Biên khảo: Dăm chiếc lá hư không (Dùng từ ngữ thường, thay vì đặc ngữ Hán để viết về Đạo Phật )

 

Nguyễn Văn Thực biên soạn

 

Bode

 

Kính nhớ thiếu tá Trần Văn Quỳnh,

mất  tại  trại chuyển tiếp Sungai Besi,

đã giới thiệu Phật học cho tôi,

bằng lối sống của anh.

Có người hành hương xứ Phật, hái về đầy nãi lá bồ đề, thương cho tôi dăm lá có những đường gân lạ, nay xin mạo muội sớt chia cùng bạn đọc.

 

LÁ I : ÐÔI CHÚT “TIỂU SỬ” CỦA PHẬT

Dù có những truyền thuyết thêu dệt quanh thân thế của Phật, nhưng Phật là một nhân vật có thật trong lịch sử. Ông sống khoảng 566 – 486 trước CN. AÙng chừng ông thuộc dòng tộc sakya giàu có và quyền thế ở Ðông Bắc Ấn, gần núi Hy Mã Lạp, và cũng có thể ông là con của một vị vua của một nước nhỏ trong vùng, (theo triết gia Na uy chuyên về Ấn độ học Kjell Madsen). Mẹ ông chết ngay sau khi sinh ông được 7 ngày. Ông lấy vợ là một người em họ. Sinh được một con tên là Rahula (“xiềng”). Ông hưởng thụ một nền học vấn căn bản, nhiều mặt về những học thuyết đương thời. Năm 29 tuổi ông bỏ đời. “Thật không dễ dàng gì mà sống ở nhà, đó là một nơi đầy bụi bặm. Ở ngoài thiên nhiên, người ta dễ từ bỏ chuyện thế tục.”

Thực ra ông cũng chẳng bỏ hẳn những lề thói của đời, vì ông còn trẻ mà đã chọn quãng sống thứ 4 quy định trong truyền thống tư tưởng Ấn dành cho những người về già, đó là lối sống lang thang tìm đường giải thoát; và học thuyết của ông, không phải từ trên trời rơi xuống, nhưng chịu ảnh hưởng rõ nét – dù là ảnh hưởng mang tính biện chứng, dùng để phản bác – của 62 truyền thống tư tưởng của Ấn độ, ví dụ truyền thống Vệ đà, truyền thống Áo nghĩa thư, truyền thống Người chinh phục 1. Nếu chịu khó đối chiếu văn bản kinh Phật với các văn bản của các kinh truyền thống tư  tưởng đó, như người ta đã làm với Kinh Thánh của Thiên chúa giáo, thời sẽ thấy ra những dấu vết ảnh hưởng đáng kể.

Cũng theo lời truyền miệng, khi ông sinh ra có lời tiên tri là ông sẽ trở thành một đại đế quyền uy, thành kẻ chinh phục thế giới, nếu ông được thoát khỏi bệnh tật, già yếu, sự chết. Nghe thế, cha ông, vua một nước rất nhỏ, đã tìm mọi cách che mắt ông những chuyện đó, và sắp xếp cho ông được sống trong một nơi đầy những sự đẹp đẽ, hài hoà, vui vẻ. Cho nên, khi chính ông mắt thấy tai nghe những khổ đau, bệnh tật tội nghiệp, già yếu thảm thương, và chết chóc ai oán, lòng ông bị chấn động tận cùng. Thực ra, nếu dựa theo những lời từ miệng của Phật, thì không thấy chuyện Tất Ðạt Ða cắt đứt với thế tục có liên hệ gì với chuyện chấn động kể trên, và ông cũng chẳng vì thế nhìn ra “đời là đau khổ”. Xem ra có một cái gì đó ngấm ngầm trong tâm tư ông thôi thúc ông dẹp bỏ tất cả, một kinh nghiệm của kẻ sống trong một cõi sống trì trệ, ù lì, cuộc sống của những hạt bụi thời gian.

Tất Ðạt Ða tu khổ hạnh lang thang trải qua 3 giai đoạn. 1: Ðào luyện tâm linh với các vị thầy tu bà la môn. Nhưng không đi tới đâu. 2: Ông bèn quay qua tu tập với năm nhà tu khổ hạnh thứ thiệt; họ tin rằng, với lối tu tập loại bỏ hoàn toàn thân xác, họ có đạt được chuyện giải thoát tâm linh. Tất Ðạt Ða nhịn ăn tới gần chết. Lại không đi tới đâu, ông phá chay. Năm người cùng tu bỏ ông khinh bỉ mà đi. 3: Thế rồi, ông đến ở dưới cội bồ đề bên rạch Ni liên thiền (Neranjara), gần rừng Ðầu voi (Gaya). Và ông ăn uống chút đỉnh.

 

Chú thích: Ðạo người chinh phục: Jainisme: Một đạo của Ấn. Người sáng lập là Vardhamana, ông tự xưng là Mahavira, người chăn bò chăn dê lớn. Ông còn tự xưng là Jina, hoặc Jaina, người chinh phục, từ này thành tên đạo của ông. Giáo thuyết  chính: Tất cả mọi dạng tâm linh thì vĩnh cữu, và dù chịu những thay đổi, mà  qua đó mang nhiều hình dạng khác nhau, nhưng bản thể cá biệt của những tâm linh ấy vẫn không thay đổi.

 

LÁ II : NIẾT BÀN

Bấy giờ tĩnh lặng bao phủ, nhập lấy ông, và rồi 7 tuần sau, vào một đêm dưới gốc bồ đề ấy, một sự thức tỉnh, sự bừng sáng, sự cởi trói, một sự tỉnh táo lớn không cùng, đến với ông, mà chữ Hán gọi là thành đạo, giác ngộ. Thành đạo, giác ngộ là một lối nói khác về niết bàn,  niết bàn lại tương ứng với sự giải thoát tâm linh trong truyền thống tu tập Ấn độ. Ngoài ra, khi Phật mất, có người nói ông nhập diệt, nhưng có người lại nói ông vào cõi niết bàn.

Như thế, niết bàn là một nơi chốn cụ thể, hay niết bàn để chỉ một sự giải thoát tâm linh?

Thực ra, chữ niết bàn này, theo gốc gác của chữ còn có nghĩa là sự dập tắt. Dập tắt cái gì vậy? Thưa đó là dập tắt ngọn lửa của lòng khao khát. (Bụt hay dùng hình ảnh lửa trong những lần nói chuyện của ông). Dập tắt, ấy niết bàn; dập tắt ấy nhập diệt; (diệt với dập là một mà thôi) ; cái chết của Phật có giá trị như một biểu tượng nhấn mạnh hết cỡ sự dập tắt ấy, sự diệt  ấy, nên mới có người gọi cái chết của Phật là một hành vi nhập diệt.

Rồi có người như ông Knut A. Jacobsen lại cho niết bàn không ở chổ vứt bỏ những cái không sạch, không ổn của thế giới con người này, mà là chấm dứt chuyện lăng quăng tạo tác một thế giới ý niệm mới (nhờ nhào trộn hằng hà sa số kiến thức, kinh nghiệm có sẵn – NVT chua).

Krishnamurti cũng nói rất nhiều về chuyện loại bỏ những kiến thức (tôn giáo, triết lý, đạo đức…) ra khỏi tâm trí, không dùng chúng để tạo ra những rừng ý tưởng khác; những ý tưởng mới tạo ra này lại quần mệt nghĩ cái đời tươi mát của mình, như mãi vướng phải cái vòng luân hồi. Con người phải nắm lấy cái đương laø mà sống. Nắm cái đương là mà sống, phải chăng ấy là niết bàn, là giải thoát, là thành đạo, là giác ngộ, là nhập diệt?

Về phần Tất Ðạt Ða, điều gì đã xảy ra cho ông dưới cội bồ đề, cái gì đã làm cho ông thành ông Bụt, kẻ thức tỉnh? 1: Có phải đó là sự thấu được Lẽ Lớn nhờ những ngày tháng dài suy nghĩ dưới cây bồ đề, kể cả nhờ những thời gian tu tập với các thầy bà la môn và các thầy tu khổ hạnh; một kinh nghiệm kiểu eureka của Archimède? Một sự hiểu thấu kiểu như thế đã được ông nói đến trong những lần nói chuyện của ông, dù bằng nhiều hình ảnh ví von, nhưng không có gì có vẻ là thần bí màu mè, thần bí đại ngôn. /  2: Hay sự thức tỉnh lớn đó xảy đến đột ngột, không đợi mà đến, rất khác thường, nên khó mà diễn tả thành lời, thành chữ. Khó chứ không phải là không thể, dù ở một mức nào đó tùy người. Như Huệ Khả thì đó là thấy ra được lẽ không hai, vạn vật với mình là một, Phật với mình là một, vậy thì cớ chi phải kiếm Niết bàn (cụ thể). Hay như  nhà thơ Nguyễn Văn Cường: Có động, có tĩnh, có tùy duyên/  Có không, không có, có lụy phiền/ Cõi trần hệ lụy luôn nghiệp quả/ Chẳng không, chẳng có. Chẳng ai riêng.

Ðã có những tranh luận trong lịch sử Phật giáo, ví dụ, với cuộc nhóm họp ở Lasa (Lahsa), Tây tạng, khoảng năm 800 tr. CN, giữa các phật tử Ấn ủng hộ điểm 1 và các phật tử của Tàu và Nhật với tông phái Thiền, chủ trương điểm 2. Nhưng rồi cuộc họp không dẫn tới một kết luận chung cuộc nào cả.

Niết bàn cũng để diễn tả tình trạng giải thoát khỏi vòng luân hồi, khỏi phải đầu thai tới lui mệt mỏi.

Nhưng theo ông Long Thọ, Nagarjuna, thì không có một lối giải thích nào dựa trên luật nhân – quả mà có thể giải thích hiện tượng niết bàn cho hợp lý. Vậy niết bàn là một sự gì đoù đang ở đây, bây giờ. (Xem thêm mục Lối-đi-giữa dưới đây)

Như thế, niết bàn quả là không có một định nghĩa rạch ròi, cho nên càng ngày lại càng có những giải thích mới. Cho nên, ông David J. Kalupahana, một học giả có khuynh hướng phân tích, lại cho là ý niệm về niết bàn không có giá trị rạch ròi khách quan (congitive value).

Nhưng có điều chắc là niết bàn không phải là một thiên đàng cụ thể, vật lý như được diễn tả nơi miệng lưỡi dân dã, trong văn hoá dân gian. Bịa cho đỡ khổ.

Ngoài ra, khó mà nghĩ đến niết bàn mà không nghĩ đến phẩm cách đạo đức cá nhân. Truyền thống đạo học Ấn và Phật giáo đồng ý: Một lối sống nền nếp chuẩn mực là một điều kiện cần thiết dọn đường cho sự giải thoát tâm linh, sự thức tỉnh, vì niết bàn không chỉ có nghĩa sự dập tắt mà còn có nghĩa là sự tiêu diệt. Diệt là diệt những mê lầm nghĩ ngợi loăng quăng (vô minh), khao khát (dục vọng), tất cả những gì làm ta đau khổ, làm ta đụckha (Kinh Pháp Cú, câu 285) . Diệt như thế cũng là diệt khổ. Và đó cũng là nhập diệt như đã nói trên. Nhiều người cho rằng con người thời đại này với một nền đạo đức, luân lý đã rơi xuống quá sâu rồi, e khó ngóc đấu lên, e khó mà thức tỉnh được nữa rối, vì họ có quá nhiều khao khát.

 

LÁ III  : LỐI-ÐI-GIỮA

¤ Lối- đi-giữa của Bụt

Bụt cho đói là một bệnh tệ hại nhất, sức khoẻ là vốn qúi lớn nhất, và sự sống vui là tài sản đáng giá ngàn vàng (Kinh Pháp Cú, câu 203, 204, bản dịch từ tiếng Pali của Kare Lie, Na Uy.) Ông không chuộng những khổ hạnh gay gắt. Có những bức tượng người ta tạc một đức Phậït gầy gó, nhưng đó là hình ảnh của Tất Ðạt Ða khi chưa tìm được sự thật lớn; thường thì tượng Phật có cái vẻ tươi tốt.

Lối đi giữa 1 đó còn có ý chỉ đến 8 đường giúp con người đến hạnh phúc. Tám đường đó gọi là Tám đường đúng 3. Tám đường này là phương thuốc trị liệu Phật đưa ra sau khi phân tích Bốn sự thật cao cả 2. Tất cả những điều này được diễn giải trong bài nói truyện đầu tiên, bài Chuyển bánh xe sự thật 4, sau khi Tất Ðạt Ða thức tỉnh.

– Bốn sự thậït cao cả đó là: K1.Khổ / K2. Gốc khổ/  K3. Diệt khổ./ K4. Cách diệt khổ.

– Cách diệt khổ đó gồm có tám cách, tám đường đúng: Ð1. Nhìn đúng/ Ð2. Nghĩ đúng/ Ð3. Nói đúng/ Ð4. Làm đúng/ Ð5. Nghề đúng/ Ð6. Gắng đúng/ Ð7. Nhớ đúng./ Ð8. Thiền đúng.

K1: Sự thật cao cả về khổ: Ðời sống là khổ, là đụckha 5. Nhưng nếu cứ dựa vào từ này mà bảo Phật học chủ trương: đời chỉ là đau khổ, là sai. Phật không bi quan cũng không lạc quan; Phật chỉ khách quan nhận định về cuộc đời. Biết thế để mà tìm cách trị, như trị bệnh. Và Phật nào có phủ nhận sung sướng thể xác, hạnh phúc tâm hồn (W. Rahula). Phải nhìn cho đúng về cuộc đời. Không nhìn đúng, tất chuốc lấy đau khổ. Nhưng thế nào là nhìn đúng, hay nói cách khác, đau khổ là do đâu?

K2: Sự thật cao cả về gốc khổ:  Khổ là do khao khát. Sự khao khát nổi lên ngay sau sự hưởng thụ, dính liền sau đam mê. Và cả khao khát có mặt giữa đời, khao khát khuất mặt khỏi đời. Khao khát nên mới có chuyện sinh lại x lần mỏi mệt.

K3: Sự thật cao cả về diệt khổ: Muốn hết khổ phải diệt hẳn các loại khao khát, ví dụ, diệt hận thù (một loại khao khát mãnh liệt ghê gớm), diệt hết khao khát suy nghĩ bày binh bố trận lăng quăng (vọng tưởng) …

K4: Sự thật cao cả về cách diệt khổ: Cách diệt khổ gồm tám đường đã kể trên: Ð1. Nhìn đúng/  Ð2. Nghĩ đúng/ Ð3. Nói đúng/  Ð4. Làm đúng/  Ð5. Nghề đúng/  Ð6. Gắng đúng/  Ð7. Ðể ý đúng./  Ð8. Thiền đúng.

* Các đường: Ð3. Nói đúng: nói lời tốt lành; nếu không nói đặng thì giữ im lặng cao qúy/  Ð4. Làm đúng: làm những chuyện tốt lành /  Ð5. Nghề đúng: nghề không hại kẻ khác.

Ba đường này làø những hành vi đạo đức, những chuyện thương người; chúng giúp mang lại cho cá nhân và xã hội sự an vui, hạnh phúc. Và như đã nói trên, không thể phát triển tâm linh mà không có căn bản đạo đức. Ba đường này gần giống như những điều răn; chữ Hán gọi chung là giới.

* Các đường: Ð6. Gắng đúng: ý chí mạnh mẽ để ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh, trừ bỏ những điều ác đã phát sinh; làm phát sinh những điều thiện chưa phát sinh, làm lớn thên nữa những điều thiện đã phát sinh/  Ð7. Ðể ý đúng: để ý các loại hoạt động của thân xác, của trí./  Ð8. Thiền đúng: Tập trung tâm trí cho đúng; còn làm sao để tập trung đúng thì còn tùy trường hợp, tùy đối tượng. Ba đường này giúp lòng được phát triển; chữ Hán gọi chung là định.

* Các đường: Ð1. Nhìn đúng. Nghĩa sà sà: nhìn ra được chuyện sự sinh sự (nghiệp), chuyện giây mơ rễ má lòng thòng gây ra vụ sinh tới sinh lui kiếp này kiếp khác; nghĩa cao hơn: nhìn đúng là nhìn mọi sự như nó là. Bốn sự thật cao cả vừa kể trên giúp ta thấy rõ ra sự thật đúng như nó là. /  Ð2. Nghĩ đúng: Nghĩ đến chuyện sao cho giải thoát khỏi những khao khát thuộc sáu giác quan (5 quan thông thường + giác quan trí sinh ra ý nghĩ), thoát khỏi cái ác, lòng thù hằn, mà vươn tới tình thương xót, tới tình yêu thứ thiệt (mà tên chữ gọi là tình yêu vô ngã). Ngoài ra, nhìn đúng còn có nghĩa là quyết định làm sư, làm vãi. Hai đường này là giúp con người trở nên khôn ngoan sáng láng; chữ Hán gọi chung là huệ.

 

Chú thích: * Chữ Hán: 1. Lối đi giữa: Trung đạo/  2. Tứ diệu đế: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế; đạo đế ấy được diễn rộng ra nơi bát chánh đạo./  3. Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định./   4. Pháp luân chuyển.

* 5. Ðụckha: Ông W. Rahula đề nghị dùng nguyên chữ dukkha (đọc là đụckha, tiếng sankrit), đừng dịch, vì  chữ này ngoài nghĩa khổ nó còn có nghĩa: bất toàn, vô thường, trống rỗng. Tôi trộm nghĩ: dùng nghĩa khổ cũng là ổn rồi, vì bất toàn, vô thường, trống rỗng cũng làm khổ tâm lắm! / Ông Knut A. Jacobsen lại tìm ra chữ đụckha có nghĩa là trục xe bò bị hư; đi trên một chiếc xe bò bị hư trục thì khổ sở là cái chắc. Ngoài ra, trong sách Buddhismen: Phật học  của ông, ông dịch chữ đụckha là sự không thỏa mãn.

 

¤  Ông Long Thọ bàn thêm Lối-đi-giữa của Bụt

Theo phái Cổ xe nhỏ1, Lối-đi-giữa trong Phật học, trước hết, là kiểu sống giữa tu khổ hạnh và hưởng thụ đủ vành. Thứ đến, Lối-đi-giữa là chuyện giữa có và không, hay nói cách khác, giữa ta và và không ta (ngã và vô ngã). Thứ ba, Lối-đi-giữa là học thuyết về sự cùng hiện hữu của các vật hay các sự (pháp)ï trong một khoảnh thời gian. Và các pháp có bản ngã riêng.

Ôâng Long Thọ cho là Phật không chấp nhận chuyện có bản ngã riêng, và các Phật tử tối sơ (chưa phân nhánh) cũng chỉ trích loại quan niệm đó. Và ông nhận định rằng một khi mọi sự phải nhờ cái khác mới có, như được diễn tả trong sự thật cao cả thứ hai về gốc khổ, thế thì không làm gì có bản thể riêng, mà chỉ còn nhữõng năng lực biến hoá tới lui thuộc tâm lý và vật lý, nằm trong Năm món. Như thế, thế giới này chẳng còn lại gì, chỉ là hư vô hay sao? Không, ôâng Long Thọ vứt đi có, không,  thường còn, nhưng vẫn còn giữ lại cái trống không. Nếu chúng ta có thể nói được gì về thực tại, thì chỉ nói được rằng thực tại là cái trống không.

Rồi nữa, luận chứng phủ nhận bốn phần:

  1. “Sự hiện hữu của cái hậu quả vật chất trong cái nguyên nhân vật chất”,  như sữa thành gia ua: sữa là nguyên nhân vật chất và gia ua là cái hậu quả vật chất. Sự biến đổi ấy mắt ta thấy thế, nhưng trong cái hậu quả (gia ua) vẫn còn cái nguyên nhân (sữa). Từ đó sinh ra những câu hỏi như: nếu cái nguyên nhân và cái hậu quả giống nhau, thì chúng không thể tách rời, như thế tại sao chúng ta còn gọi là cái nguyên nhân, rồi còn gọi cái hậu quả?
  2. “Cái hậu quả không nằm trong cái nguyên nhân” nhưng cái hậu quả là một cái hoàn toàn mới được tạo thành. Tuy nhiên, một khi hậu quả và nguyên nhân khác nhau như thế thì làm sao chúng ta có thể nói đến chuyện liên hệ nhân – quả? Và vì đã khác nhau, thì làm sao cái này sinh ra cái kia được?  Như thế chúng ta không thể cắt nghĩa được sự biến đổi (hoá thân) .
  3. “Cái nguyên nhân và cái hậu quả chúng vừa giống vừa khác”. Ở một mức độ nào đó gia ua quả có giống sữa, nhưng gia ua vẫn khác sữa. Nhưng nếu có giống lại có khác, thì phần nào là giống và phần nào là khác?
  4. Cái hậu quả và cái nguyên nhân, chúng ta không thể hiểu được, hay nói cách khác, chúng không giống mà cũng không khác.”Như thế, biến đổi chỉ là một từ ngữ để chỉ những chuyện xảy ra tình cờ. Những người quan niệm như thế được gọi là kẻ theo thuyết duy vật kiểu Ấn. Một khi tất cả đều là tình cờ thì tất cả mọi sự có thể xảy ra, xảy ra  liên tục, xảy ra khắp nơi. Như thế làm chi rồi cũng vô ích, vì người ta nào biết chắc một vật nào đó sẽ sinh ra hậu quả, và hậu quả đó ra sao. Một quan niệm như thế đó không giải thích được sự biến đổi.

Như thế, bốn luận chứng này không chấp nhận được, do đó, chẳng có một lý thuyết nào về  chuyện nhân – quả có thể đứng vững. Ông Long Thọ không chối hiện tượng nhân quả trong đời sống hằng ngày, nhưng ông thấy không có được một sự cắt nghĩa thật hợp lý nào về chuyện nhân – quả nơi các hiện tượng. Vậy, suy cho cùng, thời chẳng có cái gì cả. Tất cả mọi giải thích đều mâu thuẫn nhau, do đó dẫn đến kết luận là không thể cóù lối giải thích hoàn toàn đúng sự thật về thế giới này.

Vậy, Lối-đi-giữa mới là lối-đi-giữa giữa mọi quan niệm. Theo biện chứng luận thì mỗi hệ thống đều có mặt mâu thuẫn; và không có một sự giải thích thuần lý nào đứùng vững. Cho nên chuyện nhân – quả được dùng như một giải thích thuần lý về thế giới là một cố gắng vô ích. Ðiều này không có nghĩa là không có gì là hiện thực cả, vì nếu quan niệm như thế, tức là tự khẳng định,  lại tự trói buộc vào một lý thuyết, như thế lại mắc phải sai lầm. Lối-đi-giữa mới không có thực chất, không là một lý thuyết, cũng chẳng phải là một giải thích hợp lý về thế giới. Và nếu không cóù được một giải thích hợp lý nào cho luật nhân – quả, thì cũng không có một giải thích nào cho sự đạt đến niết bàn. Như vậy, niết bàn là một sự gì đó đang sẵn ở ngay đây, bây giờ.

Ôâng Long Thọ đã phân tích những quan niệm của những kẻ khác như là một hình thức trị liệu tinh thần, nhằm mục đích giải thoát khỏi những quan niệm giới hạn. Ông gạt bỏ tất cả mọi quan niệm người khác mà chẳng đòi, chẳng giữ quan niệm của riêng mình. Ông phối hợp việc này với tập trung thiền định tâm trí, thiền định thân xác và đã đạt đến sự thật thẳm sâu thông suốt. Sự thật đó là: Thế giới thì không tài chi hiểu được và không thể diễn tả thành lời. Cho nên, sự trống rỗng của một vật, đó là sự y nguyên của vật đó, mà trong Phật học, chữ Hán, người ta gọi là chân như.

 

Chú thích: 1. Tiểu thừa / 2: Pháp: a. bất cứ việc  chi, sự chi to nhỏ, hữu hình, vô hình… –  b. những nguyên tắc, sự thật, luật nhỏ, luật to, kể cả to như luật chi phối vũ trụ  c. đạo lý Phật.

 

LÁ IV : NĂM MÓN
Năm Món tích tụ, hoà hợp làm thành thân, tâm của người, của thú, của vật.

  1. Món hình-màu: a/ đất, nước, lửa, gió+  b/ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, trí  (6 giác quan, và 6 giác quan này từ đất, nước… mà ra)  +  c/ màu-hình, tiếng, vị, vật đụng, ý tưởng (những đối tượng của sáu giác quan). Vị chi món này có tới 20 thứ.
  2. Món cảm-giác: phát sinh ra do những đối tượng của sáu giác quan tiếp xúc với sáu giác quan. Xin nhớ là 6, vìtrí cũng được kể là một giác quan; khi trí tiếp xúc với những đối tượng của trí, trí sinh ra ý tưởng, như lưỡi nếm cái món gì đó sinh ra vị vậy.
  3. Món biết-được(5.): biết được sự hiện diện của đối tượng của sáu giác quan. Ví dụ: Mắt thấy màu xanh, mắt liền biết đó là màu, chứ chưa biết đó là màu xanh (nên mới có tên chữ: nhãn thứcnhĩ thức, vv…)
  4. Món nhận-ra(3.): Do tiếp xúc với đối tượng của sáu giác quan, thời biết-được, sau đó mới nhận-ra.Ví dụ: Mắt tiếp xúc với “màu xanh”, biết-được đó là màu, sau đó mới nhận-ra đó là xanh.
  5. Món muốn-làm(4.): Ý muốn làm, làm tốt, làm xấu. Chính chỗ này là chỗ sinh sự lòng thòng (nghiệp).

 

Chú thích: * Tôi xin sắp xếp lại thứ tự bảng xếp loại ngũ uẩn (Năm món) cho hợp lý hơn; vị trí của các uẩn theo thứ tự “cũ” được để trong (  ). Tôi trộm nghĩ là kinh Phật được dựa trên truyền miệng, nhiều thế kỷ sau mới viết ra, cho nên có thể bị nhớ lộn xộn; và cũng có thể Phật trình bày không rõ ràng, nhất là khi trình bày một lý thuyết  lớn, sau khi một thời gian suy nghĩ mệt mỏi. Chỉ là một đề nghị!

* Bảng thứ tự thông thường, bằng chữ Hán, của ngũ uẩn: 1. sắc uẩn (hình-màu) 2. thọ uẩn (cảm giác) 3. tưởng uẩn (biết-được) 4. hành uẩn (muốn-làm)  5. thức uẩn (nhận-ra).

 

LÁ V : CHUYỆN KHÔNG-TA 1

¤  Chuyện Sinh-thành2.

Chuyện này dựa trên công thức gồm bốn câu, chia làm hai cặp:

– Cái này  thì cái kia coù; cái này sinh thì cái kia sinh.

– Cái này không có thì cái kia không có; cái này diệt sinh thì cái kia diệt.

Như thế mọi pháp đều phụ thuộc nhau trong những chuỗi sinh, tồn, diệt. Và sinh, tồn, diệt theo 12 kiểu3 sau đây:

  1. Tối tăm (ngu) sinh ra ý muốn
  2. Ý muốn sinh ra nhận-ra
  3. Nhận-ra sinh ra hình-ý (những gì thuộc thân và ý tưởng, xin xem mục Năm món)
  4. Hình-ý sinh ra sáu giác quan
  5. Sáu giác quan sinh ra tiếp xúc
  6. Tiếp xúc sinh ra cảm giác
  7. Cảm giác sinh ra khao khát
  8. Khao khát sinh ra bám víu
  9. Bám víu sinh ra trở thành
  10. Trở thành sinh ra sự sống
  11. Sự sống sinh ra già
  12. Già sinh ra chết, buồn khổ

Ðấy là tiến trình sinh ra, tiến trình thuận, theo đó sự sống phát sinh, tồn tại. Nhưng trái lại, tiến trình ngược, tiến trình diệt: tối tăm diệt, thì ý muốn diệt, vv…

Những kiểu vận hành trên đây vừa là nhân vừa là quaû, nó vừa định đoạt bởi x, vừa làm điều kiện cho . Bởi thế các pháp đều tương đối phụ thuộc nhau, không pháp nào tuyệt đối hay biệt lập, chúng hợp rồi lại tan, bất định vô chừng. Và sự sinh thành, là sinh theo vòng tròn, chứ không theo dạng giây xích.

Như thế, dựa vào bản phân tích Năm món, bảng phân tích Sinh thành của Bụt, và luận chứng Lối-đi-giữa của ôâng Long Thọ vừa bàn thì:

* Quan niệm ý muốn tự do không phát sinh, cũng không thể phát sinh trong Phật học, vì  một  khi mọi hiện hữu, mọi pháp đều tương đối, giới hạn, phụ thuộc nhau, thì làm sao ý muốn có thể đứng một mình, làm sao có thể có cái gọi là Ýù muốn Tự do (Ý chí Tự do) mà các trường phái thần học, triết học Tây phương hay nói tới.

* Quan niệm về một bản thể không bao giờ thay đổi, một bản thể bất diệt ở trong con người, gọi là ta-nhỏ (tiểu ngã); hay ngoài, hay trên con người, có tên là Thượng đế, Ðại phạm thiên vương( Brahman), hay Ta-tuyệt-đối (Ðại ngã). Cả Ta-tuyệt-đối và ta-nhỏ, vv… chỉ là bóng dáng lăng quăng trong đầu óc con người bao đời.

* Tuy nhiên, khi ta nói những từ ngữ “tôi” , “anh”, “linh hồn”, vv… không phải ta nói dối, nhưng nói thuận theo qui ước thế gian. Loại sự thật này gọi là sự thật thuận theo.  Nhưng rốt ráo, qua những lý luận vừa dẫn trên, thì không làm gì có “tôi” , “anh” , “linh hồn” , vv…. Loại sự thật này gọi là sự thật rốt ráo. “Một con người nên chỉ được xem có làø có trong sự ấn định, chứ không phải có trong bản thể.” – Kinh Lăng già.

 

Chú thích: *  Chữ Hán: 1. Vô ngã /  2. Luật duyên khởi. / 3. Thập nhị nhân duyên: vô minh duyên hành/ hành duyên thức/ thức duyên danh sắc / danh sắc duyên lục nhập/ lục nhập duyên xúc/ xúc duyên thọ/ thọ duyên  ái/ ái duyên thủ/ thủ duyên hữu/ hữu duyên sinh/ sinh duyên lão, ưu, bi. /

* 4. Ta-nhỏ và Ta-tuyệt-đối (Tiểu ngã và Ðại ngã)  tạm dịch từ atman và brahman.  Còn được dịch: linh hồn và Chúa. Nhưng tạm dịch trước hay hơn cả, vì brahman được hiểu,  như  một thực thể không bản  vị, một loại thực thể mà Pascal gọi là “chúa của các triết gia” , mà Chúa, ví dụ,ï Chúa của đạo Thiên chúa thì có bản vị. Cái Ta-nho û(self) to lớn gấp bội cái-ta-vụn-vặt (ego) , to đến nỗi nó ngang cơ với cái Ta-tuyệt-đối, brahman, đến nỗi Ta-nhỏ và Ta-tuyệt-đối là một, atman và brahman là một. Ðây là diễn theo truyền thống Vệ đà, truyền thống Áo nghĩa thư  / Nhưng Ấn giáo hệ Bà la môn lại coi  Brahman là một vị thần tối cao,  có bản vị đàng hoàng, do đó dẫn tới những lễ nghi rườm rà; một sự suy thoái từ 2 truyền thống tâm linh kể trên.

 

LÁ VI : TÓM TẮT HỌC THUYẾT CỦA PHẬT

Ngôi nhà học thuyết của Phật có ba cột trụ:

Cột 1: Thuyết về Khổ, gốc Khổ, diệt Khổ.

Cột 2: Thuyết Không Ta

Cột 3: Thuyết Sinh thành.

CẢM NGHĨ SAU KHI NHÌN LÁ BỒ ÐỀ

Cuối cùng, tôi trộm nghĩ cả những khi Phật đưa những hiện tượng của thế giới vật chất ra mà phân tích, dẫn giải, thì đó chỉ là một số trong những lối phân tích, dẫn giải nhằm đạt một mục đích lớn là phanh phui chuyện trong tâm trí, để giúp loại trừ khỏi tâm trí những ảo tưởng tâm lý, tâm linh nằm trong những dạng suy nghĩ cá nhân, trong những luồng tư tưởng đã được công khai rao truyền. Chỉ khi nào đầu óc loại bỏ được mọi loại tư tưởng như vậy, lúc đó lòng mới được thảnh thơi mà đón lấy cái Vời Vợi nào đó (Krishnamurti), hay lòng đạt đến một trật tự cao hơn: higher order, bao gồm phải trái, trong ngoài… (Suzuki) .

Và chuyện loại bỏ này của Phật không liên can gì đến những loại tư tưởng như luận lý học giúp đỡ khoa học, và ngay cả những trường phái tư tưởng của một số ngành tâm lý học mang tính chất khoa học, ví dụ, tâm lý học ứng dụng. Mà “khoa học ư?, khoa học quả là tuyệt vời!” – Krishnamurti đã kêu lên như vậy. Do đó, không nên cho những phân tích của Phật về thế giới vật lý, và cả về thế giới tâm lý, như những phân tích có giá trị tuyệt đối của khoa học thực nghiệm; hoặc gần như tuyệt đối của khoa luận lý, hoặc có giá trị cao của khoa tâm lýù hiện đại, những khoa hôm nay đã đạt tới mức chính xác cao.

Phật học lại minh họa thêm một cố gắng của một con người với những điều kiện nhất định của con người đó, nhằm giúp Con Người được hạnh phúc.

 

Các tài liệu chính được dùng: Kjell Madsen, Flamme og Hjul: Ngọn lửa và Bánh xe /  Knut A. Jacobsen,  Buddhismen: Phật học/  Per Harvey, An introduction to Buddhism: Ngõ vào Phật học/  W. Rahula, What Buddha taugh: Những điều Bụt dạy;  Trí Hải dịch dưới tựa đề Con đường Thoát khổ/ Ðoàn Trung Còn, Phật học Từ điển. / Bergen, 18. 1. 03/ e-mail:nguyenvanthuc@yahoo.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close