Sợi Tóc

 

Nguyễn Văn Thà

 

 

 

Những buổi sáng chật hẹp những ngõ ngách. May có những con chim bay vút níu màn trời rộng lên cao như trời tiền sử. Thường là những con chim uống mặt trời nhiệt đới mới có sức mạnh kinh thiên như thế.Chúng kéo rộng không gian, xua giạt thời gian, và cũng thường những con chim mái mới chăm chỉ chuyện cơ đồ sớm sủa đến như vậy, trong khi những con trống vẫn co mỏ rỉ sét nằm trong tổ ấm, hay đang lăêng quăng nhuầy nhòa trong những trận mạc củ rích.

Thầy giảng Thanh bấy lâu nay cứ nhuầy nhòa một trong những trận mạc củ rích đó, hay nói như một nhà thơ xứ Việt, thầy ta dùng những ngày tháng thanh xuân đời mình loay hoay với những nghĩa trời cao cả, hăm hở mời loài người dự hội u minh, có các vương tôn trí tuệ dẫn đường1. Không biết những loay hoay, hăm hở đó có làm cho đời được sáng sủa, ngon lành hay không, nhưng thầy Thanh là người có gương mặt sáng sủa, một thân thể ngon lành. Tuy nhiên thầy có cái dáng dấp trang nghiêm chẳng dễ ai cám dỗ. Thầy lại còn hát hay, đàn giỏi; và thầy đã khôn khéo chuyền sức sống cho các đoàn thể trong giáo xứ đang vào thời kỳ khó khăn sau ngày quân Mông Muội tràn vào3. Những tiếng tốt ấy có lẽ cũng đếán tai những người xóm lương bên cạnh, vì những lần đạp xe ra cho+. chồm hổm bên đó mua mấy đồ lặt vặt, mấy chị hàng xén tỏ vẻ nể trọng khi nói chuyện với thầy, kể cả mấy anh du kích.

Một buổi sáng Mồng Bốn Tết Nguyên Ðán, thầy đang thơ thẩn trong sân nhìn lá mới, có tiếng trong trẻo sau lưng thầy: ”Năm mới, thầy Hai mua dzịt nuôi không thầy Hai?” Thầy Thanh quay lại, thấy một cô gái khoảng mười bảy, mười tám tuổi vừa đến trước ngõ và đang se sẽ nghiêng vai để gánh vịt con xuống đất. Những con vịt con lông tơ nõn vàng liu chiu trong hai chiếc thu’ng tre mới, với vành chắn đan mắt cáo đều đặn như những ô phận người đơn sơ. Mắt cô nhỏ tròn vo, đen huyền châu ảo ánh đáy bể sâu ngàn năm. Da mặt trắng tươi bông bưởi, thấp thoáng vườn hoa trái vương hương, nơi lòng chàng thủy thủ tháng năm dài lăng quăng biển lớn xa quê. Ðôi môi đỏ như một vết thương dâng hiến đầu mùa. Bàn chân cô sạch bóng trong đôi dép trắng chưa dính một vệt đất, nhởi chơi đâu trên trời mới đậu xuống. Lại còn mặc bộ đồ bộ trắng tơ mây, e chừng vừa mới ướm mặc nóng hổi lần đầu, e ấp qua sông khoe chàng trai, làm tấm thân dong dỏng, mềm, rất mềm cứ ngỡ sắp bay. Nhưng cô vẫn đứng đó như một mie^`n thiên nhiên nguyên vẹn.

Giữa mùa xuân tèm lem chủ nghĩa.

Thầy Thanh lâu nay chững chạc, vững vàng chẳng thua gì nhà đá xây trên đá, bỗng a á như mái chòi rơm cắm trên cát bị nước lũ tràn về giữa đêm mịt mù, nhưng thầy vẫn lấy được một quyết định coi được từ trong cõi u minh bão tố đó:

– Vâng, tôi mua, tôi mua cả gánh.

– Hả, ông thày mua hết hả! – Và cô nhỏ liếc nhanh về phía hội trường – Mà tui đâu có thấy chuồng cộ gì đâu mà thày lại mua cả gánh, biết  trọng ở đâu cho hết cả trăm con dzịt như dzày?

Thầy Thanh lại càng quả quyết:

– Tôi mua hết! Tôi sẽ làm chuồng.

Cô nhỏ ngẫm nghĩ:

– Như dzầy nè: Nhà em có mấy vòng lưới kẽm, em sẽ dzìa nói với má em cho ong thày mượn tạm.

– Mà cô bán bao nhiêu một con?

Cô nhỏ lại lấy một quyết định động trời còn hơn ngày nàng Evà quyết định mời chàng Adong ăn chung trái cấm:

– Ông thầy nuôi, lớn bán chia hai.

Bầy vịt lớn nhanh, nhờ thầy Thanh lục mấy số báo Hương Quê4 cũ xem cách nuôi vịt ra sao, nhờ những bị cám bà già đầu làng hay đưa biếu thầy nuôi vịt mau lớn.

Thầy thương đàn vịt, thầy qúi đàn vịt, qúi từng chiếc lông rụng cho tới cục phân. Lông thầy nhặt, rửa sạch, tước ra, tẩy sạch, độn làm gối. Phân thầy ủ, bón những hàng hoa cúc vàng dọc hàng dậu tre trước ngõ. Từ đó, nhịp sống của thầy là những nhịp vui. Ánh mắt của thầy là ánh mắt nhộn. Vịt càng ngày càng lớn trộng, càng rỡ ràng lông trắng. Gối càng ngày càng đầy; thầy còn tính sẽ góp lông làm thêm một chiếc chăn. Căn phòng trống hoang hoác trước nay phần phật những ngọn gió chướng bắc phương, giờ ấm êm giai điệu vu vơ. Hoa cúc trước ngõ càng ngày càng rộ những cánh vàng nhói tim. Và bên trên dậu hoàng cúc ấy, bóng Thái Sơn đôi lần thoáng hiện, nhưng ngọn Núi Lớn nặng chịch ấy càng ngày càng nhẹ, càng chao, và tới lúc e chừng còn nhẹ hơn lông vịt, đành lẳng lặng lặn hút vào Không2.

Ðời vui, đương nhiên là thơ ra đời, là nhạc xuống thế. Những Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Hoàng Cầm… chen nhau xúi quẩy, những Ðoàn Chuẩn – Từ Linh, những Cung Tiến, những Trịnh Công Sơn… hùa bầy bày bậy. Cung đàn cầm, giòng thơ phú hằng đêm rạt rào tuôn trào trên những tờ hoa mộng cho đến ngày bọn bành trước Bắc Kinh gián tiếp phá bỉnh, vì nhà nước ở huyện Sầm Than lợi dụng dịp tốt ấy đột xuất lục soát nhà xứ Thuần Nghĩa.

Hôm ấy, thầy, sau lễ sáng, đang vui vẻ cho vịt ăn, thấy mấy chiếc xe bọn lính khố vàng ập tới. Thấy sự chẳng lành, thầy lẻn vào phòng mình lấy những tờ thư giáo cấm lẫn quốc cấm, vào nhà tiêu đốt. Nhưng đối với đám trảo nha của triều đình XHCNVN, ngoài chuyện vốn tốt nghiệp ưu hạng trường đại bợm KGB5, còn ô nhiễm nặng cái nham hiểm của đám bần cố nông đất cày lên sỏi đá Nghệ Ti~nh và đồng chua Bắc Bộ, thì cái cơ mưu của thầy Thanh chỉ là trò hề con nít. Thầy lúùi húi đốt những bản nhạc, những tập thơ gần xong, nhưng vừa khi thầy vội vã đưa chân đùa những mảnh còn cháy dở vào xố xí, mấy tay khuyển ưng đạp tung cửa hố xí, và bắt quả tang, tri hô thầy đốt “tài liệu mật” và đang cố phi tang. Họ chẳng thèm móc những mảnh cháy giấy cháy dở ra hầu làm bằng, cho bẩn tay, vì mục đích của buổi khám xét hôm đó, chẳng có chút gì liên hệ tới chuyện chính chị chính em, Bắc Kinh bành trướng hay là phản động chống phá cách mạng gì ráo, mà liên can tới mấy chục mẫu mía mầu mỡ ông cha xứ khăng khăng không nhượng lại cho chính quyền nhân dân huyện, và ông có giấy tờ chứng minh đó là tài sản của Giáo hội. Họ đã thành công ngay phút đầu, khi họ tìm ra trong nháy mắt mấy chục quả lựu đạn sét vùi dưới ao cá của nhà xứ. Giờ lại vồ thêm được ông thầy giảng đang đốt “tài liệu mật”. Và họ cần chụp  ảnh  làm bằng. Thế là thầy bị lôi đến cạnh chuồng vịt, bắt đốt một mớ giấy lộn cho cán bộ nhà nước chụp ảnh làm tang chứng như họ muốn. Ðàn vịt kêu oang oác. “Ðéo mẹ, vịt này mà tiết canh thi` ngọt hết y’!”  “Chút húng lìu, lại thêm một dúm lạc rang, ngon đếch chịu được!”  “Thêm một chai quốc lủi nữa thì chỉ có nước lên tiên.” Bầy vịt nhốn nháo. Thầy Thanh bị còng dẫn ra ngõ, bầy vịt lại càng nhốn nháo. Thầy bị giải lên ngục huyện Sầm Than. Nghe như có tiếng vịt kêu sau lưng, thầy quay lại. Một tay trảo nha áp tải quát, xử dụng cả điển tích trong Kinh Thánh: “Chớ có quay lại mà thành tượng muối đó nghe chưa!”6, rồi hằm hằm cái mặt ra điều con nhà kách mệnh trí thức cùng mình. Thầy ngạc nhiên về lời mắng đầy chữ nghĩa nhà đạo của tay móng vuốt triều đình vô đạo, nhưng thầy còn ngạc nhiên hơn khi thấy đàn vịt trắng bay theo thầy, thành hàng, kêu da diết tựa đàn chim thiên di lộn mùa, như thể nơi đây đông giá đã tràn về; và thầy Thanh càng nhạc nhiên hơn nữa, vì thầy nhận ra ngay chúng là vịt của thầy mua của cô nhỏ lương dân, vàø thầy đã nuôi cả mấy năm nay, mà thầy đã quen nết, quen cả tiếng chúng kêu, tiếng kêu như tiếng đời giản dị ngõ sương sáng xuân xưa. Cứ mặc cho cái anh lính khố vàng mắng, thầy vẫn cứ quay lại nhìn đàn vịt. Cũng đến lúc có lẽ thấy cái quát mắng vô duyên của mình, anh lính khố vàng đó đâm nói không không: “Cái giống vịt giời trong Nam sao còn nhiều thế nhỉ? Ngoài Bắc không còn lấy một mống gọi là. Ngứa máu, tớ những muốn quạt cho một tràng.” Nhưng đàn vịt vẫn bay theo thầy tới tối, cho tới cửa ngục huyện, đoạn chúng bay vòng, và từ trên ấy thả xuống thứ chi tựa những chùm lông trắng nõn, đoạn đồng loạt kêu một tiếng dài trường giang sầu điệp điệp rồi nối đuôi nhau xuôi về Ðông trông như một dải khăn tang vật vờ giữa biển trời hoàng hôn.

Thầy bị đưa đi tù 10 năm với cái án vớ vẩn “âm mưu tiếp tay địch chống phá cách mạng”. Những khốn khó của người tù vì cái hung hãn mãnh thú, vì cái nham hiểm vô nhân của nhà nước nhân dân, đã được kể lại tỉ mỉ trong nhiều thiên hồi ký viết ở hải ngoại, nhưng có mấy chi tiết về cái khốn khó đặc biệt của thầy Thanh, tôi nghĩ kể ra đây cho qúi độc giả xem cũng không phải là thừa.

Số là trong trại tù, có một hai linh mục Công giáo, và không biết ai, vào dịp Tết năm 198…,  đã bí mật đưa được một số bánh thánh đến tay các linh mục ấy. Và với thiên chức tư tế của mình, các vị làm phép biến những chiếc bánh bột mì đó thành Mình Thánh Chúa Kitô một cách dễ dàng. Các tù Công giáo bấy lâu thiếu thốn đủ thứ, nay dịp Tết, được Mình Thánh Chúa như Của Ăn Ðàng, lòng quả thật được an ủi rất nhiều, có lẽ chỉ thua những bị lác thăm nuôi. Nhưng, dù Mình Thánh Chúa chỉ được phân phát cho những người mà các kẻ tổ chức cho là đáng tin cậy nhất, vụ trao Mình Thánh Chúa lậu vẫn bị lộ và nổ ra như một vụ phản động lớn ngay trong trại tù. Những người liên can đều bị biệt giam ăn cháo lỏng, bị cùm các kiểu cùm dành cho các nô lệ da đen cách đây cả trăm năm, và những hình phạt kinh khiếp khác, dành cho “những tên được nhà nước khoan hồng cho đi cải tạo mà con bày trò tuyên truyền tôn giáo phản động”.

Thầy Thanh là kẻ bị tống vào biệt giam trước tiên, dù trước khi nổ ra sự vụ, khi được các người chủ chốt rỉ tai về sự vụ, thầy đã gạt ngang: Không cần phải chịu Mình Thánh Chúa mới được Chúa thương. Chúa không muốn ai phải thiệt hại. Chúa không muốn ai chết. Vì Chúa. Chắc chắn là như thế. Và lộ là cái chắc. Và sẽ gây tai hại không biết đâu mà lường cho nhiều người, trong khi những liều lĩnh hi sinh như thế quả thật không cần thiết. Con người hay gắn cho các Ðấng Cõi Trên của các tôn giáo những thuộc tính quái gơ?õ, rồi khơi khơi nhân danh các Ðấng ấy hối thúc kẻ khác làm những việc quái gơ?õ tương ứng, mà họ cứ ngỡ đó là những chuyện anh hùng. Và các Ðấng vẫn im tiếng; và những con người ấy được thể cứ thế làm tới. Ðây là một sự lạ trên hết mọi sự lạ7.

Vậy mà khi bại lộ thầy Thanh lại là người đầu tiên bị tống vào biệt giam như là người chủ chốt số một. Khi tất cả những người khác trong sự vụ được thả ra khỏi biệt giam, thầy vẫn bị giam. Giam lâu. Giam lâu quá, thầy bị điên. Thầy không nguyền rủa ai, cũng chẳng kêu van cán bộ này nọ; thầy chỉ kêu gào, gào một câu duy nhất: “Hãy cho tôi một chút hơi ấm. Hãy cho tôi một chút hơi ấm.” Mấy tên trảo nha canh ngục, nghe thế cười to: “Ðéo mẹ, cái giống nhà tu mà còn đòi hơi ấm hơi iếc con mẹ đĩ!” Tôi, kẻ kể chuyện này, lúc ấy nằm ở dãy D gần khu biệt giam, nghe thầy gào vẫn cứ ngờ ngợ sao thầy Thanh không thêm hai chu+~  “Tình Người” thời thượng đầy dẫy trong các bài du ca, các bài hát sinh hoạt đoàn thể ngày trước, thành “hơi ấm Tình Người” vào câu gào cho ra cái vẻ nhân bản. Tôi đem cái ý ấy hỏi đại úy Long nằm cạnh. Ông đại úy, vốn trước có học mấy năm triết ở đại học Văn Khoa, mỉm cười: “Tôi nghĩ ông thầy giảng chọn chữ vừa đúng như ông ấy muốn. Không thừa không thiếu.”

Rồi ông thầy giảng Thanh chết gục trong biệt giam.

Ðêm cuối cùng, trước khi tắt thở, thầy kêu: “Ôi lạnh quá, lạnh quá, vịt tôi đâu, hơi ấm tôi đâu!”   Khi có người bị biệt giam phòng cạnh phòng thầy được thả ra, kể lại như thế cho ông đại úy và tôi nghe, ông đại úy bĩu môi: “Trời Ðất, vậy mà lâu nay tôi cứ dùng chủ đề cô đơn của phận người trong triết học hiện sinh ra mà phân tích câu than của ông thầy Thanh! Hóa ra anh chàng lên cơn điên, gào bậy gào bạ, chơ có gì sâu xa đâu!”

Truyện kể tới đây là hết, và truyện đã được đăng cách đây 5 năm, trên tạp chí Gió Nồm, báo một năm ra hai số, lại ít độc giả nhất ở hải ngoại, vậy mà sau khi báo phát hành được mấy ngày tôi nhận được cái điện thư của một độc giả, dù bà chủ bút đoan chắc là bà không cho ai địa chỉ e-mail của tôi. Ðiện thư ấy, vào cái hồi chỉ có mấy mẫu chữ cà mèng VPS, Viscii, VNS…, chưa có VNI, nói chi đến các mẫu Unicode, vậy mà bức thư hiện ra trực tiếp ngon lành trên trang Yahoo.com/e-mail/nguyenvantha với dấu tiếng Việt rõ ràng đàng hoàng như chữ Việt của mẫu chữ Unicode-HTML ra lò chỉ mới đầu năm nay. Nội dung thư như sau:

Kính thưa ông Nguyễn Văn Thà,

Ðàn vịt ấy khi bay ra biển Ðông điệp trùng bão tố, chúng hoá thân thành một. Con vịt thành một ấy đã tự cấm cố đời mình, bởi nó đã nguyện như thế từ ngày hai mảnh đời hạnh ngộ. Ngay từø ngày ấy, nó biết nó chẳng bao giờ được chia hai cái lời lãi của cuộc đời giản dị chung đôi. Ôi, món lời lãi ấy, hoàng cúc tôi thấy đâu có gì nhiều! Ai đã tước đi những ước nguyện nhỏ ấy? Thưa đó là những vương tôn miền trí tuệ. Những vương tôn ấy, có kẻ còn say mê quyền lực, đường hoàng vấy máu. Những vương tôn ấy, có vị cứ giữ rịt Thái Sơn. Ở trong cái cõi vô tâm đã lâu, nay tôi mới thấy:

Ôi các vương tôn miền trí tuệ

Mưu đồ đo đạc cả Vô Biên

Tung ra khắp bãi thời gian lộng

Lượn lượn ưu tư khốc liệt rền

Giờ đã thượng trình im tịch diệt

Nhoà tan sắc áo bụi quan san

Ta gởi một ngày một sợi tóc

Cầu may cho trận gió kinh thiên

Có ai bên cõi vô cùng tận

Bắt gặp lòng ta bay đảo điên8

Và ông Thà cũng biết đấy: Sợi tóc nào có đáng gì so với những pho kinh điển đại ngôn các loại, lắm khi còn có súng to đạn lớn phò trì; nó làm gì gây được trận gió kinh thiên; nó cũng chẳng cách nào bay được tới trời tịnh độ; phải không ông? Trong nơi tù đày người ta hay mơ ước chập chùng như thế; xin ông thứ lỗi cho tôi!

 

Chú thích:

1Ý từ bài Mòn Gót Chân Sương Tháng Năm, thơ  của Tô Thùy Yên.//  Chinh phụ ngâm: Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao: Thái Sơn một ném nhẹ lông hồng (tên một loài nhạn).// 3Các chủng sinh Công giáo học xong lớp 12, được giám mục sở tại sai đi phục vụ trong một giáo xứ, được tôn xưng là “thầy giảng”, vừa để tập nghề, vừa để chịu thử thách. Ngoài ra, sau biến cố 75, các thầy đại chủng sinh còn được bố trí về ở các nhóm trong các xứ, như trường hợp nhân vật Thanh trong truyện.//   4Một tạp chí nông nghiệp rất giá trị trước biến cố 1975. Ngoài những bài bày cách trồng trọt, chăn nuôi, còn có những bài phóng sự đồng quê, những truyện ngắn miệt vườn rất hay.//  5Cơ quan mật vụ của Liên Sô.//  6Khi Thiên Chúa quyết định hủy diệt thành Sôđôm tội lỗi, Ngài sai Thần sứ của Ngài truyền ông Lót, cháu của ông Abram (tổ của dân Do thái), và gia đình ông, rời khỏi thành chớ có ngó lui. Nhưng khi ra khỏi thành, nghe thành cháy bởi lửa diêm sinh và lửa từ trời giáng xuống, vợ ông Lót quay lại nhìn, bà liền biến thành tượng muối. (Kinh Thánh, Sách Khởi Nguyên, chương 19). )./ Về sự hủy diệt của thành này và thành Gomora kế cận, một khoa học gia người Anh gốc Ấn (quên tên), trên đài truyền hình Discovery, sau khi khảo sát các lớp đất chuồi xuôi về Biển Ðỏ, và làm một mô hình, và làm thí nghiệm, đã đưa ra giả thuyết: Chính vì các lớp đất nơi hai thành này quá xốp, lại ở thế đất chuồi, nên một ngày bị cơn mưa lũ quá lớn, hai thành đã bị sụp và tất cả nhà cửa tàn tích đã trôi hết xuống Biển Ðỏ phía dưới, gần đó. Chỉ cần thời gian, khi vớt được các tàn tích dưới Biển Ðỏ, thời sẽ chứng minh được giả thuyết của ông, chứ không phải do lửa diêm sinh, lửa từ trời như được tường thuật lại trong Kinh Thánh.//  7Mượn lời của José Saramago, nhà văn Bồ Ðào Nha đoạt giải Nobel văn chương 1998, khi ông nhận xét về những lạm dụng Lời Chúa bởi con người. Ông có tác phẩm độc đáo liên hệ tới Kitô giáo có tựa O Evangelho segundo Jesus Cristo: Tin Mừng theo Ðức Giêsu Kitô: The Gospel according to Jesus Christ. Bản Anh văn rất giá trị do Giovanni Pontiero dịch. Bốn cuốn Tin Mừng là do thánh Mátthêu, thánh Máccô, thánh Luca, thánh Gioan viết, nhưng lần này, theo sự tưởng tượng của tác giả, là do chính Ðứùc Giêsu: Tác giả qua cuốn truyện đưa cái nhìn mới của mình về cuộc đời chúa Giêsu Kitô, dĩ nhiên đây chỉ là cái nhìn của một nhà văn thế tục.//  8Trích từ bài Mòn Gót Chân Sương Tháng Năm, thơ  của Tô Thùy Yên.// Oslo, 03 I 03.

 

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close