Mê Lộ

 

Nguyễn Văn Thà

 

Bilderesultat for toledo spania
Toledo

 

Nếu, ở Tây Ban Nha hoặc nói rộng ra cả thế giới, tôi buộc phải chọn một thành phố mà thôi, tôi hẳn chọn Toledo. Ngay từ giây phút đầu có cái gì đó nơi thành phố này làm tôi say đắm, cái gì đó chạm tơ hồn tôi – biết đâu chừng từ kiếp trước.

Toledo cách thủ đô Marid khoảng một giờ lái xe, và nhiều du khách từ Marid đến đó dạo chơi trong ngày. Toledo là một thành phố được đan dệt bằng lịch sử, có những nét quyến rũ độc nhất vô nhị, và vẻ cổ kính khơi nguồn mọi trí tưởng. Bạn có thể đi ngược lại thời gian và đắm mình trong bầu không khí Trung cổ, lắng nghe lời sông Tajo cùng tiếng đồng vọng của những xa xưa, hít đầy buồng phổi không khí khô ấm đã từng gợi hứng cho họa sĩ El Greco, và đi trên những viên đá lát đường văn hào Cervantes đã bước lên.

Toledo được người Hi lạp đặt nền móng, người La mã xây dựng và các vua người Tây Goths dùng làm thủ đô, bị người Ả rập chinh phục, rồi người Kitô giáo chiếm đóng, thành phố này với hàng ngàn năm lịch sử ấy nằm trên một ngọn ngọn đồi rộng có giòng sông Tajo bao quanh. Rồi những phế tích La mã, dinh thự Ả rập, các nhà nguyện Hồi giáo và hội đường Do thái, những ngôi nhà Trung cổ, giáo đường và tu viện. Thật khó mà nói đã có bao nhiêu đổi thay từ thời mà người Tây ban nha, người Ả rập, Do thái và người Kitô giáo sống chung an bình, thân ái với nhau. Chúng ta có thể cam cảm những bóng dáng vô hình của họ và nghe họ thì thầm đâu đây. Những con đường nhỏ, khuất lánh. Các cửa hàng bày bán đầy những đồ kỷ niệm, gì cũng có, từ những thanh kiếm Toledo, đồ trang sức, cho đến những mẩu tượng Don Quijote và những bức tranh nhái El Greco. Viện bảo tàng, tiệm ăn, người người tấp nập. Tuy nhiên, dù bầu không khí có mang tính thương mãi như thế, thành phố vẫn giữ được vẻ quyến rũ, nét độc đáo. Những con đường nhỏ, những ngỏ hẻm khuất lánh. Ban đêm, khi đường phố vắng người, là thời gian tốt nhất để đi khám phá những bí mật của thành phố. Lúc mặt trời đã khuất, ánh sáng biến mất, người ta liền cảm thấy như mình đang trở lại thời Trung cổ, thời mà Đức Mẹ Maria có thể xuống với trái đất này, thời mà những phép lạ vẫn xảy ra nhưng không.

Nếu nhìn vào bản đồ Toledo, người ta sẽ thấy ngay cấu trúc của thành phố thật rối rắm. Tình trạng này bắt đầu từ thời người Ả rập thống trị. Đường hẹp và thường là đường ngõ cụt là một cách để bảo vệ thành phố, buộc những kẻ xâm nhập phải sa vào một hệ thống mê lộ không cùng. Thật lạ là sau cả sau nhiều trăm năm, bây giờ, khách du vẫn cảm thấy như bị rơi lọt vào cái thành phố tự phòng thủ như thế, cảm thấy rờn rợn giữ khuya, khi người người biến mất khỏi đường phố, lúc không còn một bóng dáng nào, ngoại trừ những con mèo hoang moi đồ ăn nơi những thùng rác. Khách đi, đi thật lâu mà không biết mình đang ở đâu và mình đang dõi theo hướng nào. Trong tình cảnh vô vọng như thế, khách lại được một cơ hội tuyệt vời sống với cái cá tính nguyên tuyền của thành phố. Nếu bạn giữ được lòng yên, thành phố sẽ giàn trải ra những bí mật dịu dàng cho bạn, và chỉ riêng bạn mà thôi.

(Trích đoạn từ một bài du ký về thành phố Toledo)

 

Và Văn đã đến Toledo, và đi loanh quanh loanh quanh, buồn buồn, ngây ngây. Quá khứ xa, gần, khí hậu Bắc, Nam Âu trộn lẫn trong từng mạch máu, trên từng phân da thịt của chàng trai xa xứ. Bỗng Văn nhác thấy một mẩu tượng Đức Mẹ Maria gắn trong một lổ khoét trên một bức tường nâu nâu bên đường, ánh nến lung linh trên màu áo xanh xanh của bức tượng cao bằng gang tay. Ngọc, người yêu của Văn, cũng có bức tượng Đức Mẹ áo xanh giống thế. Anh nhìn kỹ bức tượng, thấy khuôn mặt tượng là khuôn mặt người nữ hiền lành, cam chịu, và bàn tay, bàn tay vẫn ươm mộng đời nay, những ngón tay ngà, nuột nà gieo hương vương vương tận ngàn sau. Tượng lộng kiếng phía trước và trên mặt kiếng có những lỗ li ti mà những kẻ yêu nhau nào đó, theo tập tục, đã đâm những chiếc kim vào, những chiếc kim nhọn mà họ đã đâm vào da thịt, thậm chí vào ngực mình, và quì lạy Mẹ trên trời sao cho con lấy được người con thương.

***

Văn và Ngọc đã sống những ngày hạnh phúc không cầu vẫn được, được một cách tình cờ như bao nhiêu điều vĩ đại trên trái đất này.

Văn gặp được Ngọc trong một đám cưới của đứa con trai chú Văn ở Trondheim. Chính vì gia đình chú Văn ở xa, nên anh chị em không ai muốn đi. Văn thấy không ổn, cho nên, tuy kẹt, cũng rán đi cho phải phép. Hôm ấy, khi vừa vào đến hành lang nhà hàng, Văn thấy một người đàn bà trẻ đang ngồi một mình ở đó và đang chăm chú đọc báo. Nàng mặc một chiếc áo đầm vải mousseline hồng thấp thoáng làn vải lót trắng, và một mảng hoa nhiều màu sắc tươi trên vùng ngực khoẻ. Văn lúc đó không thấy rõ mặt nàng, nhưng thấy ngay cặp đùi thuôn muốt, nõn nà ngọc trắng, khem khép dưới lớp váy hồng tươi. Nàng ngồi đó như một vũ nữ balê đang chờ múa khúc xuân xanh. Trong thế giới kiểu cách, lịch sự của y phục xám, đen, cả nơi những người nữ trong tiệc cưới, nàng, người đàn bà ấy, hiện ra như một niềm vui. Đã vậy, nắng vàng vốn hiếm hoi trời Trondheim hôm ấy lại độ lượng quanh nàng. Văn loay hoay loay hoay mãi. Một lúc sau mới mở miệng được:

– Chào cô.

Nàng ngước mặt lên, nhìn Văn

– Chào anh.

– Cô đọc báo gì đó?

Nàng chìa tờ báo và chỉ:

– Phụ bản thể thao của tờ VG.

– Cô thích thể thao lắm?

– Chút chút. Nhưng chồng em mua báo này hằng ngày để xem cá độ các đội banh. Sẵn, em cũng xem thoang thoáng, thường thì chỉ ngắm nhìn hình các vận động viên.

– Ồ! – Và Văn khảo sát địa hình hành quân – Mà chồng cô đâu rồi?

– Ảnh tới đây lúc nãy, rồi thấy chờ lâu, sốt ruột, ảnh có chút công chuyện phải đi. Mà anh có thích thể thao không?

– Không thích, nhưng lại thích mua báo thể thao xem hình như cô, hình các nữ vận động viên.

Mai cười, nghiêng:

– Mà có nhìn cô Marie Larsen không vậy?

– Á, à, con nhỏ Na Uy đoạt huy chương vàng trượt tuyết 10 ngàn mét đó hả?

– Báo chí nói đến thành tích đó thì ít, mà nói đến bức ảnh tai tiếng chụp cô ta trong tờ Nhìn và Nghe thì nhiều.

– À, tôi nhớ rồi. Con nhỏ có thân hình tuyệt đẹp, vừa đẹp vừa mạnh khoẻ.

– Vâng, em cũng thích nữa.

Văn dứt điểm trận đánh một cách liều lĩnh:

– Cô cũng đâu có thua gì.

Nàng liếc sắc mỉm cười:

– Anh nầy!… Mà có vẻ anh cũng là dân thể thao.

Văn cũng cười:

– Cũng chút chút. Thực ra tôi thích đạp xe đạp. Đạp xe bốn mùa. Đi, về 20 mươi cây số.

– Ở cái xứ Na Uy toàn núi đồi, mà mùa đông thì dài mà anh lại đạp xe như vậy…

– Đạp riết rồi quen, rồi thấy người khoẻ hẳn lên, đầu óc sảng khoái. Đâm nghiền nữa là khác.

– Anh nói đâm nghiền là đúng đó. Có bữa tình cờ em đọc bài nghiên cứu nói là khi tập thể dục hay vận động, óc tiết ra chất endophine, một loại nội tiết tố hạnh phúc, thậm chí có kẻ còn gọi đó là một loại ma túy tốt.

– Cô cho tôi biết nhiều chuyện hay.

Người đàn bà cười cười:

– Chết cha, chưa quen biết chi mà đã chuyện trò linh tinh… Nói đùa vậy thôi, chứ em cũng biết khá nhiều về anh, em rất thân với gia đình chú anh. Anh là anh Văn phải không?

– Vâng.

– Em là Ngọc.

Có anh tiếp tân từ trong phòng tiệc đi ra tươi cười, lễ phép:

– Thưa chị…

– Vâng…

– Chồng chị gọi điện thoại đến báo là anh ấy không đến được – Ngọc cúi đầu, mím môi. Anh tiếp tân cười nụ – Ảnh có lẽ bận công chuyện ở nhà ông Kỳ đó chị… Thôi, em cũng mời anh chị đây vào để chúng ta bắt đầu, quan khách cũng đến tương đối đầy đủ rồi.

– Vâng – Văn đáp

Ngọc giọng run run:

– Vâng… Chết cha, mà phong bì anh ấy mang theo! Anh Văn vào trước đi, em vào sau.

Người tiếp tân khép cửa vào trong. Văn cũng theo vào nhưng rồi chần chừ chân trong chân ngoài, tay giữ cánh cửa, đứng nhìn Ngọc. Nàng đang cúi đầu, mũi giày dí xuống nền dí dí xóa xóa.

– Cô Ngọc!

Ngọc vẫn cúi đầu dí dí xóa xóa. Văn chờ. Văn chờ. Rồi buông câu sinh tử:

– Tôi yêu Ngọc.

Ngọc ngước mắt lên nhìn Văn, sững sờ:

– Anh nói gì!?

– Tôi yêu Ngọc. Tôi muốn chia sẽ cuộc đời của tôi với Ngọc. Ngọc hãy nói tôi phải làm gì? Sau đám cưới, tôi phải lên tàu ngay – Văn khẩn thiết, dập dồn, nhưng chắc nịch như một quyết định đã đóng dấu thi hành từ lâu.

Ngọc cúi đầu không nói, vẫn cúi đầu không nói, mũi giày lại dí xuống nền dí dí dí dí.

Rồi Văn đi vào phòng tiệc, lúc ấy Ngọc mới theo sau, rồi chạy theo sau, nhẹ níu ống tay áo Văn thì thào:

– Em theo anh, em theo anh ngay đêm nay.

Hai người kẻ trước người sau theo nhau vào phòng tiệc cưới. Khách khứa ồn ào. Đôi kẻ nhìn hai người. Có anh sứa sứa: “Thằng cha Tiến, đã gầy nhom, lại cờ bạc thâu đêm suốt sáng, quên vợ quên con.” “Có con vợ ngon lành như rứa, mà cứ đỏ đen, bỏ bê, coi chừng mất.” Có chị xì xầm: “Bà Ngọc, bả chịu đụng giỏi, cả năm, sáu năm nay, gặp con nhỏ khác, nó bỏ từ lâu rồi.” “Tội nghiệp con nhỏ hồng nhan, đa truân.”

Và đêm ấy trong chuyến tàu trở về nơi Văn ở, toa tàu đêm dập dềnh chăn gối, chới với biển hoa, thênh thang thần trí, khiến sau đó Ngọc phải khúc khích:

“Đám cưới của con trai chú anh với con nhỏ Minh hóa ra lại là đám cưới của tụi mình.”

Những ngày sau đó trong căn phòng của Văn là đêm động phòng kỳ diệu ấy nối dài. Ân ái hai thân thể khoẻ, đẹp; rạo chơi rừng thơm hạ hoa; và ôm Ngọc nói chuyện văn chương, triết lý, chuyện Đất Nước của hai người.

Nàng thích thú lắng nghe, khao khát.

Nào là Chong Đèn: Nhà anh đầu suối/ Nhà em cuối dòng/ Suối có một lòng/ Sao tình đôi ngả// Kể từ mùa hạ/ Tê tái ve sầu/ Đêm thắp đèn dầu/ Chúng mình ngồi học// Giờ anh đi đâu/ Chong đèn, em khóc.

Rồi Đồi Cù: Thả gót giầy lãng đãng bên hồ/ Trên đồi Cù thông rụng lá khô/ Cơn sương trắng lùa ta mải miết/ Xuống ven bờ phi hữu phi vô.

Rồi Ngực Trầm Hương Ấu Thơ: Năm năm rồi, thoáng chốc/ Thương người môi thanh tân/ Tóc nồng hương trẻ dại/ Ngực trầm hương ấu thơ/ Theo ta đời lỡ dở/ Ngậm tăm trong mộ sâu.

Rồi Anh Điên: Anh nằm ngoài sự thực/ Em ngồi trong chiêm bao/ Cách nhau xa biết mấy/ Nhớ thương quá thì sao?/ Anh nuốt phứt hàng chữ/ Anh cắn vỡ lời thơ/ Anh cắn cắn cắn cắn/ Hơi thở đứt làm tư!… của Phạm Thiên Thư, của Du Tử Lê, của Hàn Mặc Tử, và của biết bao ngòi bút tài hoa của một nền văn chương hào hoa, hào sảng miền Nam ngày ấy.

Rồi về những cay cực của Đất Nước, về chiến thắng bị bỏ lở.

Thế rồi những giòng kinh Vệ đà: Hỡi thần nữ Visvedevas, kẻ chở che, ban thưởng, và làm vui lòng đàn ông, hãy đưa kề môi kẻ thờ phụng nàng đây chén rượu cúng.// Hỡi nữ thần Sarasvati, giòng lũ lụt uy nghi.// Ơi nữ thần Xinh Đẹp Vayu, xin đến uống những giọt sâm Soma châm sẵn cho nàng. Những câu thi kinh đầy thành kính mà mát mẻ hoa vú, hâm hấp phallus-yoni.

Và những giòng Áo nghĩa thư vời vợi: Chỉ có Vô Hạn là hạnh phúc. Trong hữu hạn, không hề có hạnh phúc.

Nàng mỉm cười lắng nghe, đợi cho Văn nói hết, mới véo vào bẹn Văn:

– Vậy thì em là hữu hạn, hay Cái Vô Hạn đây?

– Em là cả hai, cũng qui về Một Mối viết hoa! Ekam evadvitiyam: Chỉ là Một, không cách một sát na: Only the One, without a second. 

Cả hai cùng cười, cười sảng khoái,

– Nếu không gặp được nhau nơi đám cưới ấy, và anh không có quyết định nhanh và táo bạo đúng lúc, em sẽ bất hạnh biết bao, phải không anh?

– Anh cũng bất hạnh nữa. Trong chiến tranh, cũng như trong tình yêu, cần biết người, biết ta, mà phải biết nhanh.

– Và ra tay nhanh. Anh thật bạo.

– Ừ, đúng quá chơ còn gì nữa! Mà em cũng đâu có thua gì anh.

Những ngày trăng mật tưởng như bất tận, nhưng cũng đến lúc phải chia tay. Cả hai đều nghĩ như vậy, để Ngọc trở lại với con. “Rồi chúng mình từ từ thu xếp.”

Và Ngọc đã thu xếp không đến nổi khó khăn lắm, về phần ông chồng.

Nhưng một thời gian khá lâu, vẫn chưa thấy họ về ở chung hẳn với nhau. Những nhớ thương dần dần chen lẫn trách móc, rồi đôi khi trách móc nhiều hơn thương nhớ. Vẫn thăm nhau tháng một đôi lần, nhưng Văn cứ nhùng nhằng không quyết, không nhanh chóng, táo bạo như quyết định hôm ấy.

Thế rồi nàng bỗng xoay qua mở quán cà phê.

– Em tính mở quán cà phê, bán thêm ít món chay mà người Na Uy đang chuộng. Anh suy nghĩ xem anh có nên bỏ việc trên đó về phụ quán với em? Có gì ăn nấy, trời sinh voi sinh cỏ, miễn được gần anh là em mừng, ngoài ra anh có thể học thêm những môn anh thích, vì quán em tính mở gần khu đại học.

– Anh có đọc một công trình nghiên cứu là dân Na Uy ít kẻ thích ngồi quán, ăn quán, vì họ là dân keo kiệt. Họ mới giàu đây thôi, trước họ là dân nghèo, cái thâm căn cố đế keo kiệt ấy chưa gột rửa được. Nhất là cái dân nơi tỉnh em ở, mới thế kỷ trước, có nơi phải trộn bột vỏ cây vào bột mì mà làm bánh mà ăn.

– Anh sao mà cái gì cũng biết!!

– Và anh không muốn bỏ công việc chắc chắn của anh. Để từ từ anh tính. Vả lại, anh sắp xin cái học bổng Erasmus, xin tạm nghỉ sở, đi nghiên cứu tiếng Tây Ban Nha, chương trình hậu đại học, ít nhất hai năm. Và em ơi, em có biết không – Văn nói như reo – ở thư viện đại học nơi anh học hồi trước đó, thư viện mới được ông Shøyen tặng bộ kinh Phật, ông ta mua được từ Apghanistan đã lâu, bộ kinh tối cổ này chưa ai có, nói chi dịch, kể cả Đường tăng Huyền Trang, anh có đọc bản chụp, có lẽ anh phải dành ít thời giờ để ôn lại tiếng Pali, để đọc cho đã, và kiếm giờ dịch lại cho dân mình đọc, chẳng có nhiều thì giờ mà nhiều chuyện cần làm quá!

– Thôi! Anh làm gì tùy anh.

Sau đó Văn lại về thăm Ngọc, thấy quán cũng khá thanh lịch, khách khá đông, đa số là sinh viên, nhân viên đại học và các giáo sư. Ngọc có vẻ vui và hãnh diện. Không đề cập gì đến chuyện Văn bỏ việc về phụ quán.

Tháng sau nữa, Văn lại về thăm. Lần nầy, nàng thuê người coi quán và dành hẳn cuối tuần ấy cho Văn. Lúc ngồi ăn với nhau, nàng bảo lần này nàng thích Văn giảng thật hệ thống cho nàng những khái niệm cơ bản về triết học Ấn Độ mà anh đã có dịp nói qua những lần về thăm trước. “Để làm hành trang những ngày sống xa anh.”

Như những lần trước, có khi trên nằm trên giường, có khi nơi bàn ăn, hay những lần đi dạo công viên, anh trình bày cho nàng những hiểu biết, những cảm nhận của anh về món anh có nghiên cứu tường tận đó, trình bày với một niềm say mê như những ngày làm thầy giáo dạy môn Việt văn, chưa vào lính. Lần này Văn tóm lược những ý niệm chính của triết học Ấn độ qua cuốn Meditasjonens Filosofi được trình bày một cách thơ mộng mà dễ hiểu, của Kjell Madsen.

Và hôm sau suốt một buổi chiều chủ nhật, trước khi lên đường, nàng lại đòi dịch và bình cho nàng tập 100 bài thơ hài cú của nhà thơ Øystein Hauge, mà nàng nói tình cờ mua được ở tiệm sách bán đại hạ giá. Văn lại sung sướng dịch và bình giảng vì thơ hay, và nhất là vì thấy sự say mê văn chương của người mình yêu. Những bài mênh mang thiền vị: chiếc áo linh mục cũ, và tiếng chửi thề rôm rã, thâu thanh mới; chân trần, tảng đá này tảng đá khác, con châu chấu trong tay; con chó già, tìm không ra thềm cửa, hoa hoa hoa; cuốn kinh thánh cũ, gói, trong giấy gói đồ ăn; ngày xưa, thung lũng nầy, đầy màu xanh; bạn có thấy, chiếc bóng, cuối. Và những bài như những bức tranh hiện đại: Hạt hạt lúa vàng, trong đêm trắng, và chao ơi gió; giữa vạt hoa, một chuổi ong, gió mặt trời; trong mưa thu, đôi tình nhân già, con chó ghẻ; đêm trong rừng, tuần lộc xanh, phô-mát vàng; buồng tàu lửa, đầy nắng thu, và những cô gái tóc đỏ; đêm thu, cánh cửa đập, sau tiếng hát nàng; gió vô thanh, trên những luống, hoa xanh; sau những ngày mưa, gió trở về, trên dậu trắng. Văn còn chỉ ra lối dùng ánh sáng, màu sắc, hình tượng, nghệ thuật xếp chữ, và thậm chí những cộng âm gợi ý, để gợi lên những rậm rật, những nôn nao tình dục trong một số bài khác: phía dưới nước vỗ, đá dội đá; tất cả đều màu đỏ, tách trà nóng, vú của nàng; cô gái trẻ thắp đèn, trong đêm xuân, vì cớ gì; thiu thiu giữa, gió ấm, và những đụn cát; đêm trắng, tuần lộc nhăm hoa súng trắng*, một hoa một hoa lại một hoa; vú ấm nắng, buổi tối còn lại, gió trắng; sấm động xa xa, bầy ong vần vũ, trong vùng sáng u u; gió nồm láu lỉnh, nâng váy mùa hạ, vỗ vào đùi; cỏ hạ cao, chẳng có nơi nào tốt hơn để cởi truồng; như trong mộng, hai người đàn bà trần truồng, tiếng-cười-ánh-trăng; trần truồng, tuổi mười chín, cô gái đẹp, cho én chao trên đầu.

“Cuộc thế đẹp biết bao, mà thời gian đáng sống lại qua mau, đã thế thân thể lại mỏng giòn và thiên nhiên còn khắc nghiệt, và trên cùng mọi khắc nghiệt là Thời gian” – Văn thì thào lời phù thủy. Nàng lắng nghe rưng rưng tín nữ, và thân ngọc nóng dần, nàng rướn người, bấu vào ngực, vào vai Văn, như bấu vào Thời gian.

Rồi họ ân ái với nhau vội vã mà tràn đầy thác đổ.

Văn hiu hiu sung sướng quay lại với công việc. Nàng vẫy tay chào, tàu đi.

Về đến nhà, Văn gọi điện thoại ngay, và đằng đầu giây bị bận, chờ cả tiếng sau, máy vẫn bận. “Chắc Ngọc lại gác máy trệch!”

Gọi hoài, gọi hoài, vẫn vậy. Mấy ngày như thế. Một đêm giữa khuya, thật khuya, anh nghe có tiếng điện thoại gọi.

– Anh đó hả?

Văn cằn nhằn:

– Máy em gác làm sao mà anh gọi hoài không được.

– Không, máy không bị gì. Em bận nói chuyện.

– Trời đất, chắc là nói chuyện với mấy nhỏ bạn? Gớm, đúng là đàn bà lắm chuyện, ông bà nói không sai.

– Không, em nói chuyện với người yêu em.

– Nữa!

– Em đã có người yêu rồi.

Văn cười hề hề:

– Vậy hả! Mà khi nào đám cưới vậy?

– Tháng sau, đâu có như anh cứ rề rà, này nọ,

Văn chửng lại:

– Giỡn hoài. Đang nhớ em muốn chết đây.

Nàng lạnh lùng:

– Em đã quyết định, tuy không nhanh như quyết định ngày đó, nhưng em cũng đã quyết định. Anh khỏi cần về thăm em nữa!

– Giỡn dai hoài! Hôn anh đi. Ăn gì, mà nói chuyện với bạn gái em dai vậy?

– Em nói thật đó. Chúng ta có những con đường khác nhau cần phải đi, dù có yêu nhau.

– Giỡn dai hoài.

Anh không tin. Mãi mãi không tin.

***

Văn đang chăm chú nhìn bức tượng Đức Mẹ đặt trong lổ khoét trên bức tường dọc đường, có bà già nhà sát đó mở cửa. Bà già như thể không thể già hơn được nữa, nhưng là già tổ mẫu, già cội nguồn sự sống mạnh mẽ gởi trùng trùng thế hệ ngàn sau, lão như những cây trắc bá đồi Libanon, cây thiên tuế xứ Chaldée, cội dầu rái, gốc sến đại thụ rừng Nam xứ Việt. Bà có dáng cao ráo, tóc nâu nhạt, còn dày, uốn xoăn xoăn tóc nữ Trung đông, buông lơi xơi, loà xòa bờm sư tử quanh khuôn mặt lão đẹp, hiền từ, quý phái, nhưng nâu dòn gió nắng nhiệt đới.

– Chào chàng trai Việt Nam.

– Chào bà, sao bà biết tôi là người Việt Nam hay vậy?

– Tôi là mẹ của mọi dân tộc.

Văn cười khỉnh:

– Tôi thật may mắn được đến thăm xứ mẹ của lễ hội giả trang để được hầu chuyện với bà.

Bà già vẫn cười tươi như không, rồi giọng trùng xuống:

– Là mẹ, tôi thương những dân tộc khốn khổ vì nội chiến, gà cùng một mẹ mà hoài đá nhau. Tây Ban Nha, Việt Nam… Mà tôi thương đặc biệt người Việt Nam, một giống người mà khi tạo dựng có lẽ Đức Chúa Trời đã chăm sóc, tô điểm đặc biệt.

Văn nhập giòng giả trang:

– Và có lẽ lúc ấy Thượng Đế hơi ngà ngà nên có hơi quá tay.

– Đúng rồi, y như dân Tây Ban Nha, dân Việt hùng hùng hổ hổ mà cũng ăm ắp tình, nghĩa. Mà anh biết không?

– Vâng…

– Năm ngoái cũng có một người đàn bà trẻ Việt Nam đi qua đi lại ngơ ngơ con đường trước nhà tôi, chắc là lạc đường vì cái hệ thống mê lộ của thành phố Toledo này có từ thời người Ả rập đến đây. Tôi thương, tôi kêu vào nhà. Chúng tôi chuyện trò cả ngày, vì dần dần trở nên thân mật như hai bà cháu.

Cô ấy kể là cô ấy có người chồng là một giáo sư trẻ, trẻ hơn cô mấy tuổi, đẹp trai, và giàu, nhưng tính tình thực tế như những người đàn ông nơi xứ cô ta định cư, như những người giàu phải thế, nhưng lúc mới gặp nhau, ông ta vẫn có đủ lãng mạn để thích, rồi yêu mê cô ta, một người đàn bà có văn hóa cao khác hẳn với những người nữ ông ta giao du trước, và dĩ nhiên cũng vì thân thể khoẻ, đẹp, và nhan sắc huyền bí não lòng phương Đông của cô. Tôi đã nói Đức Chúa Trời đã chăm sóc tô điểm kỹ cho dân Việt Nam mà!

Và cô ta biết tiếng Tây Ban Nha rất khá. Cô ấy bảo chỉ có thơ Tây Ban Nha là đáng đọc, vì thơ đầy đam mê, hay nói như người yêu cũ của cô, đầy ớt đỏ, môi son, và mặt trời đỏ. Cô ấy tiếc quay quắt đã đánh mất những trái ớt đỏ làm nồng môi cô, những mặt trời đỏ chỉ dành để đốt cháy cô. Cô ấy có chép cho tôi bài thơ mà cô sáng tác khi thơ thẩn trong những con hẻm đêm Toledo, bằng tiếng Tây Ban Nha, một ngôn ngữ mà cô ta cho là không khó học lắm và rất gần gũi với tiếng Việt.

– Vâng, tôi cũng nghĩ như vậy, và cái âm thanh du dương, sang sảng, dữ dội, nóng bỏng nằm mai phục trong hai ngôn ngữ đó.

– Mà này, anh Văn, tôi thấy cô ta là một người đàn bà không có hạnh phúc, hay đúng ra không còn hạnh phúc, và có chiều tuyệt vọng, cái tuyệt vọng của người đàn bà nguyên thủy. Tôi nhớ có một nữ thi sĩ kiêm nhà văn và là một nữ chiến sĩ thuộc phong trào kháng chiến Sandinismo mà tôi rất thương, con nhỏ nói rằng: ”Tôi đã lao mình vào bom đạn, vào cái chết; tôi đã tải lậu vũ khí, đọc diễn văn, nhận những giải thưởng, và sinh con – biết bao nhiêu chuyện, nhưng một cuộc đời không có đàn ông, không có tình yêu, cuộc đời ấy xa lạ đối với tôi, tôi cảm thấy rằng tôi không cần phải hiện hữu, trừ khi có giọng một người đàn ông kêu tên tôi và và tình yêu của người đàn ông làm cho đời tôi đáng sống.”

Bà già vói tay lấy li nước, chiêu một ngụm, rồi tiếp:

– Và anh biết không, khi cô ấy hỏi về những chiếc kim cắm nơi cửa kiếng Đức Mẹ ngoài kia, và khi tôi cho biết lai lịch như thế nào, cô ấy ứa nước mắt, và lôi trong hộp bằng bạc ra một cái kim may thô tháp, đã rỉ sét mà cô nói là người yêu cô những ngày tù cải tạo đã dày công mài, giũa, để có ngày về tặng vợ anh ta, nhưng khi ra khỏi tù, về nhà, thì được biết vợ mình đã theo người đàn ông khác vượt biên đến xứ người, mà ở đó người ta chẳng còn cần kim chỉ. Và khi anh gặp cô, anh thương cô, anh tặng cô chiếc kim ấy, và cô đã đón nhận như đón nhận cuộc đời rách nát của anh. Cô áp chiếc kim vào ngực, và hôn thật lâu, rồi cắm vào cửa kiếng Đức Mẹ của cô, rồi ra đi. Tôi những mong cho cô ta được thoát khỏi mê lộ…

– Vâng!

– Bây giờ anh ra với tôi xem chiếc kim có còn đó không.

Hai người ra xem, và không thấy cái kim mà bà già nói, bà lẳng lặng :

– Như vậy Đức Mẹ của cô ấy đã nhậm lời. Cô ấy đã gặp được người yêu cũ.

Văn, vốn không tin những chuyện thánh mẫu, bà chúa như thế, đẩy đưa đáp lời:

– Vâng… Và thưa bà…

– Gì đó anh?

– Bây giờ, xin bà cho tôi được xem bài thơ mà bà nói lúc nãy.

– Anh vào đây, tôi đưa cho.

Người đàn bà đưa bài thơ viết vội trên chiếc khăn ăn màu ngà, viết bằng bút nỉ đen, những con chữ sắc nét trong những giòng chữ chập chùng, nhấp nhô, bập bùng gãy vỡ địa chấn.

– Tôi để anh đọc một mình. Tôi đi ra ngoài một chút. Đọc xong, nếu anh muốn đi, mà tôi chưa về kịp, anh chỉ việc khép cửa lại.

Và bà già ra đi, gót nhẹ tênh, như sợ khuấy động tờ thư.

Yo, la que te quiere

Yo soy tu indómita gacela,

el trueno que rompe la luz sobre tu pecho.

Yo soy el viento desatado en la montaña

y el fulgor concentrado del fuego del ocote.

Yo caliento tus noches

encendiendo volcanes en mis manos,

mojándote los ojos con el humo de mis cráteres.

Yo he llegado hasta vos vestida de lluvia y de recuerdo,

riendo la risa inmutable de los años.

Yo soy el inexplorado camino,

la claridad que rompe la tiniebla.

Yo pongo estrellas entre tu piel y la mía

y te recorro entero,

sendero tras sendero,

descalzando mi amor,

desnudando mi miedo.

Yo soy un nombre que canta y te enamora

desde el otro lado de la luna,

soy la prolongación de tu sonrisa y tu cuerpo.

Yo soy algo que crece,

algo que ríe y llora.

Yo,

la que te quiere.

 

(Em, người yêu anh

Em là con linh dương bất trị,

sét đập vỡ ánh sáng trên ngực anh.

Em là ngọn gió bùng ra trên núi ngàn

Là luồng sáng xoáy của ngọn đuốc dầu rái.

Em là hơi ấm những đêm của anh

là những ngọn núi lửa cháy rực trong bàn tay em,

làm ướt anh những con mắt cùng làn khói của những vùng trủng em.

Em đã đến với anh chiếc áo của mưa và của nỗi nhớ,

cười tiếng cười không đổi thay qua những năm tháng.

Em là con đường chưa ai đặt chân tới,

là ánh sáng đập vỡ bóng tối.

Em đặt những vì sao trên làn da anh và em

và phủ hết anh,

ngõ ngách này tới ngõ ngách khác,

cởi tình em,

lột hết nỗi sợ của em.

Em là một danh xưng1 hát ca và chiếm trọn anh

từ mặt bên kia của vầng trăng,

là nụ cười anh nối dài và thân thể anh.

Em là một cái gì đó đang mọc lên,

một cái gì đó đang cười và đang khóc.

Em,

người yêu anh.2)

Đọc xong bài thơ đã lâu mà vẫn không thấy bà lão về. Văn bỏ tờ thơ vào túi áo, cài khuy cẩn thận, rồi khép cửa, ra đi. Khi đi qua trước nơi đặt tượng Đức Mẹ, anh thì thầm: “Quả thật Đức Mẹ đã nhậm lời nàng. Hai người yêu nhau đã gặp lại được nhau.”.

Nhưng, anh không thấy tượng Đức Mẹ còn đứng đó nữa, dù cánh cửa kiếng còn đóng kín y nguyên.

Văn thờ thẩn đi qua đi lại trên cầu Alcantara và nhìn xuống dòng nước xanh thăm thẳm như tìm, như kiếm gì đó. Anh bỗng dừng lại, moi moi trong túi, lục túi áo, túi quần, túi trong, túi ngoài, túi trên, túi dưới, rồi anh rầu rĩ: “Mất tờ thư rồi còn đâu! Chắc rơi đâu đó dọc đường. Tiếc quá! Tiếc quá!”

(Một trích đoạn khác từ một bài du ký về thành phố Toledo)

Cầu Alcantara – Alcantara gốc từ tiếng Ả rập và có nghĩa không gì khác hơn là cầu. Đã có nhiều huyền thoại về những cuộc tình tuyệt vọng giữa trai gái Hồi giáo, Do thái giáo, Kitô giáo, và những sắc dân thiểu số khác nữa, gắn liền với chiếc cầu; cầu đã là chứng nhân cho nhiều phần số bi thảm, những giấc mộng vỡ tan và những đời người bị đánh mất.

Oslo 02/06/07

 

Chú thích:

  • Đối với người Tây phương danh xưng cũng là hiện thể. Trong Kinh Thánh Cựu Ước, khi ông Môi Sen, hỏi tên Đức Chúa Trời Yavê, ĐCT trả lời: “Ta có sao, ta có vậy.” đây cũng là hiện hữu. Xem chú thích của linh mục dịch giả Nguyễn Thế Thuấn trong Kinh Thánh, sách Xuất Hành, trang 124, bản xuất bản bởi Vietnamese Redemptorist Fathers, 1980. Và xin xem lại cả câu bà già trích dẫn trong truyện.
  • Thơ của Gioconda Belli. Bà sinh năm 1948, ở Managua, Nicaragua, là thi sĩ, nhà văn, và chiến sĩ chiến đấu trong phong trào Sandinismo. Bà phát biểu: “Chúng tôi, những người sandinista, muốn thay đổi tận gốc Đất Nước Nicaragua, nhưng chúng tôi không phải là cộng sản. Chúng tôi không chấp nhận những hạn chế tự do cá nhân mà các nước khối xã hội chủ nghĩa, nước nào cũng áp đặt. Chúng tôi muốn có tự do báo chí, tự do di chuyển và tôn giáo. Và chúng tôi đã thể hiện được những tự do đó. Chúng tôi đã có những cuộc bầu cử và trao quyền lại cho lực lượng đối lập năm 1990, với bà Violeta Chomoro trở thành tổng thống của chính phủ ấy. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nicaragua mà một đảng trao quyền lại cho một đảng khác một cách ôn hòa.” Xin xem thêm ở http://en.wikipedia.org/wiki/Sandinismo. Bà cùng với linh mục dòng Tên, sau là bộ trưởng thông tin Ernesto Cardenal và Claribel Alegría khởi đầu cho một cái nhìn mới về nghệ thuật gây cảm cho thi ca và về làm mới cho văn chương của nước bà. Bà lại đẹp. Fidel Castro có lúc tán bà. Thơ bà viết dễ hiểu mà hào hoa, dùng nhiều hình ảnh lạ, ý tứ táo bạo. Trong các nhà thơ nói tiếng Tây Ban Nha. Thà thích thơ bà nhất. Thà có dùng một phát biểu của bà trong mẫu đối thoại dài gần cuối truyện. Ai muốn xem thơ bà thêm, xin vào trang web của bà giocondabelli.com

 

Bilderesultat for nøkkerose

 

H1: Hoa nøkkerose: một loại hoa súng ở Na Uy

 

 

 

Bilderesultat for gioconda belli

 

H2: Gioconda Belli

 

 

 

 

H3: Đức Mẹ lai lịch từ vùng Alfliretos,

giúp tìm kiếm tình yêu, ở Toledo.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close