắc trong tổ kén kết bằng loại sợi còn chắc hơn sợi ceramic (6) có tên Việt là sợi mộng dưới hoa. Chúng tôi bận thương nhau nên không còn rảnh, dù một tích tắc, để mà tìm xác định cái chữ Sakura lạ hoắc có nghĩa gì. Cho nên thời gian chẳng trôi rề rà như nước dưới cầu Mirabeau (7) đâu đó, mà nó nhanh, nhanh còn hơn giòng mộng chàng Từ Thức 8. Chúng tôi biết được như thế, vì trong nháy mắt, thằng nhóc Nguyễn Văn Thà Thứ Lang đã trổ mã hí vang, đạp tung tổ kén chúng tôi, phóng đến xứ Phù Tang ngàn hoa anh đào. Cái thằng nhỏ trước khi chui vào tổ kén xứ thần nữ Mặt Trời, còn kịp viết thiệp báo tin song hỉ cho hai chúng tôi: Con nhỏ cùng vào kén với nó có tên là Sakura; và nó còn cẩn thận bắn một mũi tên từ chữ Sakura, và nơi cái mũi nhọn của mũi tên ấy nó hí hoáy hai chữ Anh Ðào. Trời đất, thông minh nhất nam tử, ấy sao tôi, mãi mấy chục năm, nay nhờ thằng cu mới biết được nghĩa của chữ SakuraI love Sakura: Tôi yêu Anh Ðào. Tôi là cái anh chàng Thạch, và Anh Ðào là cô gái đẹp cách nhà anh Thạch một con mương chơ đâu xa xôi gì! Yêu như thế, lại ở gần nhau như thế, thế nào mà chẳng lấy nhau. Sao lại không? vì họ xứng đôi vừa lứa quá chừng chừng.

 

Thư của thằng em út của  tôi; và tôi chỉ trích lại một đoạn.

… Khi đọc thư anh cho mẹ nghe, tới chỗ anh hỏi thăm cô Ðào, mẹ nhăn mặt, và mẹ dặn đừng cho anh biết gì về cô Ðào mà làm gì. Nhưng, thôi, em nghĩ, báo cho anh biết cũng chẳng sao.

Cứ như người ta nói thì cô Ðào ấy đã vượt biên lọt. Và nghe nói cô ta đang ở nơi cái nước anh Thà đang ở. Nhưng trước khi vượt biên, cô ta lại chửa hoang. Mấy mụ già trầu, mấy gái già thiếu nhan sắc, mấy thằng đàn ông đực cho là cô đã nằm với tay trưởng đồn công an biên phòng La Tòng, để nhờ đó hắn ta mới chịu bán bãi cho tàu cô đi. Đã thế, cái ông bố ghẻ của cô Ðào, khi uống rượu say lại nói lung tùng phèng là “cái con đĩ” Ðào đã quyến rũ ông nằm với ả hầu lấy năm lượng vàng mà ông và vợ trước của ông đã đầu tắt mặt tối mấy mươi năm mới có được; và ông đã phải cực khổ giấu quanh khắp nơi. Cô Ðào, khi dụ được vàng, lớp thì se sua may mặc, lớp thì mua dầu mua đèn móc nối vượt biên. Và khi cô Ðào qua được bên nớ, nghe nói cô lấy người Na Uy, mà chẳng sung sướng gì. Nhưng cô có về Việt Nam một chuyến. Và cô cho tiền mẹ anh Thạch xây mộ cho anh ấy. Chắc anh còn nhớ cái anh Thạch cuồng chữ tàng tàng đó? Mẹ anh ấy kể là một bữa, cơm nước xong, anh ta mặc bộ đồ vét, chải tóc mượt, cài hoa đào hoa điếc gì đó, như thể sắp lên nhà thờ kết hôn, thế rồi anh lên giường nằm chết tỉnh queo. Rồi cả cái cô Ðào đó, em nghe em cô ấy nói là cô Ðào qua được bên đó ngon lành như thế, vậy mà một hôm leo núi sau nhà sẩy chân đập đầu vào đá chết. Thiệt là con người có số: Ðã chết thì ở trong hũ nút cũng chết…

Mùa xuân năm nay, trong khi phải đọc tài liệu báo chí được lưu trữ trong database của thư viện quốc gia Na Uy để viết một bài nhận định về người tị nạn Việt Nam cho một tờ báo địa phương, tôi tình cờ thấy một bản tin nói về, và hình của, một phụ nữ người Việt tên Anh-Dao Thi Vuong đã treo cổ tự tử cạnh một khối đá hình nhân. Ðích thị là cô Ðào làng tôi. Cô mặc chiếc áo bà ba hình những cây hoa anh đào rực rỡ; và trên nền vải hoa trước ngực, phía trái, có hàng chữ thêu dọc: I love Ishi. Rồi nhân trong bài báo có tên cả cô thông dịch viên Việt Nam giúp cảnh sát điều tra vụ tự tử, và vì muốn biết tường tận hơn sự việc, tôi điện thoại hỏi cô. Khi nghe tôi nói về hàng chữ tiếng nước ngoài trước ngực của cô Anh Ðào, cô ấy thảng thốt và cho biết là cô có đọc, và đọc đi đọc lại mấy lần , ( ”Vì em cũng là đàn bà mà anh,” cô ấy nói vậy) ; và cô xác định hàng chữ đó là hàng chữ Việt: Em yêu anh Thạch, chứ không phải chữ Tây, U gì đó như tôi thấy nơi tấm hình lưu trữ trong database.

Tôi đâm bối rối, tính viết thư hỏi thằng Thà Thứ Lang học giả của tôi đang ở Nhựt, nơi mà hoa anh đào, đá sỏi có nhau, và cũng là xứ mù mây huyền thoại, nhưng mà thôi, chẳng cần.

Rồi mấy tuần nay Nina của tôi bệnh phải nằm nhà thương. Buồn, tự dưng tôi lại lớ ngớ trèo lên núi tôi thăm cây hoa anh đào độ rày lá đã mọc xum xuê, xum xuê tầm thường như những cây khác trên rừng đồi, lại còn sâu sia. Và trên thân cây, ai đó mới viết hàng chữ gì đó màu xanh màu đỏ  màu hồng chen nhau, loạn nét, rời rã, ngả nghiêng. Tôi tính gọi kể cho Nina, nhưng mà thôi chẳng cần. Và tôi cũng tính dò hỏi xem ai đã trồng cây hoa anh đào, hay là tự dưng hoa mọc ở đó, nhưng mà thôi cũng chẳng cần.

Mùa xuân sau, tôi và Nina vẫn có ý chờ ông người Nhựt, nhưng không thấy ông ấy tới. Và mùa xuân sau nữa cũng vậy.

Bergen, 29.V. 03

 

Chú thích:

(1) Mai ta…: Lời của Phạm Thiên Thư trong ca khúc Ðưa em tìm động hoa vàng của Phạm Duy.

(2) Tổ tiên của dân Na uy ( và dân Thụy điển, Ðan mạch, Băng đảo.) – Thức ăn theo kiểu xưa của người Na uy: thô, không biến chế nhiều, ngon nhưng rất mắc.

(3) Ðoạn này trích từ tác phẩm Thế giới được xem như (sản phẩm của) ý muốn; luận đề hai: về sự-tự-biết-mình-đã-đạt-được; về sự chấp nhận, và về sự chối từ ý muốn sống – Arthur Schopenhauer (1788 – 1860), triết gia ÐứcNVT dịch đoạn này.

(4) Hành binh… : Hành binh ư, tránh rừng rậm.

(5) Ðào hoa: Ðây là hoa anh đào; ở Anh, Mỹ gọi là cherry bloms; ở Canada gọi  flowering cherry, là đào bông khác với đào trái thường được nói tới trong thơ văn Trung Hoa. Cả hai, xuân đơm hoa, khi hoa tàn, cây đào bông chỉ còn có lá, còn cây đào trái kết trái từ cuống bông, lớn dần và cho trái giữa hè. Mùa thu tất cả đều rụng lá. Ðông, trơ cành. Cả hai thứ đều có nhiều giống khác nhau. Các giống anh đào đẹp nhập từ châu Á vào trồng ở châu Mỹ có Kwanzan màu hồng nhạt hoặc trắng của Ðài Loan, Yoshino hồng hoặc hồng nhạt của Nhựt. Anh đào hầu như hoàn toàn không có ở châu Mỹ. /  Còn đào ăn trái thì nhiều, nhập từ châu Âu qua Mỹ; có thể kể các loại như peach: đào có lông, nectarine: đào da láng, mỗi loại cũng có nhiều giống, apricot: trái mơ bên xứ mình ngoài Bắc cũng có, và plum: trái mận, cũng có ở ngoài Bắc. Trái đào tiên bên Tàu chánh thị là peach hoặc là nectarine, chứ không phải apricot. (Chú thích của Bành Công Tín).

(6) Sợi ceramic: Loại sợi tổng hợp nhẹ,ï chắc đến nỗi được dùng để làm áo giáp, và vỏ máy bay…

(7) Cầu Mirabeau: Ý nói về bài thơ Le pont Mirabeau (Cầu Mirabeau) của Guillaume Appollinaire. Bài thơ ý tứ nản nản, nhịp thơ chậm rãi, ví dụ, như khổ đầu: Sous le pont Mirabeau coule la Seine / et nos amours / Faut-il qu’il m’en souvienne / la joie venait toujours après peine: Dưới cầu Mirabeau sông Seine lặng lờ / và tình ta / vì cớ gì tình phải làm anh nhớ / niềm vui đã luôn đến sau đau buồn.

(8) Từ Thức lạc vào động tiên trở ra làng xóm đã bể dâu trăm năm có lẻ.

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close