Sợi Lạt

 

Nguyễn Văn Thà

 

Relatert bilde

 

Có kẻ đi con đường thẳng tắp,

Có kẻ đi loanh quanh:

Chờ người bạn gái của ngày xưa tháng cũ,

Hay chờ để trở lại nhà mình,

Nhưng tôi, tôi cứ đi – bất kể –

Trên con đường chẳng ngay cũng chẳng rộng,

Mà vô định,

Như những toa xe lửa – trật đường rầy.

                                                                                                   Anna Akmatova (Nga Sô) – Ðường Tôi Ði (1940)

 

Tếât còn vài tuần nữa mới đến, chim én chưa chi đã chao liệng trong trời mới trở xanh, mỏ ngậm đôi sợi mây. Bầy kiến đỏ chăm chỉ kéo nhau đi trên con đường mỏng như sợi chỉ kéo tận đâu đâu, có con kiện hạt nếp trắng ngần, ra chiều hí hửng, không biết kiếm đâu ra hay vậy, có con còn tha cả những mảnh lá xanh trên mặt đất đen ẩm. Trời hiu hiu lạnh như mọi năm. Những giọt sương vẫn có đủ nắng vàng để lung linh hạt tía đầu ngọn cỏ. Vạn vật và trời đất vẫn bình thường sau những ngày không bình thường của con người, như đám cỏ sau ngôi trường nhầu nhuề mùa đấu tố, giờ đã trở lại xanh. Có một cái gì đó tàn nhẫn nơi tất cả những trở lại bình thường ấy. Ai người bơ phờ tóc rối cỏ bồng, già cùng gió bụi. Âm thầm lo sợ vạn vật, thời tiết đổi mới!

Ông Tụy cũng lại làm một việc bình thường như những người đàn ông nông dân khác khi Tết sắp đến: vót lạt gói bánh từ đầu tháng chạp, chuốt âu chuốt yếm; nhưng đấy lại là một công việc không bình thường: ông vót cả ngày, cả đêm, dù ông không làm gì có nếp để gói, ông, một tên địa chủ vừa thoát chết. Những sợi lạt tre non vàng ươm, cong oằn mềm mại hai đầu, nằm trên lớp lá chuối tươi, tựa những nỗi niềm tận tình hiến dâng như vạn vật thầm lặng quanh ông. Và thỉnh thoảng ông thanh thản nhìn bầu trời, lòng xanh ấy chuyên chở hạnh phúc với đau khổ, dung chứa tình thương lẫn hận thù, van xin cùng oán than từ bao đôi mắt nhân loại gởi vào tự muôn vạn kiếp. Chỉ cách đây mấy tháng thôi, hận thù ngùn ngụt, oán than chật trời, lòng trời tưởng như vỡ tung và cứ ngỡ từ lòng trời ấy sẽ đổ xuống đầm đìa mưa diêm sinh, bão từ khí, vậy mà hôm nay trời xanh xanh nhân từ, còn có cả gió thơm thơm nhân tình; và ông Tụy vẫn tận tụy ngồi đó chuốt lạt, những sợi lạt niềm riêng dưới trời chung vô thủy vô chung.

Ông đi qua, bà đi lại, ai cũng nhìn nhìn đống lạt vô duyên, nhìn ông Tụy với vẻ khó hiểu, rồi nhìn vào cái chuồng bò cạnh bãi tha ma, nơi chỉ định cư trú của ông bà Tụy từ sau những ngày bị tước đoạt, lột trần hết. Ðôi kẻ hỏi ông, những câu hỏi với những đại danh từ nhân xưng hạ cấp được ráp vào với những động từ, những danh từ kách mệnh cao vòi vọi, nhưng thường thì người ta chỉ nhìn ông với vẻ ngậm ngùi, thương hại hoặc thậm chí sợ hãi. Không sợ hãi sao được khi tất cả đã bị nghiền nát: địa chủ lẫn bần nông; người bị đầu tố lẫn kẻ đấu tố; bắt rễ, xâu chuỗi cũng như trí, phú, địa, hào. Tất cả bị nghiền nát trong cối xay Sự Dữ, vì trong Sự Dữ mọi người đều bị thua thiệt, và kẻ gây ra Sự Dữ là kẻ bị thiệt thòi nhiều nhất; mà họ không biết. Và dường như chưa thỏa, những tàn ác, man rợ nhãn tiền đã qua đã qua, chúng vẫn tiếp tục cuồn cuộn điên cuồng, đay nghiến dai nhách trong những luồng sóng âm thanh từ những cái loa, như từ miệng những mụ nhà quê sồn sồn ác độc, say rượuvà cả đời chưa bao giờ được đ.. Mọi tín hiệu mùa xuân đều trở nên thấp cổ bé miệng, không làm gì còn nhất cá hoàng oanh minh thúy liễu.

– Sao lại chỉ một con kêu trong liễu xanh vậy, mà lại không nhiều con vậy ông?

– Nhiều con thì ai còn nghe mà chi, huống hồ lại còn đưa vào thơ!

– Ông đọïc thêm thơ cho tui nghe đi ông! Như những sáng xuân xưa. Có trà thơm đây cho ông nhấp giọng.

– Ừ, mà trà bà kiếm đâu mà tài vậy?

– Kiếm đâu thì kiếm, cứ có cho ôâng là được.

– Ừ, thì ngâm.

Ông Tụy ngồi trong chiếc ghế dựa có lót lớp nệm êm, ngâm thơ xuân bài này đến bài thơ khác, những bài thơ xuân bất tử như mùa xuân, của những nhà thơ bay mây vàng nguyên đán.

Bà loay hoay sửa chổ này, soạn chổ nọ, ý chừng muốn được quanh quẩn bên ông. Ngâm xong, nhắp ngụm trà thơm, liếc sang bà, ông chép miệng:

–  Cảm ơn Trời Ðất, Ông Bà!

– Vâng, cảm ơn Trời Ðất, Ông Bà – Mắt bà long lanh nước mắt.

– Hồi đó chạy ghe vào Nam buôn gạo, Tháng Mười Một, Tháng Chạp, gió bấc thổi mạnh chưa chạy trở ra được, cứ nóng ruột.

– Nóng cái gì mới được chớ!

Oâng cười nheo mắt nhìn bà:

– Cái bà ni thiệt lắm sự!

Bà cũng cười, cười con mắt có đuôi:

– Cứ nhớ cái năm ông vừa lấy tui được một năm, ông cũng chạy ghe vô trong ấy buôn gạo, tới ngày ba mươi chưa ra, tui đâm lo. Tưởng ông không về ăn Tết được. Tối đó ông lại mò về, xơ xơ xác xác. Sao ông liều vậy, bỏ ghe đi đường bộ mà về? Sao vậy ông mình!?

– Cái bà ni thiệt lắm sự! Thì tết nhất, sao mà không về cho được! Những buổi sáng mồng một như ri! … – Ông trầm lại – Mà cũng thiệt cảm ơn Trời Ðất, Oâng Bà: Từ ngày cái học nhà Nho đã hỏng rồi, tui phải cố quay ra nghề nông, nghề ngư, lại xuôi Nam ngược Bắc buôn bán, giờ nhà mình được mấy mẫu ruộng, có nhà, có cửa, có bò, có me, mấy đứa con, đứa nào cũng khoẻ mạnh, thôi tui chẳng mong gì hơi, lại mua cả được mấy rương sách, báo. Tới lúc này tui mới được rảnh rang chút đỉnh để đọc. Mà bà nì…

– Gì đó ông?

– Cái chữ quốc ngữ thật dễ học, một phát minh lớn cho dân mình đó nghe bà. Nước mình sẽ lớn mạnh nhờ nó. Tui thấy trong Lục Tỉnh, mấy anh đạpï xích lô, trưa nghỉ, ngồi tréo mảy trên xe đọc báo, thì cũng đủ biết.

– Vâng. Cũng có thể thôi ông!

– Sao bà lại nói rứa?

– Tui nghe cậu em tui ở khu tư nói là Việt Minh hô hào bình dân học vụ chẳng qua để có nhiều người đọc khẩu hiệu của họ, chớ họ chẳng có ý tốt lành gì!

– Ừ, ừ có lý, cậu ấy nói có lý… mà bà nì!

– Gì nữa đó ông?

– Tui nghe nói cái thằng Tùng đang ve con Thu phải không vậy bà?

– Vâng, đúng vậy.

– Cái thằng!

Hai ông bà mỉm cười, hai ông bà yên lặng.

– Bà nì, cái con Thu có phải con anh Xanh đi Việt Minh phải không?

– Phải.

– Tui nghe ông cha Luân coi xứ Ðan Sa, cha mới đậu cha bên Tây mới về đó, nói với tui là cái tụi Cọng Sản Nga Sô mà cái tụi Việt Minh tôn làm thầy đó là cái tụi nói thì hay, cày thì dốt, lại còn giết người vô số! Có cái ông nhà văn Tây lúc đầu còn ở trong nước cứ viết sách ca tụng cái nước Nga Sô hết mực, nhưng khi có dịp qua đó, khiếp quá, trở về lại viết sách nói về cái tài giết người của mấy ông Liên Sô, giết người vô vàn vô số chỉ vì miếng ăn.

– Vâng, người ta sống không phải chỉ bằng cơm, bánh.

Ông hiền lành:

– Ừ, thôi, mình được Trời cho sống bằng yên ngày nào hay ngày đó!

Ông lại ngồi trầm lắng. Có một cái gì đó thật linh thiêng dâng dâng giữa buổi sáng đầu năm nguyên tuyền, không biết tự vạn vật xuân hay tự ông, hay là từ cả hai.

Ông Tụy lại ngâm bài thơ khác:

– Tiêu-điều bồng mấn, lão, phong-trần,

Ám-lý thiên-kinh vật, hậu tân.

Trì thảo: vị lan thiên lý mộng.

Ðình mai: dĩ hoán nhất thiên xuân.

Anh-hùng tâm-sự: hoang trì sính

Danh- lợi doanh- trường: lụy tiếu tần.

Nhân-sự tiêu-điều xuân tự hảo.

Ðoàn-thành thành hạ nhất triêm cân.

 

(Bơ-phờ tóc cỏ, già, phong-trần,

Lo-sợ thiên-nhiên, tiết mới sang.

Cỏ ao: chưa tan ngàn dặm mộng.

Mai vườn: đã đổi một trời xuân

Anh-hùng tâm-sự: thôi dong duổi

Danh-lợi doanh-trường: gượng cười nhăn

Người cứ héo mòn, xuân mãi đẹp.

Dưới thành Ðoàn đứng, lệ đầm khăn.)1

 

– Thật không gì đau đớn hơn khi phải trải qua những ngày xuân quán trọ, và đối với rất nhiều người lại là xuân quán trọ trên chính quê hương mình như chúng ta đây! … – Một người đàn bà trẻ, trong bộ đồng phục xanh bộ đội mà vẫn không giảm đi vẻ xuân thì, mỉm cười nhìn ông và nói, giọng nhẹ nhàng không giống ai trong những ngày sắt máu ấy – Và tại sao, vạn vật hồi sinh, khí hậu tươi mới lại làm ta lo sợ? Có phải vì con người tàn nhẫn, từ nghìn xưa cho tới tận nghìn sau, phải không thưa ông? … Chúng ta phải làm sao đây?

– Không sao, không sao, vì chung cuộc con người cũng chẳng làm gì được con người.

– Tại sao?

– Không biết. Tui không biết.

Người đàn bà trẻ cứ nhìn mãi ông, không nói.

***

Anh John, người hàng xóm của em trai tôi. Trong cuộc chiến Việt Nam, anh John là một trung sĩ biệt kích. Hè năm ngoái tôi qua thăm gia đình nó. Nhân bữa nhiều nắng cuối tuần, nó bày ra nướùng thịt vườn sau. Nó mời anh John và vợ anh qua ăn cho vui. Anh là con người dễ làm quen. Sau vài chầu bia anh nói nhiều, nói hào hứng về những ngày chiến đấu ở Việt Nam. Anh còn kể là anh nhảy toán nhiều lần ở Trường Sơn, và anh cho đó là những ngày đầy thách đố cùng cực và đáng sống nhất, so với những ngày nhàm chán sau khi giải ngũ, và tuổi già ì ạch hiện nay. Anh bảo anh cũng có một số đồ kỷ niệm của những ngày chiến đấu ấy. Anh mời tôi qua nhà và mở tủ kỷ vật cho xem: cái gùi người Thượng, mấy hình nhân canh mộ của người Thượng, một chiếc nón lá bài thơ, một khẩu K54, mấy cái xú chiêng và xì líp của mấy cô bồ Việt, được bọc trong bao ny lông đàng hoàng, để giữ mùi – anh cười hề hề nói, một lá cờ MTGPMN không thấy gói gắm gì, và có cả một cuốn sổ nhỏ bạc màu, hơi nhàu nát. Thấy tôi có vẻ chú ý đến cuốn sổ, anh bảo nếu tôi muốn, anh cho tôi mượn đọc, rồi nếu rảnh, kể sơ cho anh nghe. Tôi thấy đây cũng là điều hay.

Cuốn sổ đó không hẳn là cuốn nhật ký, vì trong đó còn ghi những ý nghĩ hình như chợt đến của nữ cán binh Viêt Cộng có tên là Cầm Thi, và có cả những bài thơ nữa, thơ chữ quốc ngữ, chữ Hán – Việt, còn lại là nhật ký. Phần đầu nhật ký có những đoạn Bác, Ðảng hơi nhiều, rồi những đoạn căm thù bọn Pháp thực dân, bọn Việt gian cũng bộn, đại khái như trong nhật ký của Ð. T. T. vậy. Tôi không trích lại đây mà chi. (Ai muốn tìm hiểu cứ tìm mà đọc nhật ký Ð. T. T., in trên giấy hoặc trên mạnghiện đang được phổ biến rất rộng rãi.) Tuồng chữ của phần đầu nhật ký của nữ cán binh Việt Cộng Cầm Thi  thẳng đứng, vững chải, nhưng tới phần giữa, tuy cũng còn viết về Bác và Ðảng, nhưng tuồng chữ nghiêng ngã, không đều, như giòng chữ của học trò đang tuổi hoa niên, mà phải làm những bài văn nghị luận luân lý. Phần cuối, chữ viết lại thẳng đứng, chững chạc hết mực, còn hơn phần đầu. Ðặc biệt những trang cuối này có những vệt máu loang, giờ đã nâu mờ, nhưng những giòng chữ viết vì có lẽ viết bằng bút bi mà lại ấn mạnh, nên tôi vẫn đọc được dễ dàng.

(……)

Ngày Tháng Năm

Tình yêu luôn có những uẩn khúc, nhất là nơi những vùng đất đầy ngụy trá, khô cạn tình ngưởi.

Một nước bị cai trị bởi một bạo chúa chỉ là bạo chúa mà thôi, thì còn đỡ, nhưng khốn khổ cho Ðất Nước nào có một kẻ cầm quyền vừa là bạo chúa vừa là một kịch sĩ đại tài, vì sau khi y chết sau khi đã gây bao nhiêu tai họa bằng những ngón giảo quyệt tuyệt luân của y, bọn kế vị của y sẽ học ngay những ngón xảo trá đó và tiếp tục lừa dối dân một thời gian lâu không biết lúc nào cùng, vì y lừa dối tuyệt luân đến nổi toàn dân cám ơn y vì những điều họ bị lừa dối. Rồi y cũng dùng một chước như bạo chúa Néron: hôm trước khóc, (nước mắt được hứng trong ve ngọc), hôm sau đốt cháy cả thành La Mã.

Ngày Tháng Năm

Tổng kết lại cuộc đời mình từ đó đến nay: bỏ học nửa chừng, hối hả theo tiếng gọi Ðất Nước tham gia vào những ngày cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, còn gọi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng lần thứ nhất (như lối gọi tên cuộc chiến này của ông nội mình hồi còn sinh tiền), rồi tham gia cuộc cải cách ruộng đất “long trời lỡ đất”, mình đã tham gia với với tinh thần nhiệt tình và lạc quan cách mạng, cho đến những ngày đang trên đường Trường Sơn vào chiến trường miền Nam này, mình thấy mình đã chỉ làm được một chuyện mà mình hãnh diện với lương tâm nhất, và sung sướng nhất, đó là được hôn lên trán người điền chủ khốn khổ ấy mồng một Tết hôm ấy. Ông ta, dù vốn chỉ là một thư sinh tay trắng, đã làm nên cơ nghiệp, dù cơ nghiệp ấy chỉ là 3 mẫu ta ruộng và mấy rương sách.

Mình nghĩ ông ta có quyền hưởng thành quả lao động chân chính của ông chứ! Ðã tước đoạt đất đai cơ nghiệp của ông. Ðày vào ở chuồng bò. Rồi ai đời họ còn tịch thu sách, gia tài tinh thần mà ông đã chắt chiu, về trụ sở xã, rồi ai nấy xé làm giấy chùi đ.! Giấy sách bay trắng cả đám đất trồng khoai lang sau trụ sở. Mình thấy những mảnh giấy ấy như những mảng lương tri, những nỗ lực vươn lên của nhân loại bị hạ nhục đến mức dã man trong những ngày cuồng nộ vì bị kích động ấy. Mình nhớ lại thư phòng của cha mình cạnh giòng sông quê nhà, Người nâng niu những trang sách ngã màu sương gió trong sương khói sông êm. Nhưng cũng nhờ những trang sách bị phóng uế ấy, mình bắt đầu suy nghĩ: tất cả mọi tai họa, mọi thảm kịch, đều từ do đó mà ra.

Những con người như ông là những nền móng cho một nền văn minh với một nền kinh tế giàu nhân tính.

Ngày Tháng Năm

Hôm bị trói ra trước toà án nhân dân, ông ta mặc chiếc áo dài thâm tươm tất, dáng người cao ráo, phải nói là điển trai, nho nhã, và ông ấy đã đấu lý thật khôn ngoan, nhưng cũng có vẻ bất cần. Ông cùng vợ ông bị hạ nhục một cách thô tục, dã man, trước những hàng khẩu hiệu, hình tượng quang vinh, văn minh. Cả hai bị bắt buộc về ở trong chuồng bò của chính họ. Vợ ông bị chết mấy ngày sau. Ông vẫn còn sống khổ sống sở trong cái chuồng bò. Không biết tại sao ông vẫn còn sống dù ông không làm gì có cái gì để ăn cả mấy tháng nay.

Ngày Tháng Năm

Sau cả tuần nghe ngóng, mình cảm thấy mình cần phải đến, và hôm nay ba mươi tháng chạp đã liều đến với con người khốn khổ, cô đơn, trần trụi đến tận cùng ấy. Ecce homo!2Mình không hiểu sao mấy hôm nay mình cứ ray rứt, ray rứt, cả khi nằm ngủ, hình ảnh ông ta vót lạt gói bánh không không đón Tết, một kẻ không có khoai sùng mà ăn, nói chi nếp gói bánh. Cái tận tụy làm mình chua xót, làm cho mình thấy cái gọi là đấu tranh giai cấp, được thể hiện rõ nét qua cuộc cải cách ruộng đất vừa rồi, là chuyện sai lầm quá lớn, quá khủng khiếp. Oâng ấy có tuyệt vọng, cô đơn, trần trụi không? Hay chính mình, cốt cán của giai cấp gọi là tiên tiến mới là kẻ bị  lột trần, bị đẩy tới tuyệt vọng, cô đơn, và chính mình, một thành viên của đội cải cách, mới thực sự là kẻ bị đấu tố, bị vạch mặt bởi hành vi tận tụy vót lạt gói bánh Tết của người bị qui kết vào giai cấp địa chủ này?

Ngày Tháng Năm

Sáng mồng một mình lại đến. Nghe ông ngâm bài thơ xuân mà rợn cả người. Trời ơi, ngày xuân quán trọ đã sầu lắm, huống hồ trọ trên chính quê hương mình, trọ trong chuồng bò vốn là của mình! Và ngoài kia xuân vẫn phơi phới!

Nhưng không, mình nhìn, nhìn chăm vào ông, mình bắt đầu thấy đôi mắt, đôi tay, làn da, mái tóc, tất cả nơi ông ánh lên vẻ thanh sạch, lâng lâng niềm trầm lắng, an vui và hiền từ, và thánh thiện, cái thánh thiện từ một cuộc đời-thường viên mãn. Lòng mình rối bời, trăn trở, nhưng cùng lúc cảm thấy bị ông lôi cuốn mãnh liệt. Ông chỉ nhìn mình, không nói; mình cảm thấy mình đang đứng trước một quyết định sinh tử cho đời mình. Và cuối cùng, cuối cùng mình đã hôn lên vầng trán ấy. Ông vẫn nhìn mình, hình như thấp thoáng nụ cười. Ngay lúc ấy có gì như thể diệu kỳ nơi ông, và cả nơi mình. Mình thấy trên khuôn mặt ông một giòng mặt người trôi chảy: mặt những người đàn bà của hoa của nguyệt, những đứa bé hiền lành như đất, như cơm, những miệng người nuốt ham nuốt hố khẩu hiệu, những anh đội khua tay múa chân, sùi bọt mép, những anh chị nhà quê quê mùa, nhem nhuốc hoác miệng vuông xỉa xói, những thằng cu cu tồng ngồng lon ton cầm cờ đỏ to tướng, và cờ và cờ đỏ che ngợp mặt người hốc hác, những mặt người cúi gục tận bùn đen, sợ hãi, khuất phục, hay ngạo mạn, những trí thức tóc bạc ngậm bút đỏ, những chàng tuổi trẻ tóc xanh nguồm ngoàm nhai hàng hàng pháp trường… Ông vẫn nhìn mình, và cuối cùng nở một nụ cười đẹp nhất, như cánh sen hồng cổ tích chở mình qua sông lớn tới miền phơi phới. Oâi, giòng sông vận nước sôi sục, giòng sông phận mình bến bờ lạc lỏng!

Mãi sau này, nhớ lại cái run rẩy mặn nồng lúc ấy…

Cái duyên sợi lạt đã buộc chặt đời mình mất rồi.

(Cô bạn Nhàn, chuyên gia về văn học Tiên Tần, cho mình biết chữ duyên trong cốt giáp tự được khắc với bộ trúc, chứ không phải bộ ti (tơ) như trong những đời sau!)

Ngày Tháng Năm

Mình về thăm mẹ bị bệnh nặng. Trước khi đi, mình lén lút để lại cho ông ấy mấy cân khoai và mấy nhúm gạo. Mình sao cứ nóng ruột, mong cho mẹ bớt bệnh để trở lại, nhưng được một tuần thì nhận được thư của anh chàng bí thư đội cải cách ở đó. (Anh ta đang ve vãn mình.) Sau những lời tán tỉnh, hắn ta còn cho mình biết là tên địa chủ đã chết trong nơi chỉ định cư trú, mà thật lạ là hắn chết mà có vẻ như đang mỉm cười! “Thiệt là đáng ghét, cái bọn phản động, đến chết mà vẫn còn phản động được!” Hắn ta chấm dứt lá thư (tình) như vậy.

(Tới đây có nhiều dấu chấm than to khác thường, trông như những giọt nước mắt.)

(………)

Ngày Tháng Năm

Hôm nay là kỷ niệm ngày em đến với anh. Anh ơi, anh đã yên phậân anh, còn em, ngày em hôn trán vời vợi, bao dung anh, em cứ tưởng đã tìm được bình yên, nhưng không, người ta không dễ gì bình tâm được mãi giữa một nơi dai dẵng những trò hề đẫm máu, những mặt nạ tởm lợm trong hội giả trang quỉ ma rộn ràng ngày đêm, ở một nơi không còn gì cả để còn được thấy mình là mình, do đó người ta phải chọn lựa: phải đánh mất mình hoặc tự sát, và em đã chọn vào chiến trường Miền Nam như một cố gắng trong tuyệt vọng.

Ði dọc Trường Sơn, em mới thấy là cái hi vọng vào được Miền Nam quá nhỏ, quá nhỏ, trong khi cái phi lý của đời người, nơi chiến trường này, hiện ra càng rõ ràng hơn, và do đó tự sát như nơi đây, vào lúc này, mới xác lập được tự do trên thân phận mình một cách thuyết phục cho mình nhất. Con người chỉ thực sự được bình yên khi có được tự do tuyệt đối, mà tự sát là một trong những phương cách và là một dạng khác của thực-hiện-toàn-mãn, không phải vậy sao?

Em đã chán ngán cái cảnhï sống phi lý này lắm rồi, mà anh ơi, quanh em vẫn trùng điệp những phi lý, đó là hàng hàng lớp lớp tuổi thanh xuân vẫn say mê về cuộc sống đẹp tươi của một ngày mai ca hát được hứa hẹn bởi những tay buôn qủi quyệt còn hơn lão lái buôn thánh Venice ngàn lần.

Em nghĩ những người tuổi trẻ ấy chết bây giờ cũng là điều hay cho họ. Nhưng em có quyền gì để nói như vậy? Mỗi người là chủ vận mệnh mình.

Nhưng em rồi không cần phải suy nghĩ lâu nữa, em cũng sẽ tan vào cỏ cây Trường Sơn nay mai thôi, vì bom đạn đang hủy diệt lớn lao, cùng khắp, không ngừng; bom trải thảm B-52 trùng vây quanh đây. Chiếc thảm ấy rồi cũng sẽ phủ chụp lên em.

Tre Trường Sơn thật nhiều thật nhiều…

***

Anh John chỉ biết sơ sơ tiếng Việt, sau khi tôi, người viết bài này, thuật sơ những đoạn nhật ký của cô gái Việt Cộïng cho anh, anh khơi khơi hỏi tôi:

– Mặn nồng có phải là fucking không vậy bạn?

Tôi giật mình nhìn qua vợ anh:

– Aáy, ấy, nói nhỏ, kẻo vợ anh nghe được, thì mệt với chỉ đó! Muốn biết mặn nồng có nghĩa gì, anh phải hỏi chỉ, và chỉ có chỉ mới trả lời đúng cho anh mà thôi.

– Ừ, may mà hỏi anh trước, nếu hỏi bậy như vậy trước mặt bà đầm là nguy to với bả đa! Tiếng Việt vừa thiệt rắc rối, vừa nguy hiểm!

Vợ anh John tên là chị Ba, một cô gái quê, hồi ấy từ Miền Tây lên Sài gòn làm cái nghề mà người miền Nam bị kìm hẹp gọi là me Mỹ, còn những người kách mệnh như cô cán binh Việt Cộng Cầm Thi, tác giả cuốn nhật ký mà tôi thuật lại trên kia, họ gọi hạng người như chị Ba là bọn đĩ điếm cho Mỹ.

Còn giả sử như anh chàng chủ nhiệm nhà xuất bản nào đó ở Việt Nam hiện nay lúa quớ sao đó mà đem in cuốn nhật ký của cô Cầm Thi, lúc đó, liệt sĩ Cầm Thi không biết sẽ được tặng thêm danh hiệu gì.

***

Hồi về Việt Nam dịp Tết, vợ chồng tôi có du lịch qua Căm Bốt để thăm Angkor Wat, nhưng xe vừa qua biên giới là tôi mê ngay, vì những cánh đồng bao la đến độ bơ vơ, những nước sông sông nước hờ hững, buồn trưa trưa lây lất buồn trưa trưa, buồn xưa xưa ngây ngất buồn xưa xưa, mênh mang ruộng đồng, mênh mang phận người nhỏ nhoi trong giòng lịch sử kinh hoàng, mới đây thôi mà đã tan vào gió loanh quanh vô định, và những em bé, cụ già, người lớn, thiếu nữ, thanh niên ánh mắt luân lạc khôn xiết, bóng hình ngất ngơ lữ thứ.

Tôi ngồi ghế gần cửa sổ, vợ tôi ngồi gần lối đi, băng bên kia là cha con nói giọng miền Trung. Thằng con cứ say mê đọc mấy tập Văn Mới, ông bố cũng đương đọc một cuốn hồi ký của Tô Hoài. Ðọc chán, ông quay qua nói chuyện với vợ tôi. Sau vài câu thăm hỏi xã giao, ông bốc ngay, một phần có lẽ vì ông ta thích được trình bày ý nghĩ với người mà ông đoán chừng là biết nghe và có hiểu biết, một phần có lẽ vì lối nói chuyện, dẫn chuyện của bà xã tôi, mà tôi phải công nhận rất có duyên. Ông là một cán bộ về hưu. (Tôi không thiện cảm gì lắm với mấy ông cán bộ.) Ông và vợ tôi chuyện trò rôm rả, đủ thứ đề tài. Ông sôi nổi phân tích tình hình chính trị của nước ông, ông còn lái qua chuyện văn học xã hội chủ nghĩa mà ông gọi là văn học bị chính trị hóa, “chẳng ra cái đách gì cả!”

– Chồng em cũng thích văn học lắm đó anh. Và dám cùng quê với anh lắm đó!

Tôi quay qua gật đầu mỉm cười với ông.

Ông cười:

–  Tôi cán bộ hưu trí. Trước tôi công tác ở ngành cầu đường ở miền Trung. Anh công tác ở đâu?

– Em làm lò bánh mì, ở Na Uy.

– Vậy mà trông anh như ông lớn.

Tôi phì cười:

– Ở Na Uy lương thủ tướng chỉ bằng hai lương một người thợ nướng bánh mì như em. Quê bọ em ở Quảng Bình.

– A, vậy là chúng ta cùng quê.

Tôi vói tay bắt tay ông:

– Rất hân hạnh được gặp đồng hương.

Ông lại ngang ngang Quảng Bình:

– Hân hạnh cái đách gì! Cái dân Quảng Bình gì mà cứng đầu cứng cổ, mà lại cực ác ông mi ạ! Còn bên nớ, ông thấy sao?

– Em cảm thấy khá hạnh phúc, vì sống trong một xã hội ổn định. Còn về vật chất cũng vầy vậy thôi. Em chỉ ăn một ngày một món chẳng hạn, không bốn năm món như ở nhà chị em ở Việt Nam.

– Bên đó tui nghe bận bịu lắm, có thời giờ đọc sách không?

– Có chứ, đọc không được thì nghe. Em cũng mê sách lắm. Em cũng có viết lai rai nữa.

Ông Tam, người cán bộ cùng quê, hưu trí đó, vui vẻ hẳn lên, quên cả cái giọng Hà Nội đỏm đáng ta đây:

– Rứa hả?

– Vâng.

– Hèn chi thấy anh cứ ngắm cảnh suốt sáng tới dừ! Mà anh thấy chi?

– Buồn trưa trưa lây lất buồn trưa trưa, buồn xưa xưa ngây ngất buồn xưa xưa.3

Ông vỗ tay cái bộp:

– A! A!

Vợ tôi quay lại cười hi hi:

– Thôi trúng đài rồi! Qua đây ngồi mà nói chuyện cho gần đi ông! Nói vói mỏi cổ. – Và tôi đổi chổ với nàng.

Tôi và ông nói chuyện có phần hơi to vì bắt đầu ăn ý. Không thấy những người cùng chuyến khó chịu gì. (Người Việt mình hay vậy đó! Gặp người Na Uy là bị cự, hoặc bị nhìn khinh bỉ ngay.)

Rồi tôi hỏi thăm ông về cái làng Mỹ Hạnh, nguyên quán của tôi.

– Tui biết, tui đã từng xuống đó công tác nhiều lần, đi xây cầu thôi, tui là kỹ sư cầu đường. Tui sau làm giám đốc phụ trách cầu đường từ Vinh vào tới Ðà Nẵng. Giờ về hưu rồi, lương một triệu hai, đủ sống tàm tạm. Ði đây được là nhờ thằng ni, hắn làm kiến trúc sư. – Ôâng chỉ qua đứa con trai đang im lặng đọc sách – Hồi đó mình lý tưởng quá, không thì, giờ ni…  Nhưng mà thôi cũng được! Tui có được căn nhà hai mê, nhìn ra biển, lại gần sông Nhật Lệ, lại có cả một tủ sách hơn hai ngàn cuốn, đa số là sách văn học.

– Có sách chữ Hán không?

– Có nhiều. Tui là chủ tịch hội Hán-Nôm của thị xã mà ông mi!

– A! em thích đọc thơ Hán-Việt.

– Tui có nhiều. Ông cố tui đậu tiến sĩ, làm thượng thư triều Nguyễn. Vợ tui rất đẹp, người gốc Huế, ở Hà Nội một thời gian, cũng dòng dõi thi thư cả.

Tôi tự dưng thích quá sức:

– Vậy thì anh thật hạnh phúc.

– Ừ, tôi chỉ thật sự hạnh phúc từ ngày có Nguyệt.

Ðúng là con người có máu nghệ sĩ, thêm ăn mắm ruốc Quảng Bình mới ăn nói trần trụi như rứa.

Buồn trưa trưa, buồn xưa xưa chi đó giờ biến đâu mất tiêu; chuyện dòn dả quá mà!

– Vậy anh không hạnh phúc từ ấy trong tôi bừng nắng hạ hay sao?

– Hạnh phúc cái đách! Thằng cha nớ là tổ xạo. Cái câu người ta cao bởi vì mình qùi xuống, là cóp y chang một câu của một tể tướng đế quốc Aùo-Hung. Lại cái bài thơ Ðiện Biên… Xạo toàn xạo.

– Anh thiệt là lắm chuyện.

– Hà! Hà! Anh lại chơi chữ với tui. Thiệt vậy, Nguyệt của tui, cô nàng nói cô nàng ưng tui vì tui có nhiều sách. Chắc còn vì nhiều thứ nữa, phải không ông mi!?

– Ðàn bà Việt Nam mà, nói ít bọn đàn ông tụi mình phải hiểu nhiều. Cái khoản chị yêu sách dám lắm chớ. Ðàn bà Huế mà! Ðâu phải chỉ như ông vua Tự Ðức phê!

Ông Tam tự dưng mơ màng trông thấy:

– Ừ, đúng đó. Nguyệt thương tui vì tui có nhiều sách. Hồi nớ có nhiều người ưng cô nàng…

– Nghe anh nói làm em muốn ra nhìn mặt chị Nguyệt một lần xem sao. Như em nói lúc nãy, em viết lách đôi chút. Em thấy chị là một mẫu nhân vật với những nhân cách ngày càng hiếm, ngay cái xứ giàu có nơi em ở.

– Ừ, thì anh cũng về thăm quê cha, đất tổ chớ! Rồi ghé tui chơi. Tha hồ mà đọc sách. Khí hậu mát, mẻ, yên tĩnh không như ở Sài gòn. Tếùt này anh ra được là hay nhất.

– Vâng, em sẽ thu xếp lại chương trình xem sao.

– Ừ, anh đi Ðông, đi Tây, mà lại không về quê, tội chết!

– Vâng, em sẽ về, nhất là em còn có ông bác, nay trên tám mươi tuổi rồi, nghe nói sống cô quả trong một cái nhà tranh nhỏ gần bải tha ma.

Tôi thì cũng như bao Việt kiều khác, mỗi lần về quê, mà lại quê ngoài Bắc, lại càng phải suy tính dữ.

Cuối cùng hôm hăm chín Tết, tôi cũng về được quê cha đất tổ của tôi.

Và hôm sau tôi đến thăm gia đình anh Tam. Thư phòng của anh nhiều sách, được xếp trang trọng, đẹp mắt. Anh chỉ chiếc ghế mây có nệm:

– Chiếc ghế này có lẽ là kỷ vật của nhà tui đó. Ði đâu cũng mang theo. Chỉ có tui mới được ngồi. Bây giờ trong thời gian ở đây ghế đó là của anh. Tui biết nhà tui sẽ rất vui lòng.

Tôi run người, run sung sướng; ngồi vào chiếc ghế mà như ngồi trong vòng ân tình không phải của hai anh chị Nguyệt – Tam mà thôi, mà cả của một giòng tình người quê mình tự rất xa xưa.

– Anh cứ ngồi thoải mái. Kiếm cuốn sách nào ưng ý mà đọc. Tui xuống pha trà, trà của người dân tộc Arem trồng trên vùng núi vôi Quảng Bình, đắng đắng, cay cay, ngọt ngọt, như lòng người mình vậy đó!

Tôi thấy anh lăm căm lúc cúc dưới bếp. Tôi chưa thấy bóng dáng “nhân vật” của tôi mà tôi nghĩ có lẽ đang bận bịu dọn chi dưới đó đãi khách trước khi lên chào tôi. Nóng ruột, tôi tò mò đi xuống bếp, thấy tôi, anh cười, rồi chỉ ra mảnh vườn nhỏ:

– Mấy hàng cúc đại đóa đẹp không? cạnh khóm tre, tất cả nhà tui trồng đó!… Tết nhất Nguyệt chuẩn bị từ đầu tháng chạp. Tui chẳng phải làm gì, chỉ vót lạt gói bánh cho Nguyệt thôi. Ðó anh thấy đó, mấy bó lạt tre non tôi vót xong còn phơi ngoài kia.

– Mà chị đi chợ tết hả anh?

– Hôm nay là ngày Nguyệt đi thăm mộ, thăm tới trưa mới về. Anh biết không, mỗi năm vào ngày này tui ngồi vót lạt. Nguyệt ngồi nhìn tui vót lạt xong, Nguyệt mới đi ra viếng nghĩa địa.

– Chị là một người đặc biệt may mắn sống với một người đặc biệt như anh.

– Tui không có chi đặc biệt mô! Nguyệt thì đúng như thế. Cho nên tôi vừa thương vừa kính trọng.

– Mà tảo mộ hình như cả tuần trước rồi phải không anh?

– Ừ, nhưng mãi tới ba mươi Nguyệt mới đi tảo mộ, thăm mộ gì đó, quanh quẩn ngoài ấy suốt buổi sáng, gần trưa đứùng bóng mới về. Nguyệt chỉ cho biết sơ sơ vậy. Mà tui cũng không vặn vọ mà chi, huống hồ thóc mách theo dõi. Tui đã quá tởm cái trò khốn nạn đó trong xã hội ni. Nguyệt đã dâng hiến cho tui tất cả, còn một chút riêng tư của nàng ai nỡ vầy đi cho đành…

Tôi đứng đó uống một tâm tình; lâu quá đi rồi đời cằn cỗi ơi!

– Anh cứ lên nhà trên đọc sách. Ðể tui lấy thêm ít mứt. Mà không biết Nguyệt để đâu kỹ rứa không biết nữa!

Tôi trở lên nhà lục kệ sách chữ Hán, tôi đụng ngay cuốn Thanh Hiên Thi Tập, bản viết tay, giấy dó mỏng tang, nâu cũ. Tôi giở đúng ngay bài Xuân Tiêu Lữ Thứ (Ngày Xuân Quán Trọ), vì trang ấy được làm dấu bằng một sợi lạt tre non còn tươi rói, như vừa mới chuốt xong.

Trưa rồi mà chị ấy vẫn chưa về.

Anh Tam vẫn ngồi uống trà với tôi, anh nói toàn về thơ, thơ xuân và các giai thoại về thơ, anh nói nhiều hơn tôi, tôi hầu như chỉ yên lặng. “Ông mi răng bữa ni ít nói rứa!?”

Quá trưa đã lâu.

Chị vẫn chưa về.

Oslo 31 XII 2006

Chú thích:

(1) Bài này có tựa là Xuâân Tiêu Lữ Thứ  (Ngày Xuân Quán Trọ), của Nguyễn Du, Nguyễn Văn Thà dịch

(2) Sau khi đức Giê su bị lính La Mã đánh đòn, bị đội triều thiên gai, mặc áo choàng đỏ, tay cẩm phủ việt bằng sậy, bị nhạo cười, tát vào mặt, (vì Ngài trước đó tự xưng mình là vua,) quan trấn thủ Philatô từ trước có ý muốn tha Ngài, đem Ngài đứng trước dân Do Thái và nói: “Ecce homo!” : “Này một  con người [mà như thế này đây]!”, nhưng dân Do Thái vẫn không chịu tha, đòi đóng đanh Ngài cho thỏa. (Tin Mừng theo thánh Gioan, XIX, 1-6)

(3) Thơ của Vũ Anh Khanh, bài Tha La Xóm Ðạo.

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close