Nga Nga, Lưỡng Nga Nga

Nguyễn Văn Thà

 

 

Người tệ hơn thú, người Tây thời gian gần đây hay nói. Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhơn, nhơn trả oán, người mình nói đã từ lâu. Còn người Tàu: Người Nhà Nước tàn ác, thà ở với cọp dữ. Nhưng đồ vật thì hiền hơn người, lành hơn cả thú. Ý nghĩ như thế chợt loé lên trong đầu Nam khi anh đang lúi húi ăn sáng trước giờ đi làm, lúc ngoài trời còn tối đen. Anh bấm nút chiếc đèn bỏ bàn nhỏ, thấy cái đầu cúi lặng lẽ của nó mà thương. Đèn soi, tắt. Ghế ngồi lên, bỏ trơ. Chiếc bàn viết gọn gàng, giấy má ngổn ngang. Nồi cơm điện thơm ngát xôi đậu, mốc meo cơm thừa. Sách thơm giấy mới, sách bụi bám. Bao quần áo thơm mùi thuốc giặt, thum thủm mồ hôi. Đồ gỗ, đồ nhựa, đồ sắt, đồ vải sợi, đồ giấy… như những trẻ nhỏ, như những người bạn đời, hay, đôi lúc nhìn quanh căn phòng chật hẹp tựa xà lim của mình, chúng với anh như những bạn tù ki cút lâu năm.

*

Thầy Ngọc Chiếu đang lon ton tưới mấy cụm hoa quanh cột cờ trại tạm giam Cá Lớn. Thầy lúc nào cũng vui. Không biết thầy vui vì thầy đã đạt đạo, hay tính khí thầy bẩm sinh vui vẻ như thế. Đáng lẽ ra thầy phải rầu mới phải, vì thầy bị các người tù trong trại tạm giam gán cho cái biệt hiệu từ đời xửa đời xưa dân gian vẫn hay gán cho những thầy chùa thích đàn bà. Người đàn bà đó là bà Yến. Tuy bà đã có con 18 tuổi, cái thằng thỉnh thoảng lén thăm mẹ ở ngoài hàng rào trại tạm giam, bà vẫn còn trẻ như một cô gái hai mươi, hai mốt. Lẽ ra quê chết đi được, vậy mà thầy vẫn bình thường. Có người khinh bỉ chê bai, thậm chí gọi xách mé thầy là thầy “Ngọc Hành,” nhưng cũng có kẻ cho là thầy đã giác ngộ chân như, thấu được lẽ bất nhị nên thầy mới ung dung giữa những lời ong tiếng ve.
Không như anh chàng Nam, từ ngày yêu cô Nga, yêu thì yêu đấy, thích thì thích đấy, nhưng cứ xấu hổ, ngóc đầu không nổi vì anh bị mọi người cười chê. Nhiều kiểu cười chê, nhưng tựu trung: Anh là dân trí thức (Nam tốt nghiệp trường kỹ sư Phú Thọ) mà đi yêu con Nga chôm chỉa. Nhưng làm sao mà không thương được người con gái tên Nga ấy! Vẻ mặt buồn buồn thuyền trời lạc bến. Ngọc ngà tay Đức Mẹ toà cao, ngón mềm Quan Âm Bồ Tát, mọng nước Cam lồ mát dạ chúng sinh; bàn tay ấy không thể nào chôm chỉa được, không thể đã từng dùng ống bơm dập vào gáy khách bộ hành. Giọng nàng mật ong nhỏ từ Như Ý. Người cao ráo, dáng đi nhẹ nhàng tựa bóng chiều hoàng hạc ngàn năm một lần ghé bến hoàng hoa. Lại còn nút ruồi dưới cằm, vệt thuốc độc nhân ngãi; lại còn đôi mắt lá răm sắc như kiếm báu xứ Hời. Mà dù Nga có ăn cướp thì đã sao? Xã hội phải chịu trách nhiệm phần lớn những hành vi tội lỗi của con người sống trong xã hội đó, không phải vậy sao? Nhất là khi nàng phải bơ vơ giữa cái xã hội nghèo đói, mắc phải ách hà chính thụt lùi hàng ngàn năm lịch sử văn minh nhân tính. Nam có đủ kiến thức xã hội học để biện minh, cho Nga. Rồi còn nữa: nào là tha thứ, nào là bao dung; những thứ ấy, anh đầy dư vạn hộc. Nên chàng trai ấy thương nàng Nga chôm chỉa tình yêu dâm bụt, nên yêu Nga ống bơm hoa chuối sân tù. Vạy mà nhiều kẻ lại thương xót cho ông thầy Nam, dù những kẻ ấy khi chia bắp hột, chắc chắn không chịu cho Nam nhiều hơn họ một hột, dù những kẻ ấy, những lúc Nam đau răng chết cha đi, rên cho mày rên, chẳng ai thèm hỏi, ngay cả cái thầy Linh, cái ông thầy giảng tính vượt biên qua Rôma để học viện thần học Thánh Giáo hoàng Grêgôria Cả trứ danh, cho thỏa lòng ham chuộng trí thức cao cả về đạo Chúa Trời, khi Nam xin chút dầu xanh xức răng đau, cứ chối phắt rằng không có, nhưng khi biết Nam, một người có học như mình, mà lại đi mê con nhỏ bụi đời, lòng thầy ta thương Nam vô hạn, nên cứ cận kề sớm tối khuyên can. Người ta thương xót bảo ban, người ta bảo ban thương xót cái bút cái nghiên anh đồ chấm bậy bãi phân trâu. (Lạ, vì cớ làm sao người ta để ý xót thương những người dây dưa chuyện trai gái loăng quăng, hơn gấp trăm lần để ý những kháng chiến quân trẻ, bị tra tấn, bị cùm kẹp, bị bỏ đói bỏ khát, bị ngạt thở, lở ghẻ đầy mình, ở biệt giam địa ngục bên kia, và chẳng bao lâu nữa sẽ bị mang ra hành quyết? Cái phồn thực của Nam, cái yoni của cô Nga cao trọng trong đầu óc họ đến như thế sao? Chúng còn cao trọng hơn những vầng chính khí?)

Khi xuống nhà bàn lãnh phần cơm  Nam thấy các bạn tù tụm năm tụm bảy, vừa nhai bắp, vừa xì xụp canh rau cải thiện, vừa cười hô hố. Thằng Chín Đen, anh chàng dân ba đờ ghe thân nhất với Nam, khi thấy Nam đi vào, kêu lớn:

“Thầy Nam mấy bữa này có gặp ông thầy Ngọc Chiếu không?”

“Không, mà có gì vậy không Chín?”

“Thì nghe đồn là tháng trước, lúc bà Yến bị biệt giam mấy ngày, ông thầy Ngọc Chiếu, ổng rà rà giả tưới bầu gần khu biệt giam, dù đúng ra cái việc của ổng là việc tưới hoa sân cột cờ, chớ không phải tưới bầu khu đó, rồi ổng lén đưa cần câu thòng thuốc lá thơm cho bà Yến trong biệt giam, qua cái song sắt nằm cao tít tận mái. Thầy Nam có biết hông: bả còn làm mấy cha sĩ quan, sĩ quéo ở đây cứ nhìn bả thèm chảy nước miếng, tui vậy chơ, tui đã từng chơi bả rồi?”

“Xạo mày!”

“Có mặt đèn làm chứng. Hồi tui tổ chức vượt biên, tui móc nối bả. Bả chịu tui, tui chơi liền. Tui chơi bà, bả đã quá, bả rên ‘Sướng quá anh ưi!’ ”

Thằng Chín kéo dài tiếng ưi dài thiệt là dài, làm mấy anh tù đang đau đáu nhìn chia bắp, cũng phải đồng loạt giật mình, ngoắt lại đằng sau, trợn mắt nhìn, cười rộ. Hai ba người gì đó nhao nhao:

“Xạo mày! Xạo mày! Mầy đen như cột nhà cháy, lại hôi rình như cú, ai mà thèm!”

Chín Đen cười hề hề, nhăn hàm răng trắng nhỡn:

“Trời đất ơi, các người nói gì dzậy! Các người không tin, tui chứng minh cho các người thấy.”

Nói rồi, hắn lập tức ra hứng hai thùng nước (hắn có nhiệm vụ gánh nước chế vào bồn nước trước dãy biệt giam) . Trước khi gánh sang bên dãy biệt giam, hắn gánh lạng qua dãy nhà tù nữ. Hắn vừa gánh vừa uốn éo cặp mông khá lớn của hắn, và: “Sướng quá anh ưi! Anh Chín đây Yến à! Sướng quá anh ưi! … Mình đã từng thương nhau hồi đó, sao bi giờ em làm mặt lạnh với anh!” Cả tù nam đứng ngoài hiên, cả tù nữ còn trong buồng giam, cười đã đời. Mãi tới lúc có tiếng gã công an trực phía cổng giam quát lớn: “Anh Chín nói gì đó!? Liên hệ nam nữ bất chính hả? Cùm đầu bây giờ,”  Chín Đen mới chịu im.

Chiều hôm đó nàng Yến vẫn tươi mát trong bộ đồ bộ xanh xanh da trời đi qua đi lại giờ lãnh cơm nhà bếp. Cứ nhìn vào mắt của mấy anh sĩ quan, mấy tay trí thức (những kẻ mặc nhiên cho là mình xứng đáng với bà Yến) thì thấy rằng những lời khoe của thằng Chín là một sự láo khoét vĩ đại.

Người đàn bà đẹp đó có cái đẹp con nhà nòi, và con nhà nòi ấy lại được ăn trắng mặc trơn suốt đời: Bà là con của một bà chủ thuốc tây người gốc Huế, và là vợ của một ông đại úy đang còn cải tạo ngoài Bắc. Người đẹp mà lại gốc Huế thì đương nhiên thấp thoáng thêm cái vẻ hoàng phái của một tiểu thư, một mệnh phụ Công Tằng Tôn  Nữ nào đó. Làn da, mái tóc, dáng đi, giọng nói của bà hội đủ những nét ước lệ về qúi phái xứ Huế. Một thầy tăng trọc đầu như thầy Ngọc Chiếu mà lại đi nói chuyện với người đàn bà đẹp, nhất là người đàn bà trắng nõn nường mà lúc nào cũng mặc những bộ đồ bộ vải lụa màu, thường là màu xanh da trời, dù chỉ thấy một lần, thì không có cái đầu óc của người thế tục nào còn đủ lý trí để hãm lại cái khuynh hướng vẽ vời thêu dệt mà Con Tạo cài vào từ ngày tạo dựng Âm Dương.

Ngày mồng một, tù không được đi lao động, nhưng Nam xin phép cán bộ ra được vườn bầu, vì anh là trưởng tổ tổ rau xanh. Nam muốn ra đó để ngắm được bầu trời rộng, và để được tắm nơi cái giếng nước mát vườn bầu ngày mồng một Tết, như thói quen ngày ở quê nhà. Hồi đó, anh hay kiếm cớ để được giữ nhà sáng mồng một cho cả nhà đi lễ misa, hầu được tắm một mình giếng nước im ắng ngày đầu năm, khi mặt trời nguyên đán vừa ửng đỏ trời tươi. Vầng dương ấy là tình xuân trời. Nước mát ấy là tình xuân đất. Giờ nầy anh nhớ mẹ nhớ cha, nhớ thùng bánh tét cha lúi húi coi lửa châm nước cả đêm, như hạnh phúc lớn của ông, nhớ lát bánh xanh màu lá mạ mẹ xắn, nhớ sợi mật trong mẹ thắng vừa thơm. Nhớ những trang sách đọc đêm giao thừa; hương ngọt quyện quanh giấy cũ. Anh tạm thời quên đi những tháng ngày tù tội, quên những nhóm trí thức khệnh khạng rẻ tiền cùng buồng, quên luôn những lời tục tĩu dâm bôn của mấy đứa như thằng Chín Đen, quên cả những lời chào xáo về chuyện thầy tăng Ngọc Chiếu và kiều nữ Hoàng Yến, giữa anh và Nga chôm chỉa. Anh cảm thấy anh là người may mắn. Có lẽ là người may mắn nhất giữa đám tù khốn khổ xa quê. Một sáng xuân miền Nam bất hạnh.

“Chào anh Nam, năm mới! … Mấy cội bầu xanh um, trái mỡ màng thiệt đẹp, thiệt như trong những bức tranh dưa của Lý Mã Nguyên.”

Nam giật mình, nhìn lại:

“Thầy đó hả, chào thầy năm mới, mà thầy nói gì mà dưa với bầu…?”

“Tôi nói về vườn bầu đẹp, về Lý Mã Nguyên, một họa sĩ Đài Loan, chuyên vẽ về các loại bầu, bí, dưa hấu, dưa chuột…”

“Rồi sao nữa?”

“… mà Tàu họ gọi chung là Qua họa… Và anh xem, bầu trời lại xanh vút như thế này, trời như hút lòng người thế vào lòng xanh vô tận.”

Nam cười nụ:

“Xin cho con được hỏi thầy: Màu xanh da trời hút lòng người thế vào cõi vô thủy vô chung, trong màu xanh trời bay áo ai chăng?”

“Hà hà hà…trời xanh, áo giai nhân là một.”

“Khói thuốc lá thơm, giai nhân mặt ngọc; thầy tăng trọc đầu, kinh kệ bỏ quên.”

“Nam mô A di đà Phật.”

“Xin bậc cao minh thích nghĩa.”

“Anh Nam ơi, Trời sinh ra tôi, bắt tôi yêu Cái Đẹp ở mức độ khác người. Hồi còn đi học trường Tây, có những đêm ôm tập tranh của Delacroix vẽ những nường parisienne khói thuốc bay bay, hao hao giống bà Yến, đã làm tôi không cách chi ngủ được. Rồi cái ông Nguyễn Du, thơ trác tuyệt mênh mang tóc trắng, thi ca dật dờ lữ thứ, làm dạ này dạ dạ chẳng an. Đòi phen, tôi như điên như khùng vì Cái Đẹp. Và anh Nam biết không: tôi theo Phật cũng chỉ vì quá mê Cái Đẹp trong tư tưởng của Tất Đạt Đa! Cái Đẹp ấy là Cái Tình. Tình thì làm cho ta mê đắm, kể cả loại tình mà tôi tạm gọi là tình tư tưởng. Chẳng thiếu gì người sống chết ăn nằm với tư tưởng. Cái tình tư tưởng cũng nguy hiểm, làm chết đuối con người chẳng kém mỹ nhân. Tư tưởng cũng làm người ta giật orgasme. Gã Cồ Đàm cũng tham lam lắm. Tham tư tưởng đến nỗi bỏ được cả thú ái ân vợ chồng, thú ăn ngon mặc đẹp, thú được người thế tôn vinh. Và rồi một ngày, ông đã khơi được nguồn tư tưởng từ đáy huyệt riêng ông. Nó vọt lên dữ dội như suối nước nóng gặp lúc địa chấn, rồi ào ào thác lũ, rồi êm đềm tưới gội hằng hà sa số lá ưu đàm nhân thế, và lòng ông bắt đầu một mùa lặng thinh xuân tứ, xuân tứ mênh mang Hi Mã Lạp Sơn. Và tuy rằng, vào cuối đời, ông ta nói là mấy chục năm nay ông chẳng nói gì, thì lời ấy là lời đã đời của một kẻ đã được no tình. Một loại đê mê Archimède sau ngày thảng thốt eureka. Và anh Nam ơi, Con Người bị kết án phải suy nghĩ. Ôi, cái lụy nhân sinh ấy to lớn nhường bao. Thiên đàng và địa ngục cũng ở chỗ đó.”

“Hèn gì bên Công giáo có Charles Foucauld, người sáng lập dòng tu tiểu đệ, đặt thêm điều lệ trong lời khấn khó nghèo là người tu dòng của ông không được sở hữu cả chính sách vở là những nơi chất chứa thiên đàng địa ngục như thầy vừa  nói.”

“Vâng, mê sách vở cũng là một loại dục ghê gớm. Tạm gọi là thư dục. Vì sách vở mở ra cho ta bao nhiêu điều đẹp đẽ. Kẻ muốn lùa Cái Đẹp vào đầu mình, và kẻ ôm người đàn bà đẹp trong tay, họ không khác nhau  bao nhiêu. Chuyện tôi mê tư tưởng Tất Đạt Đa và chuyện tôi yêu bà Yến cũng chẳng khác nhau là mấy. Anh Nam này, tôi nghĩ đã đến lúc phải đốt đi những chùa chiền, đập tan chuông khánh mà thiện nam tín nữ cứ thích trú ẩn vào, cứ thích gõ mãi không thôi. Họ đã được nuông chiều quá nhiều qua hàng ngàn năm nay rồi. Hư thân mất nết cả lũ.”

Nam ngập ngừng:

“Hay nói cách khác: Cuốn Tình sự Kama Sutra và cuốn kinh Bát Nhã chưa chắc cuốn nào trên cuốn nào? Có thể nói được như vậy chăng?”

“Vậy là anh Nam hiểu được dạ tôi.”

“Dạ..”

“Cảm ơn Nam đã chịu khó nghe những lời càn rỡ của mình, một nhà sư vướng lụy. Nam ơi, trút dạ cho Nam xong, mình bỗng thấy lòng trống rỗng và cô đơn như sau khi trải qua một cơn bạo bệnh. Cảm ơn Nam đã nghe mình, như bao lần trước. Thôi mình trở vào buồng giam… nghỉ một lát.”

“Dạ…”

Thầy quay lưng đi, so vai rụt cổ như không còn mang nổi hình hài cổ lụy đời mình, nhưng rồi như chợt nhớ ra điều gì, thầy gọi giật Nam lại, nghiêm trang:

“Anh Nam, Nga nga lưỡng nga nga Hồng thủy trạo phong ba – Ngỗng ngỗng hai con ngỗng  Nước đỏ chèo gió sóng.”

“Dạ…”

Rồi mấy ngày sau đó thầy bị vào biệt giam. Có người nói là vì tay trưởng giám thị trại giam cũng mê bà Yến, có người lại bảo vì thầy đòi quyền được để đầu trọc.
Thời gian đó linh mục Canh cũng vừa mới được cho ra khỏi biệt giam sau ba năm nằm trong buồng tối. Cha giữ chân tưới hoa thay cho thầy Ngọc Chiếu. Cha từng du học ở Pháp mười một năm. Cha biết nhiều về văn chương, triết học Pháp. Cha còn thuộc lòng hàng trăm bài thơ Pháp từ Ronsard cho tới Prévert; biết nhiều về Descartes, Jean Paul Sartre, Emmanuel Mounier…, cả về Freud, Jung… nhưng khi cha biết Nam người trí thức và là con chiên của cha mà lại đi yêu cái con nhỏ Nga chôm chỉa thì cha không hài lòng lắm. Tuy cha vẫn khôn khéo, không để lộ ý ra ngoài, nhưng Nam vẫn biết, vì thương Nam, cha đang cố vận dụng kiến thức của cha để thuyết phục Nam, con người cũng thích kiến thức, đừng dây dưa với Nga nữa. Có bữa cha kể với Nam:

“Cô Nga, mỗi lần gặp tôi ở tổ chăn nuôi, nói chuyện với tôi, cô ấy cứ vừa ôm cái cột chuồng heo vừa nói, con mắt lá răm híp híp, lại còn cười hí hí. Nhất là những lúc cô hỏi chuyện về anh, lại càng ôm cột chặt. Theo Freud thì, cái kiểu cứ ôm cột mà còn cười hí hí, là một biểu hiện của libido…”

*

Mồng hai Tết năm nay, thằng Vi, con út của Nam, đến nhà ba chơi. Nó vốn thương ba và thích ở gần với ba những ngày nghỉ học.

Còn Nam, cứ mồng hai Tết, là làm anh nhớ món cháo bánh canh nấu với những con cá biển mồng hai xuất hành ra khơi của bố anh. Dĩ nhiên, ở Na Uy này, không cần đi biển anh cũng có thể có cá tươi, cả những ngày mồng hai nào đó của cái xứ Việt Nam xa lắc. Nhưng Nam vẫn thích chèo chiếc xuồng cao su, thả một tay lưới nhỏ mà bố anh gởi sang, nơi cái lạch biển cách chung cư anh khoảng năm cây số. Thường anh thả lúc trời chạng vạng, để sáng mai bắt được cá chạng vạng lẫn cá rạng đông như kinh nghiệm hồi còn đi lưới thúng với bố. Thằng út háo hức về mẻ cá sáng mai; ngủ mà còn mỉm cười. Sáng ra cha con chưa kịp ăn sáng, nó đã thúc đi kéo lưới.

Thằng nhỏ reo vui mỗi khi có cá đóng lưới đang bị ba nó kéo lên. Khi kéo được chừng nửa tay lưới, thằng nhỏ chỉ chỏ, trộ tiếng Na Uy, quên cả lệnh cấm nói tiếng Na Uy với ba:

Pappa, có con ngỗng dính lưới! Có con ngỗng dính lưới!”

Một con ngỗng trắng, xơ lông, lờ đờ, kêu khào khào.

Pappa, cô giáo nói là không được phép bắt ngỗng trời đó nghe ba!”

“Ừ, bắt mà làm gì! Để ba thả nó ra.”

Nhưng thằng út bỗng đưa tay ngăn, suy nghĩ:

“Khoan đã ba. Để con nghĩ xem… Nó chắc là bị đói, bị rét cả đêm, và cũng có thể bị thương nữa. Mình đưa về nhà ủ cho nó ấm, rồi xem nó có bị thương không. Lỗi do mình mà… Rồi mai thả.”

“Nhưng lỡ cảnh sát bắt được thì sao.”

Thằng nhỏ trở nên thông minh láu cá ngoài mức dự tưởng của Nam:

“Thì cho nó chui vào chiếc áo khoác mùa đông của con; áo con rộng chán; không ai thấy đâu.”

Nam đồng lõa với hành vi phạm pháp dễ thương đó ngay.

“Ừ. Để ba kéo cho xong lưới rồi mình về. Mấy con cá torsk thịt trắng tinh này nấu cháo bánh canh ngọt phải biết!”

“Mà ba đã có ngò chưa? mà phải ngò tươi xanh đó ba!”

“Rồi.

“Có tiêu không?”

“Có.”

“Và phải có một hai trái ớt đỏ nữa. Mới cay, mới đẹp nồi cháo.”

Nam ứa nước mắt:

“Mà sao con biết?”

“Thì hồi về Việt Nam thăm ông bà nội, con thấy bà nội nấu mà.”

Con ngỗng kêu “quác,” chao chao lòng xuồng.

Tối đó cha con hít hà húp nồi cháo nóng vừa ngọt vừa cay. Thằng nhỏ huyên thiên kể về những chuyện Việt Nam mà nó đã thấy. Thấy nhiều quá, mà toàn là chuyện không ngờ đối với nó, nên kể nhiều lần với ba, mà nó vẫn chưa hết chuyện, từ chuyện con cậu nó không biết cái hamburger là gì đến chuyện internet ở quán cà phê ở Việt Nam chạy gì mà chậm rì… Nó còn nói con gái Việt Nam thon hơn con gái Na Uy, con gái Na Uy sao hay ú quá mà lại dữ quá! (nó lại nói tiếng Na Uy). Con sẽ kết hôn với một cô gái Việt Nam. Mấy cô Việt Nam đẹp mà sao cực vậy ba? (Con nít Na Uy nói chuyện bồ bịch, chuyện lấy vợ lấy chồng rất tự nhiên.) Nam nước mắt nước mũi chảy ròng ròng. Tại ba bỏ nhiều ớt quá, thằng út nói như vậy.

Ăn no, ăn ngon, tắm nước ấm với kem tắm thơm, thằng út ngủ êm đềm nơi chiếc giường của Nam, ôm ngỗng mà ngủ. Ngỗng có vẻ thích nó, hoặc có lẽ quá mệt, giờ lại được êm ấm, nên chẳng  kêu ca chi. Nhưng ngỗng không ngủ. Thỉnh thoảng nó lại ngóc đầu nhìn ngọn đèn, nơi Nam đang ngồi đọc sách. Nam đọc sách cũng không yên, thỉnh thoảng nhìn lại ngỗng, cứ sợ nó ra một bãi thì khá là phiền. Giường nệm khăn trải giường trắng sạch mới giặt ăn Tết hôm ba mươi, còn thơm thuốc xả mùi ngọc lan; nhưng đành chiều con, vì anh chẳng mấy khi gặp được nó, và dẫu gì nó cũng chịu mất mát do chuyện vợ chồng anh đã thôi nhau. Nhưng rồi cuốn sách hay quá, nó cuốn hút anh; chuyện hay không , không còn đủ công lực lôi anh ra khỏi trang sách.

Bỗng con ngỗng kêu “quác quác,” cổ ngóc dài. Thằng út, tỉnh ngủ, nói tỉnh bơ:

“Ngỗng nó muốn nói chuyện với ba.”

“Hả, nói chuyện với ba!? Hay là nó ra cả giường rồi?!”

“Không đâu ba, nó chưa đi cầu đâu, ba. Con có nghe mùi gì đâu. Nó muốn nói chuyện với ba mà!”

“Này, có muốn đóng tuồng thú vật lớp mẫu giáo với ba thì nói ra đi, ba sẵn sàng; đừng có mà bày đặt nữa.”

“Con nói thiệt mà. Nó muốn nói chuyện với ba. Nó buồn.”

“Tuồng hay không tuồng cũng như nhau,” Nam bỗng triết lý sảng. “Ừ, bảo ngỗng bắt đầu đi.”

Và anh bắt đầu cảm thấy mình nhập vai.

“Anh ơi, em là Nga đây, em đã vượt muôn gió sóng qua đây để được gặp anh.”

Anh rợn người hóa thân đồng cốt, ngôn ngữ nghe thoắt đã thay màu:

“Trời đất, em là Nga! Em từ Việt Nam bơi qua đây!?”
“Qua Thái Bình Dương bão tố liên miên. Qua Đại Tây Dương lạnh lẽo vô chừng. Anh chừng như đã quên em. Hồi đó, anh rời khỏi trại cải tạo, em còn ở lại ba tháng nữa, mà anh có hề viết cho em một lá thư, nói gì đến chuyện đi thăm em như anh đã hứa.”

“……”

“Anh chẳng được như Chín Đen. Anh ta với bà Yến ra tù, ăn ở với nhau, giờ đã được mấy mặt con.”

” Hả, Chín Đen mà…”

“Dạ, Chín Đen lấy bà Yến.”

“Trời đất!”

“Tình yêu ai mà biết được. Còn anh, anh ơi, qua những lá thư lén trao em trong tù, anh đã nói bao nhiêu điều thương mến. Em sững sờ với tình yêu mãnh liệt lạ lùng nơi anh. Nhưng tại sao, tại sao?”

“Anh cũng không biết nữa, Nga ơi. Những tàn nhẫn, những đói khát nào có buông anh sau ngày anh ra tù. Anh như bị tê liệt. Anh như mất hồn khôn. Em giận anh cũng đúng. Ngày em ra tù, em không chịu gặp anh nữa cũng đúng luôn. Nhưng tại sao em lại không trở về quê cũ Cá Nhỏ, mà anh nghe nói là em bỏ đi biền biệt xuống vùng muỗi mòng sình lầy miền Tây?”

“Em không muốn gặp anh! Em không muốn gặp anh! Em đã ngỡ chỉ có anh mới hiểu và thương em thực sự. Em đã đinh ninh rằng những người đàn ông khác không bao giờ được như anh; họ chỉ lợi dụng cái em đang có; họ vừa tiêu vốn chấn em, trong lòng họ vừa khinh bỉ em. Em đã tin anh của em sẽ không như thế. Đọc thư anh, em linh cảm một tình yêu vượt mức bình thường. Có những đêm trong tù em đã qùy lạy tạ ơn Trời Đất.”

“Anh cũng chẳng biết anh nữa, Nga ơi. Em biết không, một khi tâm tư tê liệt như thế thì đó là khởi đầu cho một địa đạo tối om chỉ có một hướng duy nhất là chúi về phía địa ngục? Người ta không thể lùi lại giai tầng ánh sáng. Bị tù rồi ra đời, ra đời  đó cũng chỉ là nối dài cái địa đạo ma tru quỷ hờn. Có những người thật mạnh mẽ, hoặc có những người oằn oại rồi thích ứng với đời giun. Họ lướt qua được, họ quen được; anh thì không.”

“Vâng, những năm trôi nổi ở cái nhà tù rộng lớn vô vọng của cuộc đời ấy, em mới hiểu anh, hiểu sự câm lặng của anh, nên em thương anh vô chừng. Quay về tìm anh, không thấy. Tìm thầy Ngọc Chiếu hỏi, thầy nói em trai anh đưa anh vượt biên rồi. Em nói với thầy: ‘Thì cũng mừng cho anh ấy.’ Nhưng thầy lại nói: ‘Anh ấy không bao giờ hạnh phúc, dù ở phương trời nào. Anh là con người sinh ra để chịu đau khổ. Bởi anh sinh ra đời với trái tim trích tiên.’ Em đã chèo chống qua được đây, trích tiên của em ơi. Em đã dính được lưới anh, lòng em mãn nguyện. Chết cũng cam. Em thương anh! Em thương anh!”

“Trời đất ơi…!”

“Ba nói gì một mình vậy ba? Cái thằng Per bạn con, nó cũng có tật nói một mình như vậy. Giáng sinh vừa rồi nó đóng vai gấu Ole Brum nói một mình thiệt hay.”

“Hả, con nói gì!?”

“Con nói là ba nói gì như mấy người mất trí.”

Nam giật mình.

“Mà ba, ba làm gì cho con ngỗng nó khóc đây nè. Hai hạt nước mắt nó to như hai biển lớn.”

Rồi thằng út ngủ trở lại, như không. Và Nam cũng rơi vào mê thiếp. Sáng ra anh tỉnh giấc bình thường, như chưa có chuyện gì xảy ra, lại còn nhíu mày nhìn xem con ngỗng còn nằm với thằng út không và còn khịt khịt mũi xem có nghe mùi phân ngỗng, nhưng anh vừa ngạc nhiên vừa mừng khi không còn thấy ngỗng đâu; anh chỉ thấy cánh cửa sổ hé mở và một chiếc lông ngỗng vướng trên cành hoa dâm bụt trên bệ cửa, trắng tinh khôi như vệt mây nguyên đán còn vương.

Nam canh giờ chờ bố mẹ ở Việt Nam đi lễ sáng về để gọi điện thoại mừng tuổi. Ngày mồng một chưa gọi được sợ bố mẹ trông, nhưng bây giờ mồng hai, gọi tới gọi lui mới bắt được tiếng mẹ.

“Mẹ đó hả? Mẹ khoẻ không? Con xin chúc mừng bố mẹ năm mới.”

“Trời đất ơi, ngày mồng một, bố mẹ trông con gọi điện thoại quá chừng.”

“Xin lỗi bố mẹ. Con có cố gắng gọi nhưng sao không được. Có lẽ là tại tết nhất nhiều người gọi về Việt Nam quá mới bị như vậy. Mà mẹ ơi, bố mẹ có mạnh giỏi không? Nói cho con mừng!”

“Khoẻ, con à”

“Mà bố đâu rồi, mẹ?”

“Thì bố đi thả lưới xuất hành mồng hai như mọi năm chơ đâu! Sắp về rồi. Chắc cũng được ít con nấu bánh canh ăn. Mà năm này cha con con có gặp nhau nấu bánh canh như năm ngoái con kể cho bố mẹ nghe không vậy?”

“Dạ có. Giờ thằng út nó đang còn ngủ với con đây nè. Mẹ có muốn nói chuyện với cháu không?”

“Thôi để cho cháu ngủ. Mà này, chuyện con vợ con ra sao rồi? Mẹ những mong hai đứa về lại với nhau. Nhưng mà nếu không được, con cũng phải kiếm người khác; các cha nói gì mặc kệ các cha; chẳng lẽ con sống vậy hoài một mình?”

“Con cũng chẳng biết nữa.”

“Cũng chẳng biết nữa là làm sao? Mà nầy, con còn nhớ đến con nhỏ Nga không? Nó mới đây về thăm bố mẹ. Nó đi đâu cả mấy mười năm sau ngày ra tù. Con nhỏ coi vậy cũng hiền lành dễ thương, chứ có đâu như người ta đồn đãi. Nó đến thăm bố mẹ ở chơi mấy ngày. Thấy nó ngồi đâm trầu cho mẹ ăn mà thương. Biết vậy hồi đó mẹ cưới quách nó cho con. Biết đâu hai đứa hạnh phúc với nhau. Con không phải chịu cái cảnh đơn côi như bây giờ, mà nó cũng khỏi lở dở lang dang. Mà hồi đó con cũng mát mát điên điên sao đâu ơ! Sau khi ra tù nó giận con, nó đi đâu xuống miền dưới. Chuyện chồng con, hỏi nó, nó không nói, nó chỉ khóc. Nó nay còn bị đau bao tử nặng, và xem chừng tứ cố vô thân.”

“Trời đất, mà cô ta giờ ở đâu?”

“Nó ở chơi mấy bữa, ra chợ mua cho mẹ cái cối giã trầu mới. Rồi nó đi! ”

“Chao ơi!”

“Nó nói nó ở đâu dưới vùng Cà Mau, Rạch Giá gì đó. Mà bệnh nó có mòi nặng. Nó đi, mẹ cứ tiếc không kêu nó ở lại quách để chạy thầy chạy thuốc cho nó. Mẹ cứ sợ nó có mệnh hệ gì thì lại ân hận!”

“Xót ruột quá!”

“Lại còn thầy Ngọc Chiếu nữa…”

“Sao, thầy ra sao rồi!?”

“Ổng chết thiêu trong chùa.”

“Hả, mẹ nói sao?”

“Ông thầy chùa hồi đi tù với con đó! Chùa cháy, ổng cũng bị chết cháy với chùa. Bổn đạo lương giáo ai cũng thương tội nghiệp cho thầy. Còn mấy ông cách mạng lại cho thầy tự thiêu phản đối Nhà Nước…”

“Bạn Ngọc Chiếu ơi, Nga nga lưỡng nga nga Hồng thủy trạo phong ba!
“Nam, con nói gì vậy!?”

Oslo, 9.12 .02

Chú thích:

  1. Nga Nga…

Hai câu thơ này Nguyễn Văn Thà nghe thầy Ngọc Chiếu đọc và dịch thẳng như thế. Trong Thiền Uyển Tập Anh và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư kể là: Khi sư Đỗ Pháp Thuận, (915 – 990), đời vua Lê Đại Hành, đóng vai lái đò tiếp sứ Tàu, trên con đường sông đi vào kinh thành, sứ giả Lý Giác thấy hai con ngỗng bơi lội trên mặt nước bèn ngâm đùa rằng: Nga nga! Lưỡng nga nga  Ngưỡng diện hướng thiên nha  –  Ngỗng kia! Ngỗng một đôi Nghển cổ nhìn chân trời.  Nhà sư đang cầm chèo bèn ngâm tiếp theo ngay:  Bạch mao phô lục thủy Hồng trạo bãi thanh ba  –  Nước xanh bày lông trắng Sóng biếc chân hồng bơi.

Có thể đây chỉ là truyền thuyết đẹp, và những câu thơ trích trên đây là phỏng theo bài Vịnh nga của Lạc Tân Vương, nhà thơ đời Đường, làm lúc 10 tuổi. Bài thơ như sau: Nga! Nga! Khúc hạng hướng thiên ca Bạch mao phù lục thủy Hồng chưởng bát thanh ba  –  Ngỗng! Ngỗng! Ngỗng! Cong cổ hướng lên trời mà kêu Lông trắng nổi trên nước biếc Bàn chân hồng khua sóng xanh.

Hoặc có thể hai vị đã vận dụng thơ cổ trong cuộc đối thoại. (Thơ Văn Lý Trần, nxb KHXH, Hà Nội, 1977,  tập I, trang 202 – 203)

Lâu nay Thà này vẫn thắc mắc tại sao thầy Ngọc Chiếu, một người quảng bác,  lại nhớ sai bài thơ đẹp như vậy. Hoặc giả thầy cố ý nhớ sai? chuyện này Thà không thể biết được; và thầy cũng đã mất; mà xem ra cũng chẳng cần biết  mà làm gì!

  1. torsk, tiếng Anh gọi là cá trout, thân thon, da màu xanh đen như cá Mú bên mình

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close