It’s a Small World

 

Nguyễn Văn Thà

 

Bilderesultat for it's a small world disney

Đường hầm du hành “It’s a Small World” ở Disneyland, Paris, Pháp

 

Kính nhớ nhà văn Xuân Vũ.

Tặng bãi biển Hiệp An, Hàm Tân.

 

 

Những tiếng sóng thiên cổ vẫn còn nằm chơi trong từng hạt cát. Tiếng sóng chui vào tinh thể quyến rủ ấy, tưởng nhởi chơi đôi bữa rồi về với nghìn trùng nước biếc nhưng rồi ở lại luôn vì những vi thể cát ấy hóa ra là những cung điện rạng ngời, những phân thân Nhật Nguyệt lạc nẻo trần gian từ muôn kiếp trước.

Những tiếng sóng ấy đôi lúc lạc nẻo mắt những người đàn bà, tưởng lỡ chân dăm tối rồi về với vương quốc lân tinh, lại vướng phải keo sơn. Bờ bãi miền Nam ốc đảo hiếu hữu, lòng vực cát trắng ấp yêu lữ thứ. Những tráng sĩ cuồng ngông, nơi vực sâu núi thẳm, nơi biển lớn sông dài có lúc nào nhớ những lòng cát đêm trăng? Những ngọn bút dặm trường, thấm mực nào nỡ quên son mặt trời cõi lưu li ấy?

Nắng cho hơi ấm diệu kỳ, mưa cho khí mát ngọc trong, những hạt cát Nhật Nguyệt vẫn trải dài mưa nắng, chờ tiếng sóng riêng mình trở về mở cửa sum vầy.

Trong làng An Bình có những anh dân quê người miền Nam chạy theo chiếc xe bí bo bí bo yêu nước. Chiếc xe bí bo yêu nước ấy tự cho mình là ”bánh xe lịch sử”. Nó đòi cán đủ thứ, cán tất cả những gì êm êm, dịu dịu, mát mát, và những gì thầm lặng cõi riêng. Phải chăng vì nó nghèo, nó buồn quá, mượn hơi hùm gầm rộn? Cho nên, xe gắn kèn thiệt to, đèn pha cực mạnh, giăng giăng cờ máu tận đâu đâu. Xe sợ những thoáng gió heo may, những ly chanh đường uống môi1, những tờ thư xanh, những tiếng thầm thì của muôn sinh linh, từ cọng cỏ, nụ hoa, cho đến những khoảnh tâm tư người.

Và xe ấy rất sợ tiếng sóng biển Nam ngàn dặm thầm thì tình thiên cổ mang mang.

Bởi tiếng sóng đó từ thiên cổ chứa bao điều thầm lặng nhỏ, to; to của những mồ hôi thầm lặng rừng mắm, những chiến công giữ nước, những nghĩa lớn lấy dân làm gốc; nhỏ của những thầm thì tình tự, những tiễn đưa hội ngộ, những nước mắt tiếng cười của con người sông núi, của con người ruộng lúa con kinh, mơ ước một mái nhà tranh cho hai con người, ngàn năm qua vẫn chưa dựng được, nhìn lại điêu tàn mà khóc, nhưng tang thương dâu bể vẫn thương nhau.

Và người có biết không tiếng thầm thì tự cổ ấy đã lèn vào trong mỗi hạt cát và nằm luôn trong đó như những hạt nguyên tử? Phải đeo hoa tưởng tượng, phải mặc áo tơ tình, phải xông hương tha thiết, phải uống mật lặng thinh mới đủ tinh lực nâng ra những hạt nguyên tử thanh âm ấy. Sóng biển Nam Trời tạo, hạt thầm thì ấy Người thành. Hạt thầm thì ấy có tên chữ là lịch sử, các nhà thơ gọi làø tiếng lòng. Tiếng lòng ấy nằm phơi cùng cát giữa trời đất mà đón phước cao lộc cả của ánh sáng láng lai, của tinh quang mặt trời Ðàng Trong, của những miếng gió đùa ngọc trăng. Mà ngọc trăng, ngọc thương thương, những miếng trân châu tan vỡ tròn trịa không làm đau ai, cho nên tiếng trăng dịu êm vang tới nghìn trùng thiên thượng, vạn dặm biển lớn, cho nên những kiếm báu khi mài dưới trăng ngọc hớp thêm dũng khí, phàm phu dưới trăng dần lộng hào quang, và tiếng lòng  thêm đẹp đẽ nhường bao.

Tiếng tâm tư ấy còn gọi là sóng lòng. Tinh anh phát tiết, sóng lòng làm nên sách vở thi thư. Chẳng ai diệt được tiếng sóng, chẳng ai dập được tiếng lòng, và cũng chẳng ai hủy được sách vở. Ðời Tần Nhất Thế, Sáu Kinh lao đao, triều nhà Minh cướp sách xé thư, Adolf Hitler khạc lửa đốt ra tro vạn quyển, quân Mông Cuội tôn sách đỏ, đốt sách xanh, giấy dù cháy, chữ ngọc vẫn còn.

Ở xứ tiếng sóng ấy có một chàng trai trẻ, chuộng đọc sách, ươm thơ, mê những tiếng thầm vạn cổ của cát, bỗng một đêm nghe ra lời thơ, tiếng lạ:

Lời kể về tiếng lau sậy ven bờ nội hải Caspienne, về một chàng sinh viên người Nga, gốc dân hát rong, du học Paris, yêu đơn phương cô gái vũ ba lê Svetlana đang công diễn ở đó. Dù chỉ biết nàng qua sân khấu trong vở nhạc kịch Tiếng lau sậy ven bờ Caspienne, chàng đã mê nàng. Chàng mê vẻ đẹp mỏng giòn của nàng hoà đàn cùng tiếng sậy. Tai tài hoa nghe trong những vi vu ấy lời thác đổ, bước chân binh mã, những tiếng thét, tiếng thở dài, rên xiết, khóc than thiên sứ nào sắp vãi tung xuống đất nước Nga, và e chừng cả và thiên hạ. Và tai tài hoa còn linh cảm trong tiếng sậy rung có một cái gì đó chưa nên hình nên tượng, nghe như cam chịu mà uy dõng vô chừng.

Bởi sợ rằng nàng sẽ cho chàng là đồng bóng bô hê miêng, chàng chỉ dám nói với nàng qua tờ thư những dựï cảm như thế.

‘Tôi phải trở về để rung lên tiếng sậy!’

Nàng đã cương lên một câu như thế sau lời cuối vở nhạc kịch, vào xuất trình diễn sau cùng trước khi lao vào cơn bão mà nàng cho là hào hoa nghĩa khí.

Không biết đấy là lời nhắn gởi cho đám Nga kiều, hay cho người gởi lá thư.

Nhưng rồi tin tức dồn dập tới Paris theo bước chân trốn chạy của những người quyền qúi, trí thức, sĩ quan. Họ kể là giáo giở đã lên đường, giấy báo tử rơi đầy mái rạ2, và những tên sát nhân kiểu mới giương những lá cờ mới, và những giòng máu tuẫn đạo mới, nhưng buồn tất cả, chỉ có cái loa là vui3.

Chàng sinh viên ấy bỏ Paris về miền Nam tìm ao hồ ngồi để ôm tiếng sậy…

***

Nam không bao giờ nói láo. Có chăng chỉ nói láo đôi lần với lũ cháu đã dốt lại lười: ”Cậu học hồi giờ, bao giờ cũng đứng nhất lớp, sao tụi bay không thấy đứa nào nhờ cậu chi cả.” Nam có đứng nhất lớp thiệt, nhưng không phải lúc nào cũng ngon lành như vậy, vì thời gian học tiểu học  anh chỉ leo đến hạng nhì là cùng, vì mười tháng như một  có con nhỏ Kim Anh bao giờ cũng đứng đầu lớp, dù Nam ê a học bài sáng tối, dù được ông chú kềm cặp, cũng không cách gì lay được cái ngôi thứ ấy của cô nàng.

Ra tỉnh học lớp đệ lục, may cho Nam, Kim Anh được xếp vào một lớp với khác với Nam và vẫn không ai vượt nổi Kim Anh, từ đó Nam mới trồi lên chiếm được vị thứ mơ ước, vàø cứ giữ mãi vị thứ đó cho hết những năm trung học.

Hồi học tiểu học ở làng, Nam không hề nói chuyện với Kim Anh, dù chỉ  một lần. Không phải Nam mà thôi, cả nhóm học sinh dân di cư, cả nam lẫn nữ, không hề tiếp xúc với đám học trò dân địa phương, ngoại trừ những khi bọn nam đánh lộn. Nhưng nghĩ cho cùng chắc gì cu Nam đã dám nói chuyện với Kim Anh, vì ngoài chuyện cô nàng dễ nể ở chổ đè cổ cả lớp chuyện học hành, cô nàng còn da dẻ trắng phau, má lúc nào cũng hồng hào, cao dong dỏng, lại còn má lúm đồng tiền, áo quần lúc nào cũng thẳng nếp, lại còn khoen tai vàng lủng lẳng. Cái khoen vàng giống như khoen vàng của một bà hoàng hậu nào đó, trong một cuốn sách nào đó của ông chú của Nam, và hình như Kim Anh cũng giống bà hoàng đó nữa. Cô nhỏ là con ông Tư Dẹo, người địa phương, ruộng mấy chục mẫu, trong khi nhà Nam mới di cư vào ông ba trần thân hạ cây rừng già, moi rễ tranh mới được vài sào đất. Nam phải ăn khoai lang sáng đi học, trong khi cô nhỏ lúc nào cũng gói xôi đậu xanh đậu đỏ, đôi khi lại bánh gì gì đó bọc kiếng xanh vàng.

Người di cư còn đồn là tía Kim Anh bị cà thọt là vì ông hồi trước bị Pháp bắn què giò, và giờ vẫn còn lén lút tiếp tế cho mấy ông trong rừng.

Cái ông Tư Dẹo ấy, đúng là Việt Cộng. Cảnh binh mũ đỏ thời ông Diệm chạy xe nhà binh tới rượt hai ba lần mà ông vẫn thoát. Rồi ông Diệm bị lật đổ, Việt Cộng lớn mạnh. Họ đêm này chặt đầu xã trưởng này, đêm sau ám sát ấp trưởng kia. Cảnh sát chìm lại đến bắt ông Tư Dẹo, và tuy là cà dẹo, ông vẫn chạy thoát được, lần này ông chạy luôn vào rừng. Người trong làng phục cái tài chạy của ông Tư Dẹo. Thỉnh thoảng ông lại dẫn du kích về làng. Ðám dân địa phương thì vui. Ðám dân có đạo di cư lại sợ run vì ở ngoài Quảng Bình họ đã biết mấy ông giải phóng là ai. Nhưng mấy ông giải phóng chẳng làm gì đám dân di cư, kể cả chuyện yêu cầu ủng hộ lương thực, hoặc cho cách mạng vay có biên lai đàng hoàng như họ từng làm với dân địa phương. Họ chỉ mời bà con các chú, các bác, các dì, các cô, các cháu nhi đồng, mà họ phong cho là cháu ngoan bác Hồ, vây quanh họ để họ đọc cho nghe đủ loại chiến thắng, đủ loại thi đua, những loại tin tức này được in ronéo nhoè nhoẹt, thường là vừa đọc vừa đánh vần. Loại tin tức này, bật ra dô chưa rà đã dính ngay, lỡ dính, họ (dân di cư) thế nào cũng chửi tục.

Tuy mới di cư chỉ được dăm năm, nhưng họ là dân đói đất từ ngoài Quảng Bình, lại chịu làm ăn, nên có đất là tận lực làm, lại còn có biển kề bên, trên cơm dưới cá, và nhờ có máu cá gỗ, ăn gì cũng được, cơm với cá thiệt là phước lắm rồi, miễn là no bụng, chứ không phải sáng chè đậu đen, tối chè xôi nước như mấy mụ dân địa phương, nên họ khấm khá mau. Nhưng họï, những người di cư gốc Quảng Bình ấy, chủ trương phải có cái nhà chắc chắn để còn lo làm ăn và cái ra dô cho vui nhà vui cửa. Họï bắt đầu làm nhà ván, cột vuông, lại còn dư tiền mua cả ra dô National, thậm chí còn chơi luôn Sony cho bền, để  nghe Hùng Cường – Thanh Tuyền song ca ”anh là lính đa tình” , ”bảy ngày phép thường niên đây rồi.” hay Duy Khánh, Hà Thanh hát về đất khổ Miền Trung của họ. Họ không thích nghe cải lương, vọng cổ: ”Hát thì hát đại cho rồi, còn bày đặt ngân nga chi cho mất thì giờ. Mẹ, hèn chi cái dân địa phương cứ nhà lá hoàn nhà tranh.” Nói chung họ tiếc tiền, và họ ham công tiếc việc, cho nên những hôm phải thức khuya nghe đọc truyền đơn như thế, mà gà gáy canh hai đã phải vác chèo đi biển, gặp nhau, thế nào họ cũng: ”Ðụ mạ cái thằng Tư Dẹo muốn đụ vợ thì hẹn mụ ta ra rừng mà đụ, muốn về đụ vợ còn bày đặt đưa mấy thằng du kích đàn em về làm màu làm mè chính chị chính em, làm mất ngủ, canh hai đã phải dậy đi biển, làm buồn ngủ quá trời!” Ai cũng trù cho cái thằng cha Tư Dẹo chết cho dân (di cư) đỡ khổ.

Ngoài chuyện về làng tuyên truyền, nhóm du kích của ông Tư Dẹo còn rán giật cái cầu Ðôi đúc bê tông mà ty công chánh mới làm xong, chắc chắn, đẹp đẽ, có thành cầu bằng sắt đàng hoàng. Trời sáng trăng gái trai có nơi hò hẹn trò chuyện. Bọn chăn bò, mùa mưa nhảy từ trên cầu nhảy ụp xuống khe tắm, mùa nắng khe khô, lòng cầu thành nơi trú nắng, và đôi khi là sòng bài cắc tê, xì lác ăn giây thun. Nhưng quan trọng hơn hết là người ta vững bụng giòng xe bò đi qua, không lo bò hoảngï giật gãy xe như mỗi khi qua chiếc cầu gỗ cũ gập ghềnh thời trước. Nhưng mấy ông trong rừng nhất quyết phải giựt, đợt này tới đợt khác, cứ sau mỗi lần giật cầu lại xiêu thêm một chút cho sập, thì cứ cho là để cản trở xe nhà binh, nhưng cái dân di cư đâu cần biết điều đó, mỗi khi qua cầu, họ lại: ”Ðụ mạ cái thằng Tư Dẹo không cho ai làm ăn chi hết! Bán cả dòng họ nhà nó cũng không làm được cái cầu ngon lành như ri mà cứ đi phá!” Ai cũng trù cho cái thằng cha Tư Dẹo chết dấp cho dân (có đạo) làm ăn.

Như đã nói ở phần trước: Cái ông Tư Dẹo ấy là ông già của Kim Anh, người con gái học giỏi dễ nể, đẹp dễ nể đó. Trước đó học trò di cư có đạo không ai nói chuyện, sau này, khi chiếc ông Tư Dẹo vào rừng, giật sập chiếc cầu, con nhỏ càng bị ghét cay ghét đắng.

Nhà thờ vẫn loa vang lời Chúa, lời cha về Chúa, về con chiên bê bối của cha. Và lũ trẻ vẫn đi học, trong lớp nhiều lớp, với ông thầy Lâu. Nhưng tụi học trò di cư càng xa lánh tụi học trò địa phương, ngoại trừ khi đánh nhau. Và không biết tại sao Nam cứ bị cái thằng Ðực trâu cui đánh hoài. Khi bị đánh, không ai bênh, kể cả phe di cư ta, lại còn vỗ tay reo hò, đám con trai di cư vỗ tay bạo hơn cảø. Mười lần như một chỉ có con nhỏ Kim Anh đến lôi thằng Ðực ra. Thằng Ðực có vẻ nể Kim Anh, buông ngay, nhưng vẫn còn vùng vằng ra điều dân ngon: ”Coong cạc tao!” Lần nào cũng vậy.

Nam lấm lem cát bụi, đôi lúc mặt bị sưng vù, tức tối, khóc đôi khi, và không thấy cảm ơn con nhỏ dân miền Nam đó. Những lần trước cũng vậy.

Về nhà, mẹ Nam vừa lấy lá chèø nóng trộn muối xoa cục u, vừa xuýt xoa khổ sở:

”Thiệt tội nghiệp quá! Rứa con có thưa thầy giáo chưa?”

”Mỗi lần khi học xong, thầy đạp xe về làng thầy, thằng Ðực mới đánh. Bữa sau thầy đến, con cũng không dám thưa, vì lại sợ hắn đập nặng thêm.”

”Thiệt là tức, mà biết làm răng bây giờ, cái thằng Ðực là con dân địa phương Cọng sản. Cái tụi Cọng sản…”

”Ðâu phải dân Cọng sản người nào cũng xấu.”

”Mi nói răng?”

”Con nhỏ Kim Anh nó kéo thằng Ðực ra; không, con còn bị đập nặng nữa!”

”Con gái thằng cha Tư Dẹo?”

”Dạ.”

”Rứa thì con phải cám ơn người ta!”

”Không biết làm răng con không cám ơn được.”

”Tại thẹn hay răng? Hay tại con gái mà cứu con trai?”

“Con không biết!”

Mẹ Nam cười tủm:

“Răng lại không biết!… Mà đỡ đau chưa con?”

“Nó học giỏi nữa đó mẹ! Con cố hoài mà không cách chi lật nó được!”

Mẹ Nam cười:

“Thì có ngày con cũng lật được nó.”

Ông Tư Dẹo và du kích của ông tự do vào ra làng xôi đậu An Bình được khoảng một năm, thường là ban đêm. Ðược lướt, sau đó còn về cả ban ngày, ngồi ăn chè, ăn bún giữa chợ chồm hổm như không. Dân di cư vẫn sợ. Sợ nhiều. Ðụ mạ, đụ mẹ cái thằng Tư Dẹo, và chỉ đụ lén.

Thế rồi một hôm, một đại đội lính Quốc gia, sư đoàn 10, khăn đỏ, đi bọc đường biển tràn vào, chạy ngang nhà trường, ào ra khu chợ chồm hổm trước trường, nơi có mấy anh du kích vừa đeo súng, vừa ăn quà, vừa đọc truyền đơn cho mấy chị hàng xén nghe. Ðám du kích, và ông Tư Dẹo chạy toe vào các khu vườn ăn trái, rồi lủi vào rừng. Không một tiếng súng. Phía lính Quốc gia, có lẽ vì dân đang họp chợ, phía du kích, chắc là súng bị sét hoặc tiết kiệm đạn hay sao đó. Chỉ có một điều, dân di cư ai cũng công nhận: “Cái thằng cha Tư Dẹo chân cà thọt mà lủi thiệt nhanh!” Dân di cư hả dạ, chỉ dám hả dạ với nhau.

Ðại đội lính sư đoàn 10 ấy ở lại làng khoảng một năm, cho tới khi lập được đồn có một đại đội địa phương quân trấn đóùng. Lính cụ Hồ anh hùng ở đâu, bách chiến bách thắng ở đâu, chớ ở làng An Bình không thấy điều đó. Nhất là đối với đám dân di cư, thì cái sự lúc mô cũng thắng đó nhất định là ba xạo. Bằng cớ họ thấy ở ngoài Quảng Bình và bằng cớ rành rành của ngày hôm đó. Từ ấy, không thấy mấy anh giải phóng về thăm lại làng.

Và ông Tư Dẹo cũng ở luôn trong rừng.

Và ruộng nương mấy chục mẫu của gia đình ông, lớp bán rẻ, lớp cho làm rẽ như cho. “Ruộng nương cũng hoá thành rừng.” Ðấy không phải là lời thơ, lời ca của mấy anh phản chiến đâu à nghe! Mà là lời của mẹ Nam, một người đàn bà nhà quê quê Quảng Bình, thuộc nguyên cuốn truyện Kiều. Thuộc Ðoạn Trường Tân Thanh như  thế tất ứa ra thơ và cũng ứa ra tình thương, dù kẻ ấy là cái tụi Cọng sản.

Gia đìnhï ông Tư Dẹo nghèo nhanh, và bà Tư Dẹo bắt đầu chạy quanh mượn khoai, mượn gạo. Một bữa ra chợ chồm hổm, mẹ của Nam ngó trước ngó sau, nói nhỏ với bà Tư Dẹo:

“Nầy thím, hồi trước chú trước khi vào rừng có bán cho tui ba cây cột nhà vuông cho nhà mới của tui, tui chỉ mới trả tiền được một cây, chú đã vô rừng. Tui không có tiền sẵn đây, thím lên nhà cho tôi gởi lại tiền để thím đong gạo cho các cháu nó ăn.”

“Dzậy hả bác Hai? Mà con gái tui cứ nhắc thằng Nam con bác hoài!”

“Mà con Kim Anh nay ra sao rồi? Nhờ nó, không thằng Nam của tui chắc cứ bị đòn hoài.”

“Nó nay phải nghỉ học rồi bác ơi! Nó học giỏi quá chừng chừng, mà tui đành bó tay.”

”Thằng Nam nhà tui cũng khen con nhỏ quá xá!”

”Dạ! Phải chi có ổng ở nhà, ruộng nương tụi tui có, nó học tới đâu mà chẳng được. Ổng cứ nhắn dzià… ấy cha, tui lỡ miệng…”

“Không sao đâu, chị cứ nói, tui không dám hé đâu! Mà tui cũng đàn bà như thím, nói cho vơi khổ thím à…”

Vợ ông Tư Dẹo quyệt nước mắt:

“Cám ơn bác Hai gái!… Ổng cứ nhắn là tui phải rán cho con Kim Anh đi học. Mà rán sao được mà rán! Tui thân đàn bà mà ba bốn đứa con dại. Rồi chồng mình nữa, mình đâu có bỏ được!”

Vợ ông Tư Dẹo chảy nước mắt từ đôi mắt đỏ âu sầu.

Bà vợ ông Tư Dẹo nhận được tiền cột, và sau đó thỉnh thoảng bà còn nhận được khi thì thúng khoai, thùng lúa, khi thì chén ruốc, ký cá khô. Ông anh của Nam đi lính trên tiểu khu biết chuyện cứ la rầy: “Bả với con bả ăn một nửa, cái thằng Tư Dẹo ăn một nửa. Mấy thằng bạn con ở Phòng Hai cho con biết là bà ta vẫn lén lút tiếp tế cho thằng chả.”

Mẹ Nam không nói gì. Anh của Nam cũng chẳng làm được gì.

Nhà của Nam một ngày một làm ăn khá, nhờ khai khẩn được nhiều ruộng rẫy tốt, bán thêm phân hóa học, thuốc sâu, và nhất là ba của Nam còn thầu cây be, và với một phần tiền lời của những thứ ấy, mua được gần cả chục mẫu ruộng của nhà Kim Anh.

Cái anh chàng Nam là cái giống vô ơn bạc nghĩa. Hắn không một lần cảm ơn người đã ra tay nghĩa hiệp cứu hắn nhiều lần. Hình như hắn quên hết mọi chuyện. Vì hắn ham học. Sau khi học lớp đệ lục, trường trung học công lập tỉnh lị xong, hắn được ông cha người Tây đưa cho đi Sài gòn học trường dòng. Ở đấy hắn không mê làm môn đệ Chúa, tập tành để làm “cụ” là mấy, cho bằng ham học được thêm nhiều chữ, đọc thêm nhiều sự lạ, nhất là văn chương. Văn chương sao mà hay ho, mê đắm như thế; văn chương Việt đã hay quá cỡ, khi đọc được tiếng Pháp, văn chương của mấy ổng lại say đắm quá trời! Bằng cớ là khi xem lễ hắn cứ ngủ gục, nhưng khi học bài mắt hắn cứ sáng rỡ. Ham mê kiến thức làm cho hắn vui, và hình như làm cho hắn quên mọi chuyện khác. Và dĩ nhiên, ham mê ấy, cọng với trí thông minh kha khá của hắn, làm cho hắn lúc nào cũng đứng nhất. Mỗi tháng kêu điểm nơi hội trường nhà dòng, hắn đều được vỗ tay khen ngợi. Những lần như thế hắn cứ cúi đầu ngượng ngịu, đỏ mặt.

Về nghỉ hè, hắn lại lo dạy giáo lý, lo tập hát, lo đánh đờn cho nhà thờ.

Hắn là một con người bận rộn về những chuyện nhiều người thích được bận rộn. Thời gian vẫn bất nhân từ ngày Nhật Nguyệt phân minh. Và con người vẫn ngu muội từ ngày hết bò bốn chân, ta đây đứng thẳng, nhìn thẳng ra phía trước. Ðứng thẳng lưng mà nhìn ra phía trước thì tìm đồ ăn, phòng thú dữ dễ hơn, nhưng nhìn chân trời xa cũng được xa hơn. Không ai nhìn chân trời xa mà được hạnh phúc.

Sau khi thi tú tài xong, Nam về nhà nghỉ hè. Hè ấy, một trưa nhiều nắng, có tiếng xe chi cứ nổ giòn giã, từ hướng tỉnh lị chạy về, tiếng xe khác tiếng xe lam, loại xe duy nhất đôi khi chạy qua làng. Xe chạy tới nhà Nam. Ðó là một chiếc xe cày, lái bằng hai tay cầm, hiệu Kubota, có rờ mọt, mà lạ chưa, người lái lại là một cô gái. Trong cái nơi quê mùa này, con gái cỡi được xe đạp đã hiếm, con gái mà lái xe cày ngon ơ như vậy là chuyện động trời. Cô nhỏ nhìn thẳng, chẳng thèm nhìn cái nhà đúc của Nam, mà thường ai đi qua cũng ngó, vì cái kiểu khá là sang trọng của nó. Cô nhỏ ngồi ngon lành, lái ngon lành, và vẫn còn đeo đôi tòng teng sáng loá nắng trưa. Nam, khác cái vẻ nghiêm trang thường ngày (hay còn gọi là một loại cù lần trá hình), rất bất lịch sự kêu toáng lên:

“Ê, ê, ngừng lại, có phải Kim Anh đó không?”

Con nhỏ lái máy cày không nhìn lại. Có lẽ tiếng máy cày nổ to quá, không nghe được!

“Mẹ ơi, con nhỏ lái xe cày ngoài nớ có phải là Kim Anh, con ông Tư Dẹo không?”

“Liệu mà theo chân Chúa cho trọn!” Ông ba tuy đang ngà ngà giấc trưa trong phản, không biết sao vẫn kiếm đủ liều lượng nghiêm nghị phán bảo ra như thế.

”Theo thì theo, con đâu có nói sao! Nhưng con nghe mẹï nói là nhà ông Tư Dẹo tán gia bại sản rồi mà!”

”Thì đúng như vậy. Nhưng hồi tau vào Sài gòn mua phân hóa học, tau thấy người ta bán cái máy cày Kubota rẻ như cho, tau mua về, mua để trong kho chưa tính dùng thì con nhỏ Kim Anh, con nhỏ hồi cứ đó binh cho mi đó, nó đến mua phân, thấy nó cứ đứng xúyt xa nhìn cái máy cày, cái óc làm ăn của tau tính toán thiệt lẹ, tao cho phứt con nhỏ chiếc máy cày!”

”Hả? Ba nói sao!”

”Thì nhà mình ở vùng tuy có an ninh hơn trước, nhưng rừng rú vẫn thuộc về mấy thằng Vẹm, mà chúa sơn lâm vùng này là ba con Kim Anh chơ ai vô đây! Nhà mình buôn bán càng ngày càng khá, phần lớn nhờ khai thác cây be, tụi nó sẽ không để yên đâu. Rồi nhà mình lại mua cả chục mẫu ruộng của ông ta, dù khi mua, tau không ép giá. Và rồi tau nghĩ: Có máy cày, con nhỏ nó cày mấy miếng ruộng còn lại làm ăn, hợp với sức nó hơn, đỡ vất vả hơn cày trâu, có lúa có khoai, má nó đỡ đến nhà mình vay mượn.”

”Ba tính rứa cũng phải!”

”Mà nói cho ngay, nhìn con nhỏ, tau cũng thiệt thương. Tau vốn trọng chữ nghĩa. Nó học giỏi có tiếng, mà giờ không được đi học. Nó nhìn cái máy cày như nhìn vào cái tương lai của nó, cái tương lai mở mang đầu óc, kiếm cho mình cuộc đời no ấm mà với cái đầu như nó, nó sẽ dư sức đạt được.”

”Ba thiệt ngông như ông nội: Hồi xưa khi giong thuyền vào Nam làm ăn, cho bạn mới quen trong Nam cả chiếc thuyền, rồi tay không về quê, nói dối với bà nội là thuyền bị đắm.”

”Ừ, ông nội con đọc chữ thánh hiền nhiều, tuyệt đường sĩ hoạn, chữ nghĩa vẫn bám vào mình.”

”Như ba vậy!”

”Ba không ngon bằng ông nội con đâu! Ba dù sao cũng làø con buôn!”

Ðúùng như lời ba Nam dự đoán: Sau mùa gặt năm đó, không thấy bà Tư Dẹo bưng thúng lên vay mượn nữa, mà thấy bà bưng khi thì trái đu đủ vàng hươm, khi thì nải chuối già hương thơm phức đến biếu nhà Nam. Còn chuyện mấy ông Vẹm có khó dễ hay không, không nghe ba Nam nói, nhưng nhà Nam làm ăn càng ngày càng khá.

Rồi Nam lại bận dạy giáo lý, lo tập hát, lo đánh đờn cho nhà thờ. Rồi lại vào trường dòng học tiếp, lại sáng lễ, tối kinh, lại thi, lại cử. Hắn là một con người bận rộn về những chuyện nhiều người thích được bận rộn. Hắn bận rộn nghĩa Trời cao cả, hay nói đúng ra được người ta dạy là cao cả. Và ông Tư Dẹo trong rừng kia kiếm cách giết kẻ phản động này, diệt tên Ngụy nọ, giật phá cầu này, đắp mô đường nọ, lo in truyền đơn, lo rải truyền đơn, lại lo đi kiếm lon gạo, hạt muối, viên thuốc sốt rét rừng, chối nước, thổ tả, thuốc trụ sinh, thuốc đỏ, thuốc sát trùng, thuốc cầm máu, băng… Ông là một người bận rộn về những chuyện ông tự cảm thấy buộc phải bận rộn. Ông gian khổ, hi sinh hết mực cho nghĩa Ðời cao thượng, hay nói đúng ra ông được người ta luồn lách đưa vào cái đầu chất phác của ông cái ý nghĩ  đó (mà dân mồm ép gọi là lý tuởng). Gì thì gì những kẻ hi sinh như ông Tư Dẹo, như Nam đều phải chịu thiệt thòi, nếu may, chỉ một phần đời, không may – mà thường là như thế – thương tích trọn gói đời vốn quá đỗi nhỏ nhoi. Thập niên ấy: Cuộc đời kỳ lạ, không bày tướng  Ăn sạch quân, trù tính được thua Hỡi ai tráng sĩ mài dao nhọn Xin nhớ đời không mỗi sắc vua4. Thực ra cuộc đời vốn khốn kiếp như thế từ xưa rồi! Chẳng có gì mới. Nhưng ông Tư Dẹo không nghĩ như thế, ông vẫn cứ mài dao nhọn, và ông không thể tưởng tượng nước Nam này vào lúc này, lúc bọn xâm lược hung hãn hơn mọi loại quân xâm lăng từ ngày có nước Việt đến nay cộng lại, mà lại không có những người mài dao nhọn như ông, và nhất là không có một vị chủ tịch nước duy nhất đúng của ông, người sẵn sàng đốt dãy Trường Sơn mà trong đó những kẻ như ông Tư Dẹo là những chòm cây, bụi cỏ, những cục đá, những cục đất. Mà phải chiến thắng, chứ không thể chiến bại. Nam cũng vậy, phải được, chứ không được thua. Ông Tư Dẹo có gương bác Hồ và các vị anh hùng trong lịch sử cứu quốc; Nam có hạnh tích Chúa Giêsu và các thánh trên con đường cứu rỗi loài người. Và ông Tư Dẹo thắng thiệt, đúng như lời bác Hồ hô hào: “Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào.” Và Mỹ cút, Ngụy nhào thiệt. Và ông cũng nhào luôn. Như những ông cán bộ nằm vùng khác. Nhưng mấy ông cán bộ (di cư) từ Bắc Kỳ quốc lại có cơ phất lên. “Ðụ mẹ mấy cái thằng miền Nam thiệt dại. Choa nói không chịu nghe. Dừ ôm đầu máu.”

Ông Tư Dẹo về làng với cái tên sặc mùi hùm: Nguyễn Bình Minh. Ông ngồi ký đủ thứ loại giấy tờ với cái tên gợi Vừng Trời Ðông thấp thoáng bóng cha già vô địch. Chỉ tạm thời.

Con nhỏ Kim Anh vẫn lái máy cày Kubota qua nhà, và chẳng nhìn vào.

Mấy anh cán bộ ngoài Bắc nhìn thèm thuồng. Không biết thèm cái máy cày Kubota, hay thèm con nhỏ có cơ thành người vợ anh hùng ba bốn đảm đang của mình. Những lần bị đi học tập chính trị ở trường làng, Nam không thấy Kim Anh ra vào xênh xang con nhà cán bộ. Cô nàng xem ra mãi vui với chiếc máy Kubota, hơn là với chuyện chiến thắng đế quốc, và những con người chân đất chiến thắng đế quốc.

Nam coi vậy lại bắt đầu nhớ tiếng máy cày Kubota. Kinh sách e chừng nhác đọc, nhà thờ nhà thánh có mòi biếng đi.

Ðùng một cái, có loa truyền lệnh là nhà ai có sách đồi trụy phản động phải mang đi nạp cho chính quyền xã.

Có tiếng xe cày Kubota chạy qua, Kim Anh nhìn vào nhà Nam, với đôi mắt nghĩ là xoi mói cũng được, mà kỳ lạ cũng được, nhưng rõ ràng là cô ta nhìn, và vòng về cũng nhìn.

Phần ông bí thư xã Nguyễn Bình Minh, sau một thời gian ngắn mang cái xắc cốt con nhà kách mệnh lên lên xuống xuống huyện, tỉnh, ông bán luôn cái nhà trong làng, treo xắc cốt  từ quan, ra khai hoang một thẻo đất ven suối dọc đường, dẫn được nước cấy lúa quanh năm, cất chiếc lều tranh mặt tiền quay ra gần chiếc cầu Ðôi sát bên mà ông lúc trước dẫn quân đi giật, nay chỉ còn mấy mảng bê tông lăn lóc, những que sắt cong queo oằn oại nhìn trời.

Ðám táng của ông Tư Dẹo được cử hành trọng thể ở giáo đường xứ An Bình. Cả xứ đạo tham dự đám táng của ông, dù chỉ trước đó một tháng, khi ông ngã bệnh, người trong xóm đạo xầm xì với nhau: ”Ðáng đời cái quân Cọng sản.” Ðám táng lớn là bởi ông Tư Dẹo, tay Cọng sản gộc, mà trở lại đạo. Cái tin đó người về về thăm Việt Nam hoan hỉ kể lại cho những người cùng quê làng An Bình nghe trong một bữa họp mặt mừng ngày được tàu Na Uy vớt. Có người lên tiếng hỏi:

”Nhà thờ xứ mình còn chỉa loa ra ngoài như hồi trước không?”

”Hết rồi. Tụi Cọng sản nó cấm.”

”Rứa ông Tư Dẹo làm sao mà trở lại đạo được? Vô tri bất mộ.”

” Sao mà biết được! Ý Chúa nhiệm mầu.”

” Vậy thì cả nhà trở lại à?”

” Ừ!”

”Con gái của ông ta, con nhỏ Kim Anh có trở lại không?”

Người đàn ông, người mới về Việt Nam qua, lon bia khề khà:

”Không! Không biết tại sao con nhỏ cứng lòng như vậ. Thôi, đạo ai nấy theo. Nhưng sao mà để ý dữ vậy cha nội? Bộ con nhỏ là người yêu cũ? Mà con nhỏ chì lắm à nghe, không thèm đi họp đi hành, mang xắc cốt dợt le như mấy con đĩ ngựa dân địa phương. Lại còn đẹp gái nữa, mấy thằng cha cán bộ Hà Lam Linh cứ theo miết mà con nhỏ không thèm, kể cả thằng cha trưởng đồn công an biên phòng. Mẹ, cái hồng nhan nơi khỉ ho cò gáy, rừng núi rậm rịt như làng mình mà lại kênh kênh với đám kên kên đó, coi bộ không khá. Hay là anh Tư đây về cưới phứt con nhỏ qua đây cho rồi. Con nhỏ qua, con nhỏ đi học, làm bác sĩ nuôi ông!”

Một người đàn bà:

”Thôi ông ơi, cái đồ con Cọng sản qua đây, có nước tụi mình lại tị nạn thêm lần nữa.”

”Cọng sản cũng ba bảy đường chị ơi!”

”Nghe nói thằng trưởng đồn công an sàm sở với con nhỏù, bị con nhỏ tát vào mặt. Thằng chả tức như bị bò đá. Mà làng mình lắm bãi vượt biên, không ai quyền uy bằng trưởng đồn công an biên phòng. Hắn còn cây cối đầy mình. Ấm cật rậm rật ngày đêm mà lại ăn cái tát, thằng chả dừ hầm lắm.”

”Ngầu thiệt!”

”Lại còn cái xe cày, hợp tác xã cứ đòi sung vào HTX. Con nhỏ nhất định không chịu, chết con nhỏ cũng nhất định giữ. Con nhỏ đúng là dân ngon. Gặp thời trước con nhỏ chắc học thành bà này bà nọ chớ chẳng chơi!”

Ta về như hạt sương trên cỏ Kết tụ sầu nhân thế chuyện đời.5 Tháng Ba, năm 1985, Nam được thả ra khỏi tù. Ở tù lâu quá, và ba mẹ lại chịu nhiều tai ương quá nặng nề, nên chờ con về không nổi. Anh trai Nam vẫn còn ở trong tù. Mà giấy phóng thích, lại vẫn buộc về địa chỉ cũ. Nam chẳng vội về. Anh thong thả đi dọc bãi biển từ tỉnh lị về nhà để hưởng cái tự do đi. Từng bước đi nhẹ tênh giữa mênh mông trời cao biển rộng. Những tiếng sóng Tháng Ba nghe như những tiếng nghìn trùng. Những con còng vẫn an nhiên làm chuyện vô ích, những cánh chim biển liu chiu theo mép nước eo xèo. Những người đàn bà gánh gánh, gánh gánh. Mấy chiếc thuyền thúng lửng lơ giữa biển nhấp nháy ánh mũi kim. Tưởng nơi đây chưa núi lở sông bồi, mưa nguồn chớp bể lưới Trời thâu gọn đâu đâu. Tưởng nơi xa xăm kia chẳng làm gì có những cũi lồng đày dọa, những ngụy ngôn hiện hình thánh sử, những giòng sông âm hồn ngắc ngoải hư vô. Có một cái gì đó không thực.

Và rồi trời dần tắt nắng. Nam vẫn còn ngồi đó chưa đi. Phía trời tây một vành trăng bạc hiện hình. Và trời lại trong, hứa hẹn một đêm nhiều trăng. Nam ngồi dưới gốc cây dương Một đứng lẻ đầu mỏm cát, nơi trước đó khoảng 1 năm 6 người vượt biên bị công an biên phòng bắn chết, tiếp tục nhìn vu vơ. Anh nhìn con nước ròng ra mãi ngoài xa, cồn cát soãi dài với những mảnh rong nằm vật vờ trên bãi, những mảng đá đen loang loáng, những chùm san hô còn tươi màu son, và nhìn những dấu chân trên bờ cát của những bài thơ thuở nào. Bỗng anh nghe tiếng động cơ nổ xa xa, tựa tiếng thuyền máy ra khơi câu mực đêm. Anh nhìn về hướng tiếng máy nổ, và thấy hiện dần ra một chiếc máy cày, đúng ra là một loại máy xới có tay cầm, có đèo rờ mọt nho nhỏ. ”Con lão Tư Dẹo chơ ai vào đây!” Ðúng là con nhỏ Kim Anh. Cô nàng còn mặc bộ đồ bộ xa tanh trắng tinh như vừa dự lễ hội đâu về. Nàng dừng xe ngay chổ Nam ngồi, nhảy xuống, chạy lại trước mặt Nam:

”Anh ngồi lên đây cho em chở về!”

Nam nhìn sững một lúc, rồi nheo mắt cười:

”Thằng Ðực nay khỏe không?”

Kim Anh cười lớn:

”Khỏe. Lâu rồi mà còn nhớ.”

”Nhớ mãi đến chết.”

”Có thiệt không?”

”Thiệt.”

Kim Anh lại cười.

”Thôi anh ra xe, để em chở về.”

”Ừ! Mà xe này là xe hợp tác xã, tôi ngồi có sao không?”

Kim Anh nửa như nói to để át tiếng máy nổ, nửa như giận dữ.

”Xe này là xe của nhà anh, chơ hợp tác xã nào!”

”Thì tôi ở trong tù nghe nói ngoài đời ai cũng được vào hợp tác xã, và các xã viên hồ hỡi hiến cho nhà nước…”

”Thôi, quên đi!”

Và xe chạy bon bon trên bãi biển nước ròng. Khi không cả hai cười như chưa được cười từ ngày hai đứa học chung, gần hai mươi năm, nay mới được cười với nhau.

”Này, Kim Anh!”

”Dạ!”

”Tôi cứ ngỡ hai đứa mình đang lái xe trong hội chợ nào đó bên Tây, như trong phim Pháp tôi xem trước đây.”

”Thì em cũng vừa đi Disneyland Paris mới về.”

”Thôi, đừng có nói dóc.”

”Hả, anh nói em nói dóc!? Nè, em sẽ hát bài It’s a Small World, nhạc làm nền cho những chiếc thuyền con trôi qua khu It’s a Small World cho anh nghe, kẻo anh lại nói em dóc tổ.”

”Hát nghe thử!”

 “It’s a world of laughter
A world of tears
It’s a world of hopes
And a world of fears
There’s so much that we share
That it’s time we’re aware
It’s a small world after all

 

It’s a small world after all
It’s a small world after all
It’s a small world after all
It’s a small, small world

There is just one moon
And one golden sun
And a smile means
Friendship to every one
Though the mountains divide
And the oceans are wide
It’s a small world after all

It’s a small world after all
It’s a small world after all
It’s a small world after all
It’s a small, small world5

 

(Ðây là thế giới rộn tiếng cười

Một thế giới của nước mắt

Và một thế giới của sợ hãi

Quá nhiều sợ hãi, cần chia sẻ

Ðã đến lúc chúng ta cần ý thức

Thế giới này vốn nhỏ bé thôi

 

Thế giới này vốn nhỏ bé thôi

Thế giới này vốn nhỏ bé thôi

Thế giới này vốn nhỏ bé thôi

Ðó là, đó là một thế giới nhỏ

 

Chỉ có một mặt trăng

Một mặt trời dát vàng

Và một nụ cười muốn ngỏ

Tình bạn bầy cho mỗi người

Dù núi núi chia đôi

Dù biển khơi bát ngát

Thế giới này vốn nhỏ bé thôi

 

Thế giới này vốn nhỏ bé thôi

Thế giới này vốn nhỏ bé thôi

Thế giới này vốn nhỏ bé thôi

Ðó là, đó là một thế giới nhỏ)6….

…Thế Giới Nhỏ thuyền em trôi qua, người ta hạnh phúc, thế giới của những ánh sáng sắc màu, của đờn ca, của nhảy múa, của những lễ hội đẹp đẽ con người, đẹp đẽ cảnh đời, những chiếc thuyền a a hạnh phúc rong chơi giữa những hạnh phúc quanh mình. Những cảnh đời hạnh phúc ấy là những công trình kỳ vĩ mà qua bao đời nhân loại mới tạo dựng được. Và những người lớn trong thế giới ấy là những hình nhân trẻ nhỏ. Em nghĩ là nơi trẻ thơ mới có tình bạn chân thật… Thế giới người lớn này có quá nhiều, quá nhiều sợ hãi, đã vậy, chẳng gần nhau nhiều để cùng sớt chia.”

“……”

Xe hai người chạy qua một vạt muống biển lá xanh hoa tía, đẹp não lòng như miếng mộng Chức Nữ, hoàng hôn xuống, hết giờ tình, vội vã bỏ quên. Kim Anh hớn hở:

“A! Hay là chúng mình nán lại chút nữa, lên vạt muống ngồi nói chuyện đi anh!”

“Phải đó. Vội vã mà chi!”

Nhưng rồi khi ngồi bên nhau, họ lại lặng thinh. Tiếng máy tắt, như bức màn che mặt đôi người thương thời cổ tích bỗng nhiên rơi rụng. Kẻ ngắm hoàng hôn, kẻ mơn man hoa muống biển. Một lúc sau Kim Anh, một lần nữa, ra lời nghĩa hiệp:

“Sao anh lại khóc?”

“……”

“Anh đang nghĩ ngợi gì?”

“Tôi nghĩ về những mất mát: Ðất nước tươi đẹp, những con người tốt đẹp…”

“……”

“…và nghĩ về những giấc mơ nằm trong những trang sách, bởi suy cho cùng sách nào cũng là mộng, mộng lành, mộng dữ…”

“Vâng! Anh còn nhớ hồi chính quyền mới bắt nộp sách không? Ba anh đưa sách lên nhà em nộp, và chắc là ông đã giấu hết sách, chỉ nộp 3 cuốn, em nhớ là 3 cuốn sách giấy đã ố vàng, bìa vải nâu, xấu xí, 3 cuốn đều bằng tiếng Pháp. Mấy bữa sau, ba em kêu ba anh lên và bảo ông cứ đưa về cho anh đọc. Khi ba em đưa ra trả, chỉ còn 2 cuốn. Ba em hơi ngạc nhiên nhưng không nói gì, và ông cũng không nói gì thêm chuyện sách vở. Ba anh mừng rỡ đưa về.”

“Bữa đó tôi không có ở nhà. Sau đó cũng không nghe ba tôi nói gì. Có lẽ ông phải lo lắng nhiều chuyện khác. Mà bây giờ ba Kim Anh ra sao rồi?”

“Ba em rất buồn vì thấy những hi sinh gian khổ cả đời mình là một con số không to tướng, nói đúng ra là con số âm thiệt lớn, cho đời ông, và cho gia đình, cho đồng bào ông. Chẳng bao lâu, sau khi mấy thẻo ruộng ông đưa chút sức tàn ra khai phá, để mong có một chút gì để sống thanh nhàn, chính quyền lại bắt đưa nốt vào hợp tác xã. Ông bị bệnh cảm sơ sài, rồi bệnh đâm nặng, và sau một đêm, ông không thức dậy nữa. Có điều trước khi chết mấy ngày, ông xin theo đạo Công giáo. Em cũng mong có một thiên đường cuối trời thiên thu8 nào đó cho ông đỡ khổ.”

Nam bứt bứt cọng rau muống biển, vò nát trong tay hồi nào không hay. Một lúc sau, thở dài:

“Thiệt tội nghiệp cho ông! Không biết tại sao người ta lại phi lý đến như vậy. Hình như phi lý là một công trình lớn nhất của Tạo Hóa cài được vào thế giới này.”

“Anh nói sao?”

“Thôi, quên đi!… Mà này, thế thì tại sao chiếc xe cày của cô còn đây? Họ buông được à?”

“Nó là của anh. Nó là của chúng ta.”

Nam không nói, lại bứt bứt bông rau muống biển màu tím bò lan bên cạnh, đưa lên nhìn nhìn.

“Ba em lúc nào cũng quý trọng anh. Sau vụ anh bị bắt vì bị tình nghi làm đầu não cho mấy anh tàn quân7, ba em cố giúp cứu mà không được. Mấy ông trên huyện quyền uy có cớ tịch thu gia sản nhà anh. Họ cũng hốt hết sách của anh đưa về kho xã. Mấy đứa du kích dùng làm giấy vệ sinh, bay trắng cả mấy đám ruộng sau trụ sở xã. Riêng em, em còn giữ được cuốn sách của anh mà em nói lúc nãy.”

“Bộ đọc được tiếng Pháp!”

“Nè, hồi đó ai tức lộn ruột vì Kim Anh cứ đứng nhất hoài vậy ta?”

“Ư,Ø Kim Anh thiệt giỏi! Tiếc Kim Anh không được học thêm.”

“Em còn đọc được cả tiếng Anh nữa.”

“Vậy hả?!”

“Và anh có biết không, từ hồi đó mà em còn lái được cả máy cày, lại còn sửa chữa được? Và nhờ nó em mới lái qua Paris xem thắng cảnh được.”

Nam xem ra bắt đầu quen với lối nói đầy ẩn dụ của Kim Anh, có lẽ vì thế anh nói như không:

“Ư,Ø Kim Anh thiệt giỏi! Mà thử kể cho tôi nghe cuốn sách ấy nói gì?”

“Bộ anh chưa đọc?”

“Sách nhiều, có thể chưa đọc tới, Kim Anh cứ kể đi…”

“Sách nói về tiếng lau sậy ven bờ nội hải Caspienne, về một chàng sinh viên người Nga, gốc dân hát rong, du học Paris, yêu đơn phương cô gái vũ ba lê Svetlana đang công diễn ở đó. Dù chỉ biết nàng qua sân khấu trong vở nhạc kịch Tiếng lau sậy ven bờ Caspienne, chàng đã mê nàng. Chàng mê vẻ đẹp mỏng giòn của nàng hoà đàn cùng tiếng sậy. Tai tài hoa nghe trong những vi vu ấy lời thác đổ, bước chân binh mã, những tiếng thét, tiếng thở dài, rên xiết, khóc than thiên sứ nào sắp vãi tung xuống đất nước Nga, và e chừng cả và thiên hạ. Và tai tài hoa còn linh cảm trong tiếng sậy rung có một cái gì đó chưa nên hình nên tượng, nghe như cam chịu mà uy dõng vô chừng.

Bởi sợ rằng nàng sẽ cho chàng là đồng là bóng bô hê miêng, chàng chỉ dám nói với nàng qua tờ thư những dựï cảm như thế.

‘Tôi phải trở về để rung lên tiếng sậy!’

Nàng đã cương lên một câu như thế sau lời cuối vở nhạc kịch, vào xuất trình diễn cuối cùng trước khi lao vào cơn bão mà nàng cho là hào hoa nghĩa khí.

Không biết đấy là lời nhắn gởi cho đám Nga kiều, hay cho người gởi lá thư.

Nhưng rồi tin tức dồn dập tới Paris theo bước chân trốn chạy của những người quyền qúi, trí thức, sĩ quan. Họ kể là giáo giở đã lên đường, giấy báo tử rơi đầy mái ra, và những tên sát nhân kiểu mới giương những lá cờ mới, và những giòng máu tuẫn đạo mới, nhưng buồn tất cả, chỉ có cái loa là vui.

Chàng sinh viên ấy bỏ Paris về miền Nam tìm ao hồ ngồi để ôm tiếng sậy, rồi biến mất đi đâu, chẳng ai hay biết…”9

“Chao ơi, thế giới nhỏ của Kim Anh còn đó không?”

“Bao năm nay em đã ước có anh trong thế giới nhỏ của em, từ ngày kéo thằng Ðực ra…”

“Anh cũng vậy.”

 

Sáng sớm hôm sau, nước lớn, có người đi kéo lưới cước ven biển thấy xác một người đàn ông bận áo có số tù nằm chết nơi bãi biển, nhưng có cái lạ là anh ta có mái tóc dài như tóc con gái, và tai còn đeo vòng tòng teng, y hệt một anh hippy, ngoài ra cạnh anh còn có một bộ đồ đầm cô dâu búp bê xa tanh trắng mới tinh, nhưng thân búp bê không biết tại sao vừa mới rờ vào đã mủn ra;và dọc mép viền của chiếc áo đầm cưới búp bê đó có thêu hàng chữ nhỏ li ti nhiều màu tươi mới It’s a Small World, Disneyland Paris, Opening Day, April 12th 1992.

Ai cũng nói thằng cha này, dám có người thân bên Mỹ, nên vừa mới ra tù đã được móc nối vượt biên, không thành, quá sợ cảnh tù tội lần nữa, nên tự tử.

Lại có vết gì nửa như vết bánh xe, nửa như vết chân con vích10, in trên cát từ xác người đàn ông ra tới mép nước; và khi người ta đã khiêng xác người đàn ông đi, có người theo vết vích đào dưới chổ xác chết đã nằm, để moi đất kiếm trứng, nhưng không thấy trứng vích đâu cả.

Oslo, 07 II 2004

 

  Chú thích:

  1. &2. Thơ của Nguyễn Chí Thiện, bài Ðất Này; …
  2. & 4.Thơ Tô Thùy Yên, bài Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ; Ta Về
  3. Nhạc của Richard M. Sherman & Robert B. Sherman. Ðây là một bài hát, nhạc đơn giản mà hay, lời lại đầy ý nghĩa. Muốn hát theo Kim Anh? xin mở:http://www.geocities.com/EnchantedForest/cottage/3192
  4. Sau 30/4, vẫn còn một số lính VNCH và những người dân không chấp nhận chế độ mới tiếp tục chiến đấu với nhiều hi vọng trong một bối cảnh tuyệt vọng. Nhiều người đã bị bắn chết, bị xử tử, hoặc bị  tù tội lâu năm, ví dụ,ï ở ấp Phước An, ấp Hiệp An, thuộc quận Hàm Tân cũ. Bi tráng. Bi tráng chẳng kém gì cuộc chiến đấu của những nhóm người Do Thái gồm nhóm Zealot, nhóm Essene, và những người kháng chiến khác cầm cự với quân La Mã, trên đỉnh cao Masada trong 3 năm, sau khi thủ đô Jerusalem bị thất thủ và tàn phá bởi quân của Titus năm 70 CN. Năm 73, Titus sai Flavius Sylvia phải hạ cho được Masada bằng mọi giá. Khi quân La Mã đánh chiếm được căn cứ địa, họ tìm thấy tất cả mọi người trên đó đều tự sát chết. Masada là biểu tượng cho lòng dũng cảm, sự kiên quyết sống tự do, và sự hãnh diện quốc gia. (http://www.jewishgates.com/file.asp?File_ID=99)
  5. “thiên đường… thu”: Lời nhạc của Trịnh Công Sơn, bài Cho Một Người Nằm Xuống.
  6. Nguyễn Văn Thà nghĩ ra, chứ không phải của ông Tây nào đâu!
  7. Còn gọi là ba ba, đú (người Quảng Bình).

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close