Thằng Người Rụng Ðuôi

 

Nguyễn Văn Thà

 

 Bilderesultat for tướng nguyễn ngọc loan bắn việt cộng

 

Có những nơi đi qua một lần rồi khó mà quên. Nghĩa địa là một nơi như thế. Nghĩa địa nhắc nhở ta phù thế, phù vinh, bèo trôi vất vả, mây nổi long đong, nhưng ở đấy còn đọng sương minh trí, mưa tình cảm, và những nỗ lực tưởng tàn lụi của đời người. Người ta nghiệm ra được điều đó nơi những lời mộ chí ở Venice, tượng thiên thần nghĩa trang ở Ðức, vô số bích họa màu sắc rực rỡ sự sống dưới những làng-mộ-hầm xưa ngàn năm ở Alexandra, những giòng chữ mộ chí bị chà đạp của một dân tộc đọa đày trong nghĩa địa Do Thái ở Prague, cho đến những nấm mồ chuồi bên đường nghèo khó, những mồ mả bị phanh thây sau cái ngày khốn nạn tràn về trên nửa phần đất còn lại của xứ Việt.

Nửa phần đất ấy bao đời đất lành chim đậu, nơi nương thân, nuôi sống dân Việt xưa, và từ năm 1954, lại là vùng đất che chở cho cả triệu người đi tìm đất sống, đi tìm sự sống, hay nói như ông Tô, dân có đạo Nghệ An, đi cho khuất mắt ”cái tụi kiêu ngạo”.

Ðời của ông Tô là củ khoai, là chén cơm, những con mưa mát lành, trưa nắng hanh hao thơm mùi đất khét, chim sẻ lích chích đầu hè, là những thằng cu trần trùng trục tắm khe. Anh An là con trai đầu lòng của ông Tô, sau An là Tâm, con gái. Hai người sinh những năm sau năm di cư. Cha xứ có lúc hỏi ông sao lại đặt tên con như thế, ông cười hề hề:

”Thì thưa cha, chạy thoát được cái bọn Cọng sản là an tâm thôi cha nợ! Cái tụi chi mà kiêu ngạo! Mà cứ như các cha hay giảng: Tội nặng nhất là tội kiêu ngạo.”

”Ừ, kiêu ngạo thì chẳng khi mô nhận mình là tội lỗi, là sai lầm, cứ làm bậy rồi coi lời người khác như không; là mù quáng, tệ hơn nữa đã mù mà còn bị anh mù dẫn đường thì cả hai lại rơi xuống hố.”

”Dạ, có rứa mới xảy ra những vụ thuế má nặng nề ở quê Nghệ An con, rồi đấu tố, rồi giết cả những người đã từng hi sinh xương máu vì tụi nứ. Mà họ vẫn vênh váo làm tới, coi mạng người còn thua rơm rác! Thiệt như đời Kiệt, Trụ.”

”Ừ, mà tàn bạo, quỉ quyệt hơn nhiều.”

”Có đâu mà con vừa lấy mẹ của mấy đứa, được bố con cho một mẫu ruộng, làm vụ đầu tiên, trúng mùa, lúa mới, lúa vàng, vàng ươm đầu đời, nhìn chưa đã mắt, rờ chưa ấm tay, tụi nứ cho người đến đọc một lô hiệu lệnh về đủ thứ thuế má tên chữ Tàu đô hộ lạ hoắc, rồi bắt chúng con đóng thuế lúa! Nhà con xúc, nhà con đong, nhà con đóng bao, gánh lên kho cho tụi nứ, tụi nứ chỉ chỉ tay năm ngón. Ðóng xong, chỉ còn lại được mấy thùng lúa lưng. Ðã vậy, ngày sau tụi nứ lại đến, bảo là nhà con khi đong lúa đã trộn lúa lép, và bắt phải đóng thêm, không thì chúng con sẽ bị coi như những kẻ phản động vì lừa chính quyền cách mạng.”

”Ừ, mà ông Tô học hành ở mô mà ăn nói văn vẻ đầu đuôi!”

Ông Tô cười hì hì:

”Thì thưa thiệt với cha con hồi xưa con cũng ăn cơm nhà Ðức Chúa Trời mấy năm cha nợ, nhưng thấy mẹ mấy đứa da trắng phau phau, mắt bồ câu đen lay láy, cho nên…”

”Ông Tô rứa mà nghịch ngợm hề! Kiểu như ông mi, thế nào mà chẳng con bầy, con đoàn.”

”Thì Miền Nam ni đất lành chim đậu. Như vùng mình ở đây muốn ruộng có ruộng, muốn rẫy có rẫy, mưa nắng điều hoà, lại gần biển có con cá con mắm, lại củi trên rừng. Thiệt đúng là trên cơm dưới cá. Không đẻ con ra để con nhờ thì cũng uổng cha nợ.”

”Thì Chúa bảo hãy sinh con cái cho đầy mặt đất mà!”

”Mà cái tụi nứ lại đâu có để yên cho người ta làm ăn, sinh con đẻ cái. Con nghe nói ở dưới Bến Tre bến triếc, rồi ngoài Quảng Nam, Quảng Nghĩa chi đó, tụi nứ lại bắt đầu nổi lên, lại chém giết, lại mồm loa mép dãi. Máu lại bắt đầu chảy. Rồi không biết ra sao đây?”

”Ừ, biết đâu ông với tui lại phải chạy lần nữa, mà biết chạy đi đâu? Thôi, mình cứ cố hết sức mình, phần còn lại để cho Chúa lo.”

Ðúng thế, những năm sau đó, với tính chăm chỉ và lòng ham đất ham đai, ông bà Tô dư sức nuôi con: An, Tâm, và còn sinh thêm Tư, Thiện, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. ”Sinh con ra cho con hưởng!” Hai vợ chồng còn muốn đẻ thêm đứa nữa, đặt tên Tín, cho đủ bộ giáo huấn ông bà, nhưng cũng tới lúc muốn cũng đành chịu. Khi sinh tới thằng Trí, thì cuộc chiến đã dữ dội lắm rồi; và làng An Bình du kích chẳng để yên. Lại ám sát, lại những cuộc mít tinh ban đêm, lại phải nghe những lời kiêu ngạo. Cùng một bài bản như ở Nghệ An hồi ấy. Nhưng vẫn phải nuôi con, phải sống. Và khi thằng Trí đậu vào lớp đệ lục trường công tỉnh, chưa kịp mừng thì ”cái tụi kiêu ngạo” chiếm được cả Miền Nam. Cờ lát huyết của những ngày đấu tố lại phần phật, bài ca cọp beo của thủa giết người lại vang. Dù du kích chưa kịp chiếm làng, bà Tô vừa nghe cái bài chi mà ”thề phanh thây, uống máu quân thù” gầm gừ trong đài Sài gòn, bà đã khóc ròng: ”Thôi chết rồi, cũng lại cái bài hát giết người hồi đấu tố! Cái tụi giết người không gớm tay lại vô đây. Khốn nạn rồi, ông mi ơi!”

****

Ðêm qua súng nổ dữ dội đâu trong xóm dân địa phương. Súng lại nổ sau một tháng ”hoà bình”. Người di cư trong làng An Bình ai cũng nghĩ là ”tàn quân” Miền Nam đánh nhau với tụi Cọng sản. Và dân di cư đinh ninh thế nào ”tàn quân” cũng thắng, cũng bắn chết cha mấy cái thằng Cọng sản. ”Cọng sản nhất định thua thôi.”, vì trong thời chiến tranh, ở đâu không biết, ở trong cái làng An Bình này, hễ có đánh nhau, y như Việt Cọng bỏ xác tại trận, chạy trối chết. Mười lần như một. Dân di cư, tuy nằm dưới giường, sợ lạc đạn, nhưng họ vẫn cảm thấy tin tưởng, thích thú. ”Bắn cho chết cha cái tụi Cọng sản đi, An ơi!”

Anh An, con ông Tô, đi lính dù. ”Ði lính nhảy dù để chụp mây bỏ vào túi ny-lông đưa về cho tụi bây chơi”, anh từng nói như vậy những lúc đám trẻ trong làng tò mò hỏi chuyện lính tráng của anh. Anh đi biền biệt. Không thấy đưa mây về. Chị Mai, vợ anh, người vợ ca dao.

Mãi sau ngày mất Miền Nam, mới thấy anh An đột ngột về, lần này cùng với các bạn, súng ống đầy mình, giữa lúc người trong xóm di cư đang bị họp hội, mặt đen sì, cười hì hì: ”Họp hành mà mần chi hề! Về nhà ngủ cho khoẻ đi bà con ơi!” Có bà hết hồn hết vía, có chị che miệng cười, đám đàn ông nhấp nhô nhìn ra cửa, và một chút rạng rỡ khó mà giấu được. Cái anh dân địa phương mới được lên chức tổ trưởng mặt xanh mét. ”Không ai làm chi mô mà ông sợ!” Có bữa anh An còn đột nhập vào trụ sở xã giật hình HCM xuống vứt xuống bùn. ”Cái thằng râu, nhìn mà ngứa mắt!”

Nghe nói đêm nổ súng lần đầu tiên đó nhóm ”tàn quân” của anh An bắn chết mấy công an áo vàng. Chỉ nghe tin đồn, chứ không thấy xác. ”Tụi Cọng sản chỉ được tài giấu như mèo giấu cứt.”

Thế nhưng, người ta lại bắt đi họp đi hành, nói là đế quốc Mỹ với chư hầu lực lượng hùng hậu cả triệu quân với máy bay tàu bò lớp này lớp nọ mà còn chưa làm được chi, huống hồ mấy đám tàn quân, bà con ai gặp cứ khuyên nhủ họ trở về thì sẽ được Nhà Nước khoan hồng. Cả ba bốn tháng trời vẫn không thấy anh An và các bạn về hưởng khoan hồng của Nhà Nước Nhân Dân. ”Nói láo như Vẹm.” Người ta len lén cười hì. ”Quân kiêu ngạo có ngày Chúa cũng phạt!” Dân di cư vẫn tin tưởng phe quốc gia sẽ lại đánh tụi Cọng sản chạy có cờ như hồi trước, vì ngoài chuyện có anh An và các bạn trong rừng, còn có những tin đồn hôm này có ghe ở đâu dạt vào bãi Khe Vịt, ghe trống trong khoang còn mấy thùng đạn chưa kịp bốc, hôm sau lại xầm xì có nhóm quân kháng chiến cả đại đội vào xóm Bầu Công, súng ống, quân phục mới bong, họ nói là họ mới từ bên Miên qua…

Thế rồi một đêm, lúc trời chập choạng tối, có đám công an áo vàng ghìm súng đi ngoài đường lộ xóm di cư. ”Cái quân trộm cướp toàn đi đêm.” ”Cho sập hồm sập hố chết cả đám cho rồi.” Nhưng rồi họ phải đọc kinh tối để đi ngủ, vì ngày mai lại họp lại hành, làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm giờ nghỉ. ”Mả cha tụi nứ, làm như mình lâu nay lười biếng lắm. Làm đổ mồ hôi sôi nước mắt, mà tụi nứ còn dạy đời.” ”Mấy cái thằng, mấy con mệ dân miền Nam ngu như bò, tiếp tế cho tợn vào, dừ mới trắng mắt ra. Choa nói không nghe dừ mới ôm đầu máu.” ”Rồi cũng lại thằng khom lưng làm cho thằng ngay lưng ăn.”

Một lúc sau bỗng có tiếng súng nổ dữ dội ngay phía sau khe, và rất nhiều, rất nhiều tiếng lựu đạn, tiếng M79, tiếng B40, nơi có con đường kẽm gai rào kỹ dọc hai bên ngăn trâu bò, dẫn ra khu ruộng gần nhà vợ anh An, chị Mai. ”Cho chết cha mấy thằng Vẹm!” ”Lạy Chúa, lạy Mẹ, cho cái anh An tai qua nạn khỏi.”

Nhưng chẳng thấy Chúa, Mẹ nhậm lời, bởi sáng hôm sau, dù không ai trong khu gần đó được phép ra khỏi nhà, họ vẫn hé cửa nhìn ra, và họ thấy chị Mai vợ anh An, và đứa con trai nhỏ, thằng Tín, vừa nhặt từng miếng thịt vương vãi trên đường bều xều phân bò, hoặc dính vắt trên hai bờ kẽm gai như những miếng cá vụn giả-cào ai đó đang phơi qua đêm. Cả tiểu đội công an áo vàng chĩa súng trông chừng. ”Chị kia, nè nẹ nên.” ”Không biết giáo dục chồng, nàm tốn không biết bao nhiêu nà đạn của nhân rân. Chị phải giả tiền ngu đó nghe chưa!” ”Cái thằng nhãi ranh kia, rồi cũng vậy. Cha lào con lấy.”

Mẹ và con vẫn câm nín nhặt thịt người.

Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ…

Và sau đó, xách thịt chồng về nhà, chị Mai lại một mình nạy mấy tấm ván chuồng heo, vác ra khe kỳ cọ cho sạch, rồi lại, với thằng Tín, cưa cưa kéo kéo, lại búa, lại đinh, lại còn phải nghe mấy ông nhà nước vừa canh chừng sợ chị giấu hai bị thịt vừa ”giáo dục” chị. Mãi tới chiều chị mới đóng xong chiếc hòm, và bỏ hai bao cát đầy thịt của chồng mình vào.

Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ…

Hoàng hôn hôm ấy, mưa sụt sùi, đường bệu sệu phân bò, thịt vụn, thằng con trai đầu lòng của anh An lại dẫn con bò cái trơ xương kéo xe bò, có công an áp tải, chở hai bao cát thịt vụn của bố, chị Mai lảo đảo đi sau xe bò chở hai bao cát thịt nát của chồng, ra ven rừng chôn. (Không được chôn ở đất thánh – theo lệnh của công an). Nhưng không ai thấy chị khóc. Thằng cu Tín cũng vậy, không khóc.

Vùi vội vàng một nấm.

Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ…

Lâu lắm rồi, cha xứ mới đến thăm được chị Mai, mang cho chị hộp thuốc trụ sinh cha vừa mới nhận từ người em ở Pháp:

”Thuốc ni cầm huyết trắng hay lắm đó.”

”Cảm ơn cha… mà con mệt quá, không biết còn sống nổi được nữa không?”

”Nói bậy nà! Sao lại không? Ra huyết nhiều nó mệt vậy đó; cầm được là khoẻ ngay thôi. Kiêng dầm nước bùn mấy ngày cho lành cái đã.”

“Dạ.”

Rồi chị Mai cười héo hắt, rồi mắt chị loé sáng, và sau khi nhìn trước nhìn sau, chị thì thào:

”Cha nì, thằng Tín nó đi được rồi, thưa cha! Cha cầu nguyện cho cháu được đến nơi bình yên… Con những mong cho cháu được nên người… Chậc, cái thằng đen trùng trục như bố nó, suốt ngày cứ thích đi bắn giàng thung chim sẻ…”

”Ừ, cha sẽ cầu nguyện. Mình cứ cố hết sức mình, phần còn lại để cho Chúa lo. Con của chị sẽ nên người.”

”Dạ.”

Chị Mai bưng mặt khóc. Sợi tóc héo khô bay bay gió bấc lọt vách lá.

Thằng Tín đi lâu lắm rồi.

Chị Mai chết năm nào đó, không ai còn nhớ. Không biết mộ chị có vùi nông một nấm như mộ anh An không.

***

Thu này, Trung quyết định thăm Kansas một chuyến, vì một phần được bạn lính của ba mời sang chơi, và một phần cũng vì những bức ảnh màu thu, những bài viết về lịch sử và dân tình Kansas Trung tình cờ đọc trong tạp chí National Geography hồi còn đi học.

Mùa Thu núi đồi ở đấy chan chứa sắc thu vàng, vàng của lúa mì bạt ngàn, vàng của lá phơi trải cái hào hoa, vẻ uy nghi của chặng cuối cuộc phù sinh. Máu* vàng mặt trời rưng rưng trên từng gié lúa, gân lá, luồn vào từng mạch đất, kẽ đá, chảy láng lai trên từng mái nhà, những mái nhà xinh xinh ngăn nắp trong những vuông phố nhỏ ngoại ô, bình an dưới chòm cây lòa xòa, mãn nguyện giữa đồng lúa mới. Những mái nhà lớn của cuộc sinh là thế, những vòm nhỏ cho cuộc tử cũng vậy. Cuộc tử đã diễn ra khủng khiếp ở đây trong nội chiến Nam – Bắc. Những tráng khí đẫm máu, những dũng cảm ngậm ngùi còn đọng lại trong các nghĩa trang ở Kansas. Nghĩa trang Wichita là một trong những nghĩa trang như thế.

”Anh vào đó có lâu không?” Lan hỏi.

”Vài tiếng, em ạ. Ðây là một nghĩa trang nổi tiếng vì có nhiều lịch sử và đẹp.”

”Anh thật là! Ði đâu cũng vậy, không phế tích thì cũng nghĩa địa! Thôi, em về khách sạn trước!”

Lan vừa quày quả ra khỏi nghĩa địa, bình an lạ thường chụp xuống nghĩa địa, như thể bình an ấy, chờ đợi quá lâu, giờ mới được về nhà của nó. Màu cỏ xanh biếc lên, những lẳng môi thương nhớ vĩnh hằng, những giọt nhớ sắc màu ửng giữa tịnh không. Mấy cụ già thiu thiu trên những chiếc ghế sơn xanh dạn dày mưa nắng. Ðôi con chim lách chách quanh những mẫu bánh vụn. Những bà mẹ nhàn nhã đẩy con đi trên những lối nhỏ ngơi nghỉ. Một bầy choai choai trờ tới, nhưng bước chân đi không còn xồng xộc như thói thường phố thị. Tất cả như bị vĩnh cữu ở đây khuất phục.

Trung xem khu mộ lớn của những danh nhân, rồi qua khu mộ bằng, và anh thấy ở khu này cũng có những ngôi mộ của những danh nhân nằm giữa những nấm mộ thường. Anh ngạc nhiên thấy trên một tấm mộ chí có tên tuổi Paolo Ngo’lung. Ông là thiếu tướng thuộc Tổ chức Ðoàn kết Giành Ðộc lập Hoàn toàn cho Angola (UNITA). Ông còn là một nhà thơ Da Ðen có tầm cỡ Trung rất mến mộ, nhưng cũng là người đã mang tiếng là ”tên đồ tể”, vì bức ảnh chụp ông đang vung lưỡi lê đâm chết một thượng úy tù binh Cộng sản thuộc Phong Trào Nhân Dân Giải Phóng Angola (MPLA) đã được truyền nhanh đi khắp thế giới. Vuông mộ của ông, mộ chí là một tảng đá hoa cương xanh thô như một ngọn núi sần sùi vạm vỡ. Những con nhái bén trắng, đen, vàng, đỏ, lốm đốm, tam thể, nhảy lóc chóc loanh quanh. Một cây tre xanh lóng thẳng; có mấy mảnh giấy gió thổi dính vào hay là ai đó móc vào. Trung tò mò gỡ ra đọc, thấy có mảnh in lại ảnh tướng Ngo’lung đang đâm một tay Angola Cộng, kèm theo chữ màu đỏ The Butcher (Tên Ðồ tể); có miếng chỉ có chữ The Nature-Born Killer (Kẻ Bẩm sinh giết người) nguyệch ngoạc; có tờ có lời nhạc nhẹ nhàng: Imagine there’s no countries. It isn’t hard to do. Nothing to kill or to die forBạn hãy tưởng tượng có lúc chẳng còn có quốc gia nào cả. Cũng không khó lắm đâu. Chẳng có gì để mà phải giết, cũng chẳng có gì đáng để hi sinh mạng sống...)[1]; nhưng có tờ lại tàn nhẫn hơn: And I’ll watch while you’re lowered Down to your death bed And I will stand o’er your grave Till I’m sure that you’re dead. (Và tôi sẽ nhìn người ta thòng ông xuống. Xuống tới đáy huyệt của ông. Và tôi sẽ đứng trông chừng trên huyệt Cho tới khi tôi thấy chắc chắn là ông đã chết thiệt rồi.) [1]

“Anh đừng quan tâm tới những thứ đó.” Có tiếng nói đàn bà sau lưng. Trung quay lại thấy một người đàn bà Tây phương còn khá trẻ, dáng dấp cao ráo, mạnh khoẻ, quần jeans xanh nhạt, áo thun đen nửa chật nửa bó một vùng ngực nẩy, vai mang chiếc túi vải hoa văn mạn đà la. Anh đã gặp bà ta hôm qua tại một quán cà phê ở thị trấn Topeka, khi ngồi uống nước với Lan, vợ mới cưới của anh. Bà ta ngồi quán mà mắt cứ lạc thần đâu đâu, cà phê không buồn uống, mấy ngón tay gõ gõ trên bàn, hoặc vân vân vê vê chiếc muỗng, rồi chỉ ngụm một ngụm, rồi bỏ đi. Ði đâu một hồi, bà quay lại kêu bia, tới sáu bảy lượt.

”Anh biết không: Ông ta là tướng của UNITA. Tôi đã theo sư đoàn của ông ta, vì hồi ấy tôi là phóng viên chụp ảnh cho tờ Povo da Lisboa. Trong một cuộc giao tranh ở Cubango, ngày Tết của sắc tộc Ovimbundo, 1988, giữa phe Cộng sản MPLA và phe quốc gia UNITA, và tôi đã, tạm gọi là may mắn, chụp được ngay tại trận cảnh ông ta đang vung lưỡi lê đâm một tay thượng úy đặc công tù binh Angola Cộng.”

”Vâng, thưa bà, tôi có đọc báo chí nói về ông ta, và tôi còn biết là sau đó ông đã lận đận, khổ sở vì bức ảnh của bà rất nhiều.”

“Ðúng thế, nhưng tôi đã nhiều lần đến thăm ông Paolo Ngo’lung và nói với ông là tôi cứ ân hận mãi vì bức ảnh đã mang lại cho tôi vinh dự và tiền bạc, nhưng đã góp phần làm mất Angola vào tay Cộng sản, và cũng mang đau khổ cho ông ta, nhưng ông ta bình tĩnh bảo tôi: ‘Cô không chụp thì người khác cũng chụp thôi! Lúc ấy máu lửa quá nhiều, nhất là máu của những thường dân vô tội; và cô biết không: sáu đứa con nhỏ và vợ của bạn tôi bị bọn đặc công của chính tay thượng úy đó chỉ huy đột nhập vào nhà và cắt cổ, mổ bụng họ ngay tối hôm trước? Tôi không ngờ bức ảnh lại gây chấn động đến mức đó và làm giảm đi cái chính nghĩa của phe UNITA, và cũng từ đó làm mất nhiều thiện cảm của các nước Âu Mỹ tự do mà chúng tôi rất cần sự hỗ trợ. Ông đại sứ Bồ lão thành Ernesto Bilbao, người mà các tướng lãnh chúng tôi vẫn coi như một thầy giáo già tận tụy, có viết mật thư cho tôi: ‘Anh không chỉ giết một người, mà còn giết cả triệu người.’ Ông đại sứ nói đúng. Giận mất không, tuy nhiên, tôi không ân hận lắm về chuyện bắn tên thượng úy đó, nhưng ân hận ở chỗ tôi không hiểu lòng nhân đạo vừa dốt nát vừa cha chú đến như thế của người Âu Mỹ, của giới truyền thông Âu Mỹ, và tôi đã hành động thất sách như vậy, và đã gây ra hậu quả tai hại khôn lường cho Nước tôi.’. Và anh biết không: cuối cùng, nghe tin ông Paolo Ngo’lung bị bệnh ung thư, tôi định thăm ông ấy lần nữa, nhưng ông lại đột ngột qua đời?”

Maria bưng mặt khóc.

”Anh cho tôi một điếu thuốc.”

Trung rút thuốc đưa cho Maria và bật lửa. Miệng Maria rung rung, phải châm mấy lần mới đốt được điếu thuốc.

”Này anh, mà hình như hôm qua, nơi cái quán ở Topeka, khi tôi say, có phải anh là người đã khuyên tôi về khách sạn? Lúc đó say quá, và hơn nữa, mặt người Á châu các anh người nào trông cũng từa tựa nhau, tôi không nhớ rõ.”

”Vâng, chính là tôi.”

”Mà anh đã nói gì mà thuyết phục được tôi về khách sạn?”

”Vâng, thấy bà say quá, tôi đâm ái ngại và tôi đã đến nói nhỏ với bà: ‘Ở đây không phải là một nơi an toàn cho một người đàn bà đẹp mà say như bà.’ Và bà hứa với tôi là uống hết ly cuối bà sẽ về. Và bà đã làm như vậy.”

”Vâng, tôi nhớ ra rồi: Anh đã nói như thế.” Maria mỉm cười. ”Và không phải chỉ vì lời anh nói làm cho tôi hồi tỉnh và đủ sáng suốt để quyết định về khách sạn, mà còn vì ánh mắt, ánh mắt rất ân cần của anh lúc ấy…”

Và Maria nhón chân hôn nhẹ lên trán Trung, thì thào: ”Obrigado! (Cảm ơn!) [2]”

”Anh Trung!” Có tiếng kêu có vẻ giận dữ của Lan sau lưng hai người.

Maria bình tĩnh nhìn Lan, rồi ái ngại: ”Xin lỗi, tôi phải đi.”

Rồi Lan cũng bỏ đi.

Trung lại thơ thẩn trong nghĩa địa, chân đá đá những viên sỏi trải đường dẫn đến chiếc hồ nhỏ nằm giữa nghĩa địa với những mạch suối nhỏ, rất nhỏ, lặng lẽ chảy vào Hồ Chung, và đằng đầu hồ bên kia dựng đứng bức tranh đá có khoét hình Nhân thấp thoáng vừa qua cuộc Sinh vào cõi Hằng Sinh. Anh ngồi xuống trên chiếc ghế cạnh bờ hồ một lúc lâu, và bỗng nhiên, chỗi dậy lượm những mảnh đá dẹp, liệng tưng tưng trên mặt hồ. Những vòng nước lan tỏa đến tận mép nước chân anh. Vòng nước lan, vòng nước mất, vòng nước lan, vòng nước mất, lan xa cội, mất về nguồn.

Rồi Trung bắt đầu thả từ từ từng cục đá nhỏ xuống hồ.

Bóóc! Boong… Boong… Boong…

Nghe vang tự đáy hồ trăm tiếng chuông như tiếng chuông vang vang từ những đại giáo đường tiễn những con tàu thám hiểm ra khơi ngày xưa xứ Bồ.

Có tiếng người nữ bên kia hồ:

Hãy cho tôi bóng râm một con thuyền. Và giấc ngủ, thuyền vô định ngại ngần.[3] Có chàng thi sĩ đã ước ao như thế. Nhưng người ơi, tôi ghét cái ngại ngần của những chiếc thuyền đã nhỏ lại còn cứ lần khân trong bến, tôi thèm dong những con tàu lớn, cùng Cristóbal Colón căng buồm-liều đi tìm đất mới, vì thế giới này đã quá chật hẹp!”

”Là sao?”

”Tôi thèm một sự quay lưng phản bội. Tôi đã trung thành với tiếng nói lương tâm quá nhiều mà chẳng đi tới đâu cả.”

”Ðúng ra bà đã không cẩn thận với cái mà bà gọi là lương tâm. Lương tâm, lương tâm nói chung rất nhiều khi là tiếng nói của một thế giới quá chật hẹp, thậm chí đê tiện nữa.”

”Xin được nghe thêm!”

”Lương tâm là một khái niệm đáng nghi ngờ, vì đằng sau cái từ ngữ ”lương tâm” có vô số những động cơ, động lực tập thành như tiền bạc, tham quyền cố vị, sự tàn bạo, tính hèn nhát, lòng kiêu ngạo quá mức, sự dối trá thập thành và kể cả mọi loại thuốc phiện, tất cả trộn nhập nhằng với những tính cách nhân bản và những lý tưởng cao thượng… Và cái gọi là ”lương tâm thời đại” thì còn đáng ngờ hơn nữa! Nhưng, sự phản bội quay lưng mà bà vừa nói vẫn có thể là một hành vi phát xuất từ một dạng lương tâm thời đại nguy hiểm khác, thường thì nguy hiểm hơn.”

”Vậy thì tôi phải làm sao?”

”Ðó là chuyện của bà.”

Yên lặng. Yên lặng. Yên lặng.

”Thế thì, ông ơi, tôi sẽ thả xuống hồ những khối đá vỡ từ bên bờ tôi.”

”Ừ. Tôi cũng sẽ thả xuống hồ những khối đá vỡ từ bên bờ tôi.”

 Bóóc! Boong… Boong… Boong…

  ***

Khi từ nghĩa địa Wichita trở lại khách sạn, Trung thấy Lan đang ngồi trong vườn cây. Trung lẵng lặng đến gần vợ và thích thú nhìn mấy con chim sẻ cứ lích chích quanh chân vợ mình:

”Mấy con chim sẻ nầy giống như chim sẻ quê anh.”

”……”

”Và em có biết không hồi anh giải phẩu lấy ra viên đạn nằm trong lồng ngực em ỏ bệnh viện St. George…“

“Ừ, nghĩ lại mà vẫn còn rợn tóc gáy… Cho tới nay các băng bán thuốc lá lậu thuộc những người lao động xuất khẩu người Miền Bắc chúng em, họ vẫn cứ thanh toán nhau ở Düssendorf như thế…”

“… nhìn em nằm bất tỉnh máu me cùng mình, anh thấy em như một con chim sẻ trúng thương? Tội nghiệp quá chừng!”

Lan nhướng mắt, như không:

”Mà bà đầm của anh đâu rồi?”

”À, cái chị hồi sáng ở nghĩa địa đó hả? Chị ấy có nỗi buồn lớn. Tội nghiệp!”

”Anh thì cứ hay tội nghiệp! Mà hai người nãy giờ làm gì, tới bây giờ anh mới về?”

”Thì chị ấy bỏ đi. Em đi, anh ra ngắm cái hồ giữa nghĩa địa, chị ấy lại đến.”

”Ðúng rồi, bà ta thích anh thấy rõ. Hẹn hò từ hôm qua ở quán? Bà ta hôn anh mà!”

”Em toàn nói bậy! Anh nghĩ chị ấy hôn anh để cảm ơn về một sự ân cần từ anh khi chị ấy say, về xúc cảm mà anh gợi cho chị ấy lúc hai người tình cờ gặp nhau, tình cờ trao đổi về một đề tài cũng tình cờ luôn.”

”Anh thì bao giờ cũng vậy… mà đề tài gì vậy anh?”

”Về tướng Paolo Ngo’lung. Ông ta đã chết, và mộ ông ta nằm trong nghĩa địa Wichita với những lời nguyền rủa tới nay vẫn chưa buông tha ông ta gắn đầy mộ ông… Và về vai trò bức ảnh tăm tiếng một thời của chị ấy chụp ông tướng đang giết một thượng úy Cọng sản Angola…”

”Em biết nhiều về ông tướng, về bức ảnh, mà chị ấy chính là người phóng viên đó hả!?”

”Ừ.”

”……”

”Lúc em bỏ đi, chị ấy trở lại và đến đứng bên kia hồ, và sau ba câu bốn chuyện, em biết không… chị ấy và anh thả đá vỡ xuống hồ.”

Bóóc! Boong… Boong… Boong…

Hả! Thả mà làm gì?”

Cho những vực thẳm của những tan vỡ lại dóng lên những tiếng chuông, tiếng chuông vàng ròng…”

Bóóc! Boong… Boong… Boong…

Lan sững sờ nhìn chồng mình.

Rồi tiếng Lan thơm thơm ẩn lan:

”Có thả cho em không?”

”Có.”

 Oslo, 13 VIII 06

 

Chú thích:

[1] Bài Imagine của John Lenon và bài Masters of War của Bob Dylan.

[2] Tiếng Bồ.

[3] Dai-me a sombra de um navio! – O sono, a mais incerta barca, inda demora. (Thơ của Eugénio de Andrade, Bồ Ðào Nha.)

*Máu, không đánh lộn dấu đâu!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close