NTNV 8 : Bu Bu Woa

NTNV 8 –

Nguyễn Văn Thà

 

https://giacngo.vn/UserImages/2012/01/07/5/imageview_aspx_thumbnailid_540694.jpg

Dưới huy hiệu của các giám mục luôn luôn có câu châm ngôn tiếng La tinh để tỏ ra cái chí của mình, thường là một câu rút ra từ Kinh Thánh, ví dụ, Omnia in omnibus – Tất cả nơi mọi người, (kiểu như: Ðâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên) ; hoặc Deus caritas est – Thiên Chúa là tình yêu. Nhưng khi linh mục Harry được thông báo sẽ được phong làm giám mục kiêm tổng giám mục địa phận N, thì ông lại chọn câu Bu bu woa, đọc nghe như tiếng chủm choẹ. Vị Giáo hoàng đương kim B, vốn là bạn chí thân của linh mục Harry, hồi hai vị còn học ở thần học viện thánh Grêgôriô Cả, Rôma. Khi duyệt qua lý lịch của cha Harry, ngài OK, nhưng khi đọc tới câu châm ngôn Bu bu woa, thì ngài chẳng hiểu gì dù ngài được kể là vị Giáo hoàng thông thái; ngài thông thạo đến cả tiếng Ả rập và các phương ngữ liên hệ, huống hồ tiếng La tinh. Ngài bèn điện thoại hỏi:

– Này, anh Harry.

– Tâu đức thánh cha1, ngài có chuyện gì muốn dạy con?

– Tâu với lại trình! Chứ cái câu châm ngôn của anh gì mà lạ hoắc, tôi chẳng hiểu chút nào cả.

– Thưa đức cha thánh cha, con vẫn nhớ hồi còn học ở thần học viện Grêgôriô Cả, đề tài mà đức cha thánh cha và con vẫn hay thích tranh luận là dominium divinum2. Câu châm ngôn Bu bu woa tự nó là một phần của cảnh vực linh thiêng  của con.

– Anh cũng dư biết là khi chúng ta ở trong cương vị của một giáo sĩ, thì  mình không còn là mình nữa; mình là người của công chúng đạo cũng như đời; nhất là khi anh lại sắp làm giám mục, kiêm tổng giám mục một địa phận lớn như địa phận N !

– Sorry, con không thể làm khác đi được!

Giáo hoàng B mỉm cười, nghĩ thầm: “Cái anh cao bồi này vẫn chứng nào tật nấy!”

 

Cụ Robert nguyên là một người hay chữ bởi cụ trước có đi tu, nhưng vì trong thời gian giúp xứ người Créole3, Cajun ở tiểu bang Louisiana, cụ phải lòng một phu nhân quý phái ở đó. Tương truyền bà này có vẻ đẹp dã dượi giống như nàng Josephine, tình nhân của vua Napoléon đệ nhất, làm thầy giảng Robert chết trân. Khi nhập cuộc rồi thì ra phu nhân ấy chẳng mệt chút nào mà lại dai chẳng thua gì mây trui lửa. Dai và rối rắm.

Ôi, cái xứ Créole ấy, tuy là đất mới nhưng những ông tây bà đầm vẫn mang theo đủ mọi thứ từ mẫu quốc Phú Lang Sa sang, từ chiếc quạt lông đà điểu e ấp che những khuôn mặt ngọc cho tới những chiếc áo đầm xoè thắt lưng ong; nhũ hoa dâng hương, trắng trẻo, mịn màng, phô ra khỏi làn lụa Tô châu áng chừng hơn nửa. Ngoài ra, các ông bà ấy cũng không quên mang theo cái quan niệm gọi là danh thơm tiếng tốt mà theo họ đã làm nên cái nét văn minh đặc thù Ðại Pháp; chứ không giống như cái đám lạc chợ trôi sông Tô Cách Lan, Ái Nhĩ Lan, ấy là chưa nói tới cái giống mọi da đen.

Thầy Robert lạng quạng sao đó làm cho phu nhân Michèle, vợ yêu của một đại điền chủ trong vùng có bầu. Trong lúc bối rối một phần vì cái gọi là danh thơm tiếng tốt, một phần vì sợ phải ăn kẹo đồng, thầy Robert, nhờ sự giới thiệu của một thủy thủ lúc trước là trò giúp lễ, nhảy xuống chiếc tàu buôn nô lệ sắp sửa nhổ neo đi Phi châu.

Và thầy vượt biên, và thầy trở thành thầy ký cho tàu. Thầy là người trí thức số một trong đám thuỷ thủ, vì  không những thầy biết đọc Kinh Thánh, bản King James, cho các thủy thủ nghe trong những khi gặp nguy biến trên biển cả, mà cả những lúc bình yên gió lặng, thầy nằm phơi trên boong tàu đọc Kinh Thánh, bản Vulgata4của thánh Hiêrônimô dịch ra tiếng La tinh, cho đã. Những lúc như thế thầy cứ hít hà, như bợm rượu nhà nghèo lâu ngày uống được rượu ngon, vì lối dịch tài tình của thánh nhân và nhất là vì cái cơ cấu sít sao, chặt chẽ đến cùng cực trong cấu trúc của tiếng La tinh: Thầy là con người thích và có khiếu về ngôn ngữ.

Nghe nói trong thời gian giúp xứ người Créole vùng Lafayette, thầy đã bắt đầu ghi ghi chép chép ngôn ngữ của giống người da đỏ Pueblo trong vùng. (Thầy không bao giờ dùng từ ngữ mọi ) . Nhưng bút của thầy quờ quạng sao đó chấm nhằm bình mực tím duyên tình với nàng Michèle nên mới phải trôi nổi đến tận Phi châu, cái xứ có đến ngàn thứ tiếng mọi.

 

Bà Michèle, sau bao lần uống thuốc xổ mà thằng nhỏ vẫn thủ thành không chịu ra, đành hạ sanh một con trai. Cái đầu mới nhô ra là biết ngay thằng nhỏ giống thầy giảng Robert, vì tóc nó cũng đen như người yêu sở khanh của bà. Cái chuyện vợ ông chửa hoang làm ông Duval (quý danh của ông chủ điền ngoan đạo) ngước mặt lên không nổi, nhất là khi ông đường đường là chủ tịch hội đồng giáo xứ. Ðã thế, những cái miệng dài như miệng sếu Louisiana của mấy mụ mệnh phụ phu nhân làm ông bực bội khôn xiết. Bà trốn lên vùng Ðông Hoa Kỳ làm lại cuộc đời mới. Và hạ sanh một kiếp người mới.

Mới thế nào, cụ Duval cũng chẳng thể biết rõ, nhưng khoảng ba năm sau, có một bà vú da đen, vú to, mông bự lúc la lúc lắc chẳng khác gì mông tê giác, dẫn đến cho ông một thằng nhỏ mặt mũi, tóc tai giống y cái thằng thầy giảng khốn nạn Robert. Mụ nói là bà Michèle muốn nhờ ông nuôi giùm cậu bé vì nơi bà chủ đang làm business, ở N, cậu sống không tiện; và mụ còn đưa tấm hình bà Michèle ngày xưa chụp với ông trong hôn lễ làm bằng. Tấm hình làm ông muốn khóc, bởi dẫu sao đi nữa, ông vốn là con nhà nông bao đời tính tình hiền hậu. Nhà nông là con người ngày ngày chứng kiến không biết bao nhiêu chuyện giao tình của muôn loài: bò, gà, heo, chó… và cả những trái trăng trong vườn ngoài nội: Sinh linh không phải tự dưng mà có. Ông trân quý mọi kết quả sinh sôi. Huống hồ của con người. Sốc thì có sốc đấy, nhưng bây giờ thì thôi, ông mỉm cười đón nhận. Và ông còn mỉm cười sung sướng, không giống ai, khi ông thấy nơi thằng nhỏ một phần hình hài của người mình má ấp môi kề. “Coi kìa, đôi mắt đen láy như những đêm sao Provence, cố hương của Michèle, và cặp lông mày nguyệt quế, lắt lay như đuôi chồn hương, thì là của nàng chứ còn ai! Thôi, thì cũng qua đời nhau một lần.”  Vả lại, ông còn từng được nghe kể là cụ tổ của ông, một nhà thông thái về Bretagne ở ẩn thời Cách Mạng Pháp, nói là những tiếng như “con hoang”, “cái thứ lộn giòng” không có trong ngôn ngữ Pháp, thời dân Pháp còn là rợ Gaulois chưa chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn minh Rôma.

Thằng nhỏ, không hiểu tại sao, được ông bố dượng đặt cho cái tên Spillman. Cậu Spillman càng lớn càng bảnh, nhưng khi đến tuổi mười hai, thay vì gởi thằng nhỏ vào trường dòng để “không tu được thì cũng kiếm ba chữ”, thì papa Duval lại gởi chú nhỏ vào trường thiếu sinh quân để cho nó cứng cát con người ra, kẻo như bố nó chữ nghĩa thánh hiền bề bề mà chẳng ra cái thể thống gì cả.

Spillman mỗi ngày phải thức khuya dậy sớm vừa học chữ vừa học quân sự theo trường phái quân sự của tướng Bismack: Người sĩ quan phải văn võ toàn tài. Chẳng bao lâu cậu trở thành sinh viên sĩ quan trường đại học quân sự W lừng lẫy. Không ai bắn súng nhanh, đánh kiếm giỏi và có sức chịu đựng dẻo dai, binh thư kim cổ làu thông như Spillman. Anh làm người ta nhớ tới tướng Brian Boru, người bẻ gãy xiềng xích đám Viking từng thống trị gần hai thế kỷ cố quốc Ái Nhĩ Lan của anh (đúng ra là của bố Robert.)

Ðường đường là một sinh viên sĩ quan ưu tú, sừng sững oai phong như cây trắc bá trên ngọn Driskill Hill thì chẳng thiếu gì các tiểu thư lá ngọc cành vàng để ý. Mấy cái anh sinh viên sĩ quan cà mèng chỉ cần búng tay một cái mà đã có khối cô chạy theo, huống hồ là chàng. Ấy vậy mà chẳng có tiểu thư nào lọt được vào đôi mắt đêm sao của chàng. Tươi mát ngọt ngào, nây nẩy diệm sơn, mền mệt chết người, mọi dáng dấp, giả có thiệt có, trẻ đếm không xuể, hồi xuân lại càng không thiếu, vậy mà chẳng nường nào công phá được đồn lũy tâm tư của Spillman, và cũng không làm cho chàng nở được một nụ cười mất nết thứ thiệt mở đầu cho muôn vàn ái ân cũng như những huỷ diệt đã gài đâu từ vô thuỷ vô chung. Hay là nói như cái dân An nam: Anh chưa gặp được ý trung nhân. Phải chăng cái mối tơ-hồng-Vi-Cố mấy anh Chệt-đuôi-sam mang từ bên Tàu qua Huê Kỳ đã cột anh sĩ quan Spillman với con nhỏ ăn mày nào đó, tuy rằng tới lúc đó chưa thấy cơ sự gì xảy ra? Cũng dám có thiệt lắm chớ, vì những lần nghỉ cuối tuần, chẳng phất phơ với các cành ngọc lá vàng nào đã đành, mà cũng chẳng thấy chàng sĩ quan trẻ tuổi Spillman la cà vào các saloon5 dập dìu ong bướm như các bạn cùng khoá. Người ta chỉ thỉnh thoảng thấy chàng tàn tàn đi vào các đồn điền bông vải, thuốc lá, ngồi nhìn đám dân da đen cày sâu cuốc bẫm. Ai cũng nghĩ là chàng thích cảnh điền viên. Thế thôi.

Vốn là sĩ quan tốt nghiệp ưu hạng nên chẳng bao lâu anh nắm giữ được những chức vụ quan trọng ngành binh. Anh là người có tài bố trí và thiết kế các đồn luỹ phòng thủ chống lại các cuộc tấn công của các giống mọi da đỏ phương Nam; cho nên không lạ gì trong tất cả các tiểu bang phía Nam và Trung nước Mỹ, không sĩ quan nào rành địa hình miền Nam như chàng.

Thế rồi bang Louisiana tuyên bố nghỉ chơi với mấy tay phương Bắc, và cùng với các bang lân cận, hè nhau thành lập một liên bang miền Nam, một phần vì  quý vị người Nam văn vật, (văn vật đây phải hiểu là nhảy đầm, thụt bi gia, và ăn nhậu kiểu cách, chứ văn học nghệ thuật chẳng có cái gì đáng vễnh râu cá chốt cả!) , mà cứ bị mấy cái thằng thợ xưởng máy, phu bến tàu phương Bắc, cụ thể là cái lão gốc dân cày Lincoln sai sử hoài, nên đâm ra bực. Bực lâu đâm ra điên tiết, nhất là khi lão ta về phe bọn trí thức rỡm và mấy ông mấy bà cố đạo công bố hiến chương giải phóng nô lệ, những nô lệ mà họ đầu tư một số vốn rất lớn, thì họ bùng lên chẳng khác gì  những phọt nước nóng trong công viên quốc gia Yellowstone, bị kìm hãm cả triệu năm, nay gặp cơn địa chấn, vọt lên bất kể trời đất.

Ðể gọi là đánh dấu ngày bang Louisiana đứng lên giành quyền đàn áp nô nệ, bộ chỉ huy quân sự mới được thành lập mời một đoàn người hát rong trắng lẫn đen đến giúp vui cho binh sĩ cũ có, mới có, đa số là lính mới tổng động viên. Kể ra cái anh tham mưu trưởng cũng biết ý, vì dân nhà binh chẳng mấy ai thích mấy cái điệu valse mềm èo như những sợi spaghetti  thiu. I chà, mấy cái điệu đàn tích tình tang nhịp theo mấy điệu múa khi thì lích tích, khi thì sầm sập của đám dân hát rong mới thú làm sao! Rồi tiếng cười ròn và trong như nhạc ngựa của các nàng nghe mới rộn! Và khi các ả liếc cặp mắt u uẩn lạc loài, thì lại càng làm rợn lòng các đấng nam nhi. Không có anh nào mà lại không muốn xung phong làm hiệp sĩ. Một đêm là giá chót!

Ðêm ấy, lần đầu tiên, người ta thấy trung tá Spillman chui vào chiếc xe thổ mộ lộng lẫy, huyền hoặc, thơm hương trầm muscat. Người ta còn sửng sốt hơn ngày xưa khi biết bố của anh, ông thầy giảng râu xanh Robert, làm mệnh phụ Michèle Duval có bầu. Không phải chỉ một đêm mà hai đêm, ba đêm, bốn đêm; cuối cùng sáng thứ năm, khi đoàn người hát rong nhổ trại, chẳng thấy ngài trung tá Spillman trở lại đơn vị, trong khi tiếng đại bác của quân phương Bắc đã nghe thật gần. Miền Nam đang cần anh và ngài trung tá lại bị bùa lú ngãi mê mất rồi! – Người ta kháo nhau như vậy.  Và: “Mẹ, đéo qua đường thì còn được, ai đời lại bám theo cái giống chó cái đo”ù – Một anh tân binh Mỹ lai phán. Rồi một anh mới trốn tù vì tội hiếp dâm từ Ba lê sang, chưa có nghề ngỗng chi đăng lính bậy kiếm cơm chim gái, uốn éo giọng sang cả của thủ đô Ánh Sáng:”Hừm, tel père, tel fils!6”  (Tiếng xấu đồn nhanh mà lại!)

Các đấng mày râu chửi rủa như thế, không bằng chút bẻo mấy bà mấy cô, nhất là các tiểu thư, mấy mệnh phụ, tức chết đi được, chẳng khác gì ai đưa cứt ngựa lỏng trát vào mặt hoa da phấn của mình vậy.

 

Thời nội chiến Nam – Bắc ở Mỹ7, người ta thắc mắc không hiểu tại sao tướng Grant, người mà tổng thống Lincoln lúc đầu chỉ dám bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng đoàn quân tình nguyện ô hợp; và sau đó, y như rằng ông tướng cứ bị thua hoặc huề, ấy vậy mà chẳng bao lâu sau khi tướng Grant được cử thay thế tướng Halleck (ông này đánh đấm còn tệ gấp bội) chỉ huy mặt trận miền Tây Nam, thì tướng Grant đánh trận nào thắng trận đó. Quân đội miền Bắc khống chế được con sông huyết mạch Mississippi của cả miền Nam chạy qua Louisiana, với những trận đột kích bất ngờ và chính xác đoàn tàu chiến của miền Nam. Thủy chiến đã thế, bộ chiến quân Nam lại càng thua đậm: Louisiana bị Bắc quân thanh toán cái rụp, và chẳng bao lâu phòng tuyến Vicksburg bị bẻ gãy, rồi chỉ mấy ngày sau căn cứ phòng thủ quan yếu bậc nhất là Gettysburg cũng bị rơi vào tay Bắc quân.

Người ta đồn là công của tướng Grant thì ít mà công của một vị tướng tham mưu trẻ tuổi Sherman thì nhiều.

 

Ðức tổng giám mục Harry thời cai quản giáo phận N , dĩ nhiên ngài có quyền được ở trong toà tổng giám mục nguy nga tráng lệ cho cân xứng với cái thành phố to lớn, giàu có, bề thế nhất thế giới ấy, ấy vậy mà ngài, ngoài trừ những lúc cần thiết, chẳng mấy khi ở đó. Ngài thích ở trong một căn nhà nhỏ lợp ngói đá xám rêu phong xây9 năm trước cuộc nội chiến, (có cả niên hiệu bằng tiếng Pháp L’année 1836) , trong khu Da đen lụp xụp, thời trước là nơi ăn chơi dầy dẫy những saloon. Có kẻ cho là ngài có khuynh hướng theo phe xã hội, hay nói huỵch toẹt ra là thân cộng; mà ở nước Mỹ vào thập niên 50 úy kị mọi cái gì dính dáng tới bọn Ðỏ. Thân cộng là đồng nghĩa với phản quốc, là muốn đưa nước Mỹ, lúc đó nền kinh tế đang đạt đến độ cực thịnh, mà tổ tiên họ đã phải nằm gai nếm mật cả bốn thế kỷ mới tạo nên được, trở lại cái thời vất vả xa xưa. Những đứa như thế cần phải triệt, dĩ nhiên triệt theo kiểu Mỹ.

Dưới con mắt của ông trùm cảnh sát liên bang FBI, thì ngài tổng giám mục là một đối tượng có khuynh hướng nguy hiểm, mà đối tượng này lại ở trong một vị thế đáng gờm, thì cần phải tìm hiểu điều tra kỹ lưỡng, thật kỹ lưỡng trước khi ra tay.

Ngoài ra người ta thấy có một cái gì đó không ăn khớp trong lối sống của tổng giám mục Harry: Ngài tổng giám mục, tuy thường ở trong căn nhà xập xệ giữa cái xóm da đen nghèo khó, con mồi của chủ nghĩa Cộng sản, mà ngài lại vẫn đi Mercedes có tài xế bận lễ phục xanh, nón kết, găng tay trắng đàng hoàng. “Của chùa không đi cũng uổng!” – Ngài đã từng phán như thế khi mấy ký giả lắm chuyện hỏi móc về chiếc xe de luxe của ngài.

Chẳng lẽ ngài lại thích thú điền viên? Nói thế cũng không đúng, vì ngôi nhà chỗ ngài hay ở chỉ có một miếng vườn nhỏ đủ cho bà bõ già, người Da đen, mà ngài quý như mẹ, phơi phong quần áo, và trồng một liếp cà chua mỗi khi Hạ về, trong khi ngài chỉ cần khoát tay một cái, mấy tay ba trợn Ái Nhĩ Lan mà lúc nào cũng ngoan đạo, dâng ngay cho ngài một cơ ngơi còn khang trang gấp ngàn lần, ở Sugar Hill, nhìn xuống công viên thơ mộng Central Park.

Ngài giám đốc cảnh sát liên bang không hiểu tại sao một đối tượng không giống ai như thế mà trong tủ hồ sơ của FBI chẳng có lấy một dòng về hành trạng của ông ta. Chắc ngài giám đốc FBI tiền nhiệm lại cả tin vào các giáo sĩ Thiên chúa giáo, nhất là hàng giáo phẩm Công giáo. Cớm gộc Edgar Hoover thì không như thế. Phải điều tra, phải theo dõi, dù đối tượng là tổng thống Huê Kỳ đi nữa. Mà không có phương pháp theo dõi nào hiệu quả cho bằng nghe lén. Gì chứ nghe lén là nghề ruột của FBI.

 

Hồ Sơ Tối Mật I

(Các chi tiết về thời gian, quân số, đơn vị… của người thi hành)

Chúng tôi đã hoàn thành công tác 46WY.

Chúng tôi đã thanh sát nơi cư ngụ của đối tượng F. Harry; và ghi nhận là có các hiện vật sau đây đáng lưu ý:

  1. Một chiếc rương cũ, loại rương các thuỷ thủ thế kỷ 19 hay dùng, trong đó có đựng một bộ đồ quân phục sĩ quan quân đội phe miền Nam còn khá mới tuy một đôi chỗ còn lấm lem bùn; trên cầu vai có quân hàm trung tá. Và lớp dưới là một áo chẽn đỏ, một chiếc váy đen dài, gấu viền kim tuyến, loại y phục mà những người đàn bà hát rong hay mặc, cùng một tấm khăn bịt đầu hoa văn gồm những đường màu đỏ xanh và đen, dệt theo đường dệt hình thoi, trong khăn có gói một trái cầu pha lê, có lẽ là dụng cụ chiêm tinh bói toán của dân hát rong. (Hình đính kèm)
  2. Trên tường thấy có treo trang trọng một bức hình của tướng William T. Sherman, chụp chung với một người đàn bà da đen đang ôm hôn ông, có lẽ trong ngày quân Bắc tiến vào Louisiana. Cũng cần lưu ý là chỉ thấy mặt của tướng Sherman, còn bà da đen kia chúng tôi chỉ thấy lưng và mông. Lưng nhỏ và ngắn, nhưng mông bà thuộc loại lớn, loại mông đặc biệt của những đàn bà da đen làm lụng trong các đồn điền.

Trên bức tường phía trước bàn ăn, cũng là bàn viết của đối tượng Harry, chúng tôi thấy 23 (hai mươi ba)  phác thảo lớn bé, giấy đã ngả vàng, có hơi lem luốc và nhoè đôi chỗ, nhưng những nét phác thảo những cái mông của các người đàn bà da đen trong các tư thế đang cúi xuống làm việc: giặt quần áo, lựa lá thuốc lá, cho ngựa ăn, múc nước, hái bông vải… vẫn còn rõ.

Và đặc biệt có một bức tranh màu nước vẽ một người đàn bà da đen trần truồng100%, thân hình thon đẹp thường thấy nơi các vũ nữ, nằm trong bãi hoa anh túc, nhưng chỉ thấy mông là nhiều, trên mông có những vệt màu đỏ tươi, không biết đó là hoa anh túc vẽ theo kiểu ấn tượng hay là máu; dưới có đề chữ Wandering Black Eva8 và có chữ ký Adam S. . Bức này treo sát bức ảnh chụp tướng Sherman. Tất cả đều lộng kiếng, khung làm bằng loại gỗ trắc bá đỏ. (Các ảnh chụp đính kèm.)

 

Ký tên  và  đóng dấu

 

Hồ Sơ Tối Mật II

(Các chi tiết về thời gian, quân số, đơn vị… của người thi hành)

Băng 1:

– Thưa ngài Harry, sao ngài không dùng xúp đi kẻo nguội? Xúp cá chép, nguội, tanh lắm.

– Cảm ơn vú Rose9, tôi đang bận.

– Ôi, ngài lúc nào mà chẳng bận. Bận nhìn mông ra đường chứ gì!?

– Ừ, tôi thích nhìn ra đường mãi mà không chán, nhìn những người đàn bà Da đen. Vú biết không: Nước Mỹ phải đổ nhiều máu xương mới có được con người ngúng ngẩy hạnh phúc đến như thế; thiệt như đàn vịt bầu vừa mới tắm ao lên. Vú xem, bữa nay cái bà ở số 111, hôm nay lại còn chơi luôn chiếc váy hoa đỏ. Ðang mùa Ðông mà cứ ngỡ mùa Hạ tới nơi.

– Thì sinh thời bà cố10 Romana nói là ở Louisiana và các bang miền Nam, vào tháng này đi hát rong hoa anh túc nở khắp núi rừng mà lại.

– Dám mấy bà này tổ tiên ông bà là nô lệ dưới đó, có kẻ sợ quá trốn lên đây trước, nhưng đa số chạy lên đây cho chắc ăn, dù cả sau ngày có lệnh bãi bỏ chế độ nô lệ. Họ ăn mặc kiểu như có cái chi đó trong máu thôi thúc họ.

– Lại có chuyện lạ đó nữa sao?

– Này vú, vú nên nhớ là vú đang nói chuyện với tổng giám mục thành phố N và là người thông minh nhất nước Mỹ đó nghe chưa!

– Thôi, mời ngài tổng giám mục dùng xúp cá chép đi kẻo nguội.

– Rột… Rột… Chà, tiêu cay đã quá!

 

Băng 2:

– Kính chào ngài.

– Không dám. Thế… anh từ nửa trái địa cầu bên kia tới đây thăm kẻ hèn này có chuyện gì vậy?

– Dạ, ngài tổng giám mục dạy quá lời. Thực sự con chỉ là một công dân bình thường của nước Ðại Nhiệt, nhưng hiện tại con đang ở N này.

– Vậy anh làm cái gì ở thành phố này?

– Dạ, con chỉ bán sâm.

– Thế… anh đi đến đây nhằm giới thiệu sâm củ với tôi?

– Nói thiệt… con là một người Ðại Nhiệt… yêu nước.

(Có tiếng ngáp)

– Vậy anh là Cộng sản… ?

– Dạ…

– Cộng sản anh nào cũng như anh nấy, từ Ðông sang Tây, đều bô bô xưng mình là kẻ yêu nước. (Giọng hơi lớn)

– Dạ, chúng con là những kẻ yêu nước thực sự, như…

– …như bác của các anh, trước đây còn có cái tên Người Yêu Nước.

– Dạ, đúng vậy! Chủ tịch Kim Nhật, alias Người Yêu Nước, có lời hỏi thăm sức khỏe ngài tổng giám mục. Chủ tịch đánh giá cao tấm lòng hướng về giai cấp vô sản của ngài.

– Ủa, anh nói cái gì vậy? (có tiếng hắt xì) – Tôi có quen biết gì bác của anh đâu mà bác anh lại hỏi thăm; và tôi có làm gì đâu mà bác anh đánh giá cao với lại đánh giá thấp?

– Nội chuyện ngài không ở trong tư dinh tổng giám mục mà lại về sống với giai cấp lao động ở khu này là một bằng chứng hùng hồn tấm lòng mang tính vô sản của ngài, làm cho…

– Giai cấp lao động, vô sản!? Dân Da đen ở cái khu Harlem này đa số lười chảy thây. Lười thì vô sản thì cũng đáng. Họ cứ nghĩ được giải phóng khỏi ách nô lệ có nghĩa là bước vào thiên đàng cỗ bàn dọn sẵn. Nhưng dân Da đen ở đây dẫu gì cũng còn sung sướng chán, sướng gấp mấy lần cái dân trong cái xứ gọi là thiên đàng xã hội chủ nghĩa Liên Xô… Rồi cái chuyện vì sao tôi ở đây… là chuyện tôi chẳng cần nói với anh. Tại sao cái Nhà nước Cộng sản các anh cứ hay thọc mũi vào cuộc đời người khác thế nhỉ?

(Có tiếng nuốt nước bọt và tiếng phì phò.)

– Ngài nghĩ thế nào về cuộc chiến Ðại Nhiệt.

– Anh muốn gì? Muốn tôi kết án phe miền Nam Ðại Nhiệt, tuyên bố ủng hộ phe miền Bắc trước báo chí thế giới chắc! Không bao giờ!

– Tùy ngài… nhưng…  không biết cái khẩu hiệu Bu Bu Woa của ngài có nghĩa là gì đấy ạ?

– Kiểu này là Ðảng của anh giao cho anh phải hỏi cho hết, cho đúng chỉ tiêu, đúng không?

– ……

– Còn lâu… Hồi làm tuyên úy  ở mặt trận Bá Linh, tôi đã thấy cái bộ mặt thú dữ của bọn Hồng quân Cộng sản như các anh ra sao rồi.

– Ðéo mẹ, cái thứ ba đời hủ hoá phản động. (Câu này lầm bầm bằng tiếng Ðại Nhiệt.)

(Có tiếng mở cửa, tiếng chân lệt xệt đi vào)

– Ngài nói hôm nay ngài còn tính đi thăm mộ bà cố?

– Ðúng vậy, nhưng tiện thể vú đưa  cái anh này ra cửa dùm tôi. Cảm ơn anh dã đến vấn an tôi. Tôi đang bận.

– Cái giống con cháu bọn Tú Bà đĩ rạc mà cứ to họng! Rồi sẽ biết tay chúng ông! (Lầm bầm bằng tiếng Ðại Nhiệt)

– Xin chào ông. Chúc ông đi bằng an. (Tiếng bà già)

(Yên lặng khoảng hai phút.) (Tiếng của đối tượng Harry. )

– Bực hết sức! Mấy trự trong đoàn đại biểu Xô Viết ở Liên Hiệp Quốc lại nói với tôi anh ta là nhân viên cao cấp của chính phủ Bắc Ðại Nhiệt. Tôi tiếp để xem coi thử… Rõ ràng là anh ta muốn móc nối tôi. Một lời tuyên bố của tôi chỉ cần nửa nạc nửa mỡ cũng làm cho cán cân quân sự lệch hẳn về phe Cộng sản… Tuy sợ ông cớm gộc Edgar Hoover  làm bể mánh, tôi cũng cứ liều, biết đâu tôi lại có cơ hội giúp cho đôi bên ngồi vào bàn thương thuyết. Là người Mỹ, tôi biết cái cảnh nội chiến nó bi thương, phi lý đến kinh hoàng như thế nào, vậy mà gặp cái mặt anh ta là tôi lại nổi máu cao bồi ngay. Giá mà tôi mềm dẻo một chút… Chậc, mà nghĩ lại, dù mềm dẻo cách mấy đi nữa cũng chẳng đi tới đâu! Chúng sai anh ta đến cũng chỉ để muốn lợi dụng tôi thôi…

Nói cho cùng cuộc chiến tuy chỉ xảy ra ở bán đảo Ðại Nhiệt, nhưng là một thế cờ đã được Cộng sản quốc tế hoạch địch. Bác Kim Nhật của chúng nó chỉ là một kẻ thi hành; hoặc ông ấy chỉ là một thằng mù mà dám cầm dao sắc. Ông chỉ mới đọc mấy trang luận cương về vấn đề giải phóng các thuộc địa của gã xốc nổi Lênin mà đã cảm động quá chừng chừng, rồi ôm ngay cả một hệ thống triết học mà chính lão chắc cũng chẳng biết rõ hơn một thằng cu xứ Củ Sâm bao nhiêu11, bắt cả một dân tộc phải theo. Thiệt là gan cùng mình! Gan thì cũng chẳng gan gì, dân chết chứ lão có chết đâu!  Hoặc giả… cái lão nhà quê, mà bọn họ một bác hai bác đó, bị kẹt mất rồi! Dù có hối cũng không kịp. Kiểu “Phóng lao thì phải theo lao.” Gì mà kì cục vậy!? Quay lại chẳng có gì xấu hổ cả, nhất là trong những chuyện liên hệ tới vận mệnh cả một dân tộc. Ôi, cái đức khiêm nhường quan trọng quá sức tưởng tượng mà người ta nào có để ý! Biết bao nhiêu tang thương đổ nát cũng vì người ta không quan tâm bồi đắp đức tính đó. Cái lão Kim Nhật ấy, nghe nói ông ta là con của một nhà Nho, thông thạo chữ Hán, mà chẳng lẽ không biết tới cái đức cha Khiêm của Khổng Tử, cái chữ Nhu, chữ Thối Tàng của Lão Tử. Hay là ông ta chỉ biết lỏm bỏm đôi câu mà đã khoe mẽ có kỹ thuật, hoặc là lão chỉ là một “học giả gáy sách” .

Thiệt tội cho cái đất nước nhỏ bé Ðại Nhiệt! Nghe giám mục K. , hồi học ở Rôma với tôi, nói là lịch sử thành văn của nước ông chỉ có trên dưới ngàn năm, mà khi thì bị nô lệ ngoại bang khi thì nội chiến, khi thì loạn này loạn nọ, thanh bình chẳng được bao năm… Cũng thiệt thương cho tổng thống Phác Chính hôm từ bên nhà dòng Maryhill qua đây thăm tôi. Mặt ông ta lúc nào cũng cứ trầm ngâm… Khi nhìn lên mấy bức tranh, chẳng nói gì, đã thế khi nhìn lên câu châm ngôn lạ đời của tôi ông cũng chẳng hỏi han chi. Chắc ông ấy có được cái lễ nghĩa của dân tộc Ðại Nhiệt chính thống cộng thêm cái savoir-vivre12của xứ Pháp. Một sự hài hoà tuyệt đẹp.

Mấy tay tổ phương Ðông là những kẻ đáng gờm. (Yên lặng khoảng 30 giây).

Mà không biết anh em ông Phác Chính làm gì bển mà để cho mấy tu sĩ đạo Lá Bối và các bổn đạo của họ biểu tình hà rầm. Ôi, mấy vị tu hành, kể cả tôi, chuyện đạo thì hay, chuyện đời thường thì ngờ nghệch như con nít, ấy vậy thiện nam tín nữ lại thích nghe lời các vị ấy; làm như hễ tu hành là thông biết mọi sự, kể cả chuyện trần gian!

 

Băng 3:

–  Vú Rose ơi!

–  Ngài cần gì,  thưa ngài?

–  Có cái này hay lắm. Thư của tổng thống Phác Chính của nước Nam Ðại Nhiệt mới gởi sang.

– Có phải cái ông mủm mỉm dễ thương người Ðại Nhiệt hồi…

– Ừ, đúng rồi.

– Chà, nhìn cái tướng mủm mỉm hiền lành của ổng hồi ấy thì cũng đủ biết ngày xưa nhỏng nhẻo mẹ phải biết! Mà ngài đọc thư cho vú nghe với.

– Hm…chuyện riêng tư… nhưng, thôi, đọc cho vú nghe cũng chẳng sao!

Trọng kính đức cha13,

Kính mong đức cha vẫn bình an… Thật là may mắn cho con được một người cha linh hồn như đức cha để mà giải bày nỗi lòng.

Nước con đang độ rối ren quá. Vừa mới lo xong vụ Bình Giang, Hoà Hiếu, thì lại đến đạo Lá Bối.

Trong một số trường hợp, vì những xử sự thiếu khôn ngoan do chính con; hoặc từ phía chính phủ, từ chính quyền các cấp đối với một số nhóm, đối với một vài chùa chiền của giáo hội Lá Bối; và đôi khi cũng vì những cái nhìn đầy thiên kiến mang tính bè phái của chính họ; cộng với chuyện bọn Cộng sản và các thế lực bên ngoài lợi dụng cơ hội tốt giật dây; người của đạo Lá Bối đang ngấm ngầm toan tính những cuộc biểu tình lớn. Con e rằng tình hình sắp bùng nổ lớn. Dám máu lại đổ. Nhiều lúc con cứ nghĩ quẩn là mình có tội với lịch sử dân tộc mình, khi mình làm tổng thống nước Nam Ðại Nhiệt mà lại có đạo. Nhưng con nghĩ dù con là tín đồ Lá Bối đi nữa thì bọn Cộng sản và thế lực bên  ngoài vẫn tìm cách này cách khác xách động đám đông vốn còn ấu trỉ mê muội về đường chính trị chống lại chính phủ và con, những người bao giờ cũng kiên quyết không để cho con dân nước mình sa vào hố diệt vong của Cộng sản.

Và giả sử dù con có độc tài thối nát, ngả theo Kitô giáo, như các thế lực đối lập nói đi nữa, thì cũng không thể tai hại cho bằng đất nước chúng con bao gồm con dân theo đạo Lá Bối, đạo Kitô… lại bị cai trị bởi đảng Cộng sản. Chẳng lẽ các vị lãnh đạo tinh thần của đạo Lá Bối không biết đến cái  nguyên tắc “Khi phải chọn giữa hai cái xấu, thì nên chọn cái ít xấu hơn.” Hay là các vị ấy không rành chuyện chính trị mà lại đi làm việc chính trị trong một tình thế mỏng dòn như lúc này? “Ðập chuột coi chừng bể chén kiểu!” – Nước con  có câu tục ngữ như thế. Và bọn Cộng sản và các thế lực bên ngoài thế nào mà chẳng lợi dụng cái điểm tế nhị nhất nơi người Ðại Nhiệt chúng con, đó là vấn đề tôn giáo!

Lại còn thêm vụ nhà văn uy tín số một của Ðại Nhiệt đương thời tên là Lý Nhất vừa tự tử. Ông và các đồng chí của đảng ông ta bị nghi ngờ là có tham gia vào một âm mưu lật đổ một chính phủ hợp hiến, hợp pháp mà con là thủ lãnh, thì dựa trên luật pháp, ông ta phải chịu điều tra xét xử, phải trái cho rõ ràng, nếu không thì còn gì là kỷ cương của một nước, một nước còn trong thời kỳ dựng nước với muôn vàn khó khăn. Nhưng trong chính phủ đã bàn bạc với nhau: Thôi, trong hai cái xấu thì nên chọn cái ít xấu hơn, nhất là vào lúc này.

Con đã ra lệnh không bắt giam để điều tra ông ta. Ðành chịu mang tiếng là một chính phủ không có kỷ cương, và phải chịu những hậu quả của một cái tai tiếng như thế, còn hơn là để cho bọn Cộng sản lợi dụng tuyên truyền là chúng con đàn áp giới cầm bút. Và báo chí quốc tế lại hay nhạy cảm cái vụ này, (vì họ cũng cầm bút mà lại!) , và cộng vào chuyện ông ta cũng là một người theo đạo Lá Bối, thì hậu quả sẽ khôn lường, vậy mà ông ta vẫn, và  lựa vào cái thời điểm này, mà đi tự tử, và để lại một lá thư tuyệt mệnh ngắn: “Ðời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xét xử tôi cả. Sự bắt bớ và sự xử tội các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng nề sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự huỷ mình như nhà sư Quảng Ðại tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.”  Ðức cha cũng thấy đó: Lời lẽ thiệt chẳng khác gì khẩu khí của nhân vật Tom Sawyer13 trong truyện của Mark Twain!

Và đức cha cũng thấy: Chỉ cần dùng những quy tắc của luận lý học sơ đẳng ra mà phân tích, thì thấy những lời di chúc trên kia của ông Lý Nhất đầy mâu thuẫn, luẩn quẩn, nặng chữ nghĩa văn hoa, mang tính cách khoả lấp. Mâu thuẫn ở chỗ: Ðã lo mất nước vào tay Cộng sản, mà lại thực thi một hành vi chỉ mang lại thêm sự chia rẽ, chia rẽ trong một thời điểm ngặt nghèo như thế. Có Thiên thời, địa lợi để xây dựng nước, nhưng cũng có loại Thiên thời, địa lợi để hại nước. Và giòng nước lũ sắp phá vỡ đê nhận chìm mọi thứ, mà cứ lo cãi nhau chuyện chiếu trên chiếu dưới, chuyện chuông thanh chuông rè. Chắn được giòng nước lũ, rồi cãi sau, chứ đâu có muộn.

Rồi, tại sao ông Lý Nhất lại còn vin vào hành vi tự sát của Thích Quảng Ðại để thi hành một hành vi tự sát mang tính chính trị, hay nói cách khác, ông ta là một nhà chính trị mà chẳng xác định rõ được cái raison d’être14 cho chính hành vi chính trị của mình, như một người làm chính trị thứ thiệt, chưa nói là như một nhà chính trị có ý định xây dựng nền dân chủ. Qua hành vi này, ông ta chứng tỏ ông chẳng xứng đáng để làm chính trị. (Lý chứng này sẽ được bổ túc ở phần sau lá thư.)

Hay là ông vụng tính: Ông không ngờ chính phủ đã đi một nước cờ cao là không bắt ông, trong khi ông cứ tưởng ông sẽ bị bắt và ông nhân đó có cơ hội để tố cáo chính phủ mà ông không ưa đã đàn áp ông, một nhà văn tăm tiếng; chính phủ ấy chỉ đem ông ra xét xử theo những nguyên tắc của một nước dựa trên pháp trị, mà qua đó, nếu ông ta cho là ông bị xử sai, ông có quyền kháng án, hoặc nếu cần, kháng án đến cả toà án quốc tế? Trước một viễn tượng quang minh chính đại như thế, thấy không ổn, nên ông tự tử trước khi bị xét xử để gỡ gạc một chút thanh danh?

Hay là  ông tự tử vì những bế tắc, những động cơ nào khác, những động cơ nhiều lúc chẳng cao trọng gì?

Ông ấy, cũng như phe cánh của ông gồm các nhà văn nhà báo và những người có hoạt động chính trị tài tử di cư từ miền Bắc vào, họ cứ nghĩ mình là đáng trọng, đáng được sung vào các chức vụ trong chính phủ.

“I do my best.” , “I’ll try.”15 là những câu thật khiêm tốn mà người Mỹ hay nói. Giá mà ông ta vẫn cứ khiêm tốn làm cái công việc ông ta có khả năng nhất là văn học, thì lợi ích cho dân tộc chúng con biết mấy! Và cho dù ông ấy có khả năng trị nước thực sự đi nữa mà chúng con sơ sót không mời, thì tại sao ông ta không xuất xử hành tàng như bao vị nho sĩ tiền nhân của chúng con, mà lại hậm hực, rồi làm cái điều tai hại cho cả dân tộc đến như vậy. Ở nước Mỹ của đức cha, chẳng thấy vị tổng thống nào mời Mark Twain, hay Walt Whitman chẳng hạn, hay những văn sĩ hiện đại tiếng tăm lẫy lừng như Ernest Hemingway, Willam Faulkner ra làm việc trong chính phủ; và dù có mời, thì lại bị các ông ấy cười cho.

Nhưng chúng con chẳng sơ sót khi quyết định không mời ông ấy tham gia chính phủ đâu, vì ngoài lý do vừa nêu, còn có những lý do quan trọng mang tính quyết định sau đây:

Trước hết, chắc đức cha cũng đã biết rõ lịch sử hiện đại của nước Ðại Nhiệt. Ông Lý Nhất mười lăm năm trước đây đã tham gia, làm bộ trưởng ngoại giao, trong chính phủ liên hiệp kháng chiến do ông Kim Nhật, một đảng viên Cộng sản quốc tế kỳ cựu, thành lập và lãnh đạo. Một người có kiến thức chính trị trung bình cũng phải nhận ra rằng đó chẳng qua chỉ là một thế cờ ảo, một lối đánh lừa nhân dân trong nước cũng như quốc tế. Vậy mà ông Lý Nhất vẫn cứ tham gia. Có phải vì ông ta ấu trĩ trong chính trị, hay là vì lý do nào khác?

(Ở trong nước Mỹ của đức cha, nơi mà đã có một cơ chế dân chủ pháp trị rõ ràng, vững chắc, thế mà chẳng có ông tổng thống đảng Cộng hoà nào lại đi chọn một người đảng Dân chủ vào nắm chức vụ quan trọng cả, và ngược lại; huống hồ là nước Nam Ðại Nhiệt đang còn trong thời kỳ phải gọi là thời kỳ dựng nước, đầy tao loạn, với muôn ngàn áp lực trong nước, ngoài nước, làm sao chúng con có thể dùng một kẻ “chiêu hồi” nguy hiểm như ông ấy được?)

Thế rồi, lúc đó, đến một giai đoạn ông Lý Nhất thấy rằng ông Kim Nhật không còn cần ông và các chính khách khác không cùng đảng phái với đảng Cộng sản, (lúc ấy vẫn lật luờng dưới danh hiệu là đảng Lao động), ông Lý Nhất lại gởi một lá đơn từ chức, (xin đức cha đọc bản chụp của tài liệu đó bằng tiếng Ðại Nhiệt đính kèm và bản dịch) , mà lời lẽ rõ ràng là của một kẻ theo thời, và khi không còn thời để theo, thì lại chơi nước cờ trội: Trước khi rút lui, ông Lý Nhất đánh tiếng là ông rút lui vì ông ta không đồng chính kiến với ông Kim Nhật. Trong khi các vị ngự sử và cả các quan lại khác, tiền nhân chúng con, khi thấy các vị thiên tử trở thành hôn quân vô đạo, các cụ khẳng khái điều trần can gián rõ ràng điều một điều hai, dù biết rằng khi làm như thế mình sẽ có nguy cơ bị xử tử.

Nhưng ông Lý Nhất lại viết trong thư như sau:

“Tôi tự xét bất tài bất lực tự không thể đảm đương bộ ngoại giao…” 

Ðúng là một lối khẩu khí hèn nhát trước một bạo chúa, của một kẻ tham sanh uý tử. Ông ta biết mình kém khả năng, thế thì tại sao lại tham gia? Một khi đã tham gia mà thấy ông Kim Nhật và phe Cộng sản rắp tâm hại dân hại nước, tại sao ông lại không thẳng thắn vạch ra những điểm sai lầm?

Rồi còn: “Tôi đề nghị ngài chủ tịch kiêm chức bộ trưởng ngoại giao hay một người trung lập nào khác.” 

Chủ-nhân-ông Kim Nhật sắp tống cổ đứa ở Lý Nhất ra khỏi nhà mà Lý Nhất vẫn còn rán bày khôn cho chủ-nhân-ông; hay lại là một lối nói vớt vát danh dự với người đương thời và với hậu thế, mà ông cứ tưởng sẽ mãi mãi tối mắt tôn vinh ông ta?

Rồi lại: “Việc làm của tôi chỉ là một việc tư riêng, không có liên can gì đến sự liên kết của các đảng phái.” 

Vào giữa một thời kỳ sinh tử của một dân tộc mà ông vẫn viện dẫn cái tôi tư riêng của ông – như ông cũng dã viện dẫn một loại “cái tôi tư riêng” khác lớn hơn, đó là đạo pháp, khi ông bắt chước hành động tự thiêu của Thích Quảng Ðại. Ngoài ra, tính chất vuốt đuôi của hành vi tự sát như thế chứng tỏ ông không có tư cách của một người làm chính trị đúng nghĩa – để biện chính cho một hành vi có tầm ảnh hưởng đến quốc gia dân tộc. Ông ta chỉ là một kẻ ích kỷ và là một kẻ giảo hoạt, trốn chạy khỏi cái chết mà vẫn cố khoác cho mình một lớp hào quang.

Ấy là chưa nói đến chuyện khả năng và đường hướng văn chương của ông Lý Nhất và văn đoàn mà ông ta lãnh đạo đang bị những tài năng trẻ, được trang bị bằng những giòng văn chương hiện đại và những luồng tư tưởng mới, đẩy ông và văn đoàn của ông vào bóng tối; một bóng tối cần thiết cho những tiến bộ tất yếu trong tiến trình văn minh hoá con người nói chung, và văn học nói riêng.

Như con đã nói ở trên, chính phủ chúng con đã để cho ông Lý Nhất sống yên ổn, ấy vậy mà ông ta lại đi tự tử; và trước khi chết lại cố ý gởi lại lời di chúc như trên, di chúc ấy là một lời ông ta tuyên bố tự cho mình là ở trên pháp luật, mang tính chất lấn lướt và lợi dụng lòng Nhân của chính phủ, (vào một thời kỳ tao loạn chẳng dễ gì mà thực hiện chữ Nhân,) và lạm dụng lòng kính trọng của chính phủ đối với ông về mặt văn học.

Khốn nỗi người dân thường Ðại Nhiệt lại chuộng những lời khẩu khí có hơi hướm anh hùng như thế, mà không chịu suy nghĩ cho đến ngành đến ngọn; thế mới chết!

Cố vấn chính trị Phác Trung khi đọc bản báo cáo về cái chết của ông Lý Nhất đã thốt lên: “Có những chén thuốc độc của những chính nhân quân tử, nhưng cũng có những chén thuốc độc của những kẻ hết thời. Lịch sử của các triều César nhan nhản những kẻ như thế.”

– Có khát nước không để vú đi lấy nước cho uống!

– Không đâu!!! Và vú có biết không… mới tuần trước đây, có ông giáo sư dạy tiếng Ðại Nhiệt ở đại học Cor. đã nói với tôi là có tin đồn trong giới báo chí bên Ðại Nhiệt là cái ông văn sĩ  Lý Nhất này tự tử vì lý do riêng tư hơn là vì quốc gia đại sự… Không thấy tổng thống Phác Chính viết chuyện ấy trong thư. Có lẽ vì ông ta là con người nghiêm cẩn… Nhưng tại sao với một cái chết quan trọng mà đáng ngờ như thế lại không có một cuộc điều tra vô tư nào cả, không có một sự phân tích chuyên môn nào dựa trên khoa giảo nghiệm, luật học, tâm lý học, phân tâm học, bệnh học?… Thôi, để tôi đọc tiếp thư của tổng thống họ Phác cho vú nghe.

– Ừ! Mà ngài có khát nước không vậy, vì hồi nãy ân món gà nướng Cajun hơi mặn?

– Không đâu mà! …  Thưa đức cha, tại sao ông Lý Nhất và phe cánh của ông coi mạng đồng bào mình rẻ quá vậy, rẻ hơn cái danh, rẻ hơn một bực thang nào đó mà họ cần phải đạt được trong xã hội!?

Con không muốn đánh mất đi một thế hệ trẻ nữa, vì dân tộc chúng con buộc phải chống lại một lý thuyết huyễn hoặc, và tàn bạo, mà những người như ông Lý Nhất, vì lý do này hay lý do khác, vô tình hoặc cố ý, đang làm công việc rước cái lý thuyết kinh khủng đó vào thống trị đất nước chúng con.

Con kết luận là:

Khẩu khí của ông Lý Nhất trước khi tự tử và khẩu khí khi ông ta đệ đơn rút lui khỏi chính phủ liên hiệp kháng chiến của ông Kim Nhật thủa trước, đều dựa trên một căn nguyên: Ông ta trước sau là một người chỉ lo cho cái tôi của mình. Ông ấy dám đưa vận mệnh cả một dân tộc ra để đánh đổi, để kiếm cho mình một hư danh khi sống cũng như sau khi chết.

Ông ta bây giờ đã mồ yên mả đẹp, và được đám đông hời hợt xưng tụng như những anh hùng tiết tháo trong lịch sử của dân tộc chúng con như các cụ Hoằng Diêu, Nguyễn Tri Hướng, Phan Thanh Khê…, nhưng mồ mả của tổ tiên chúng con, của các chiến sĩ nằm xuống vì lý tưởng tự do có được yên không, hay sẽ bị cày xới?

Có tin vui cho đức cha:

Con đã thành lập được một nội các mà một số báo chí bên Âu Mỹ cho là một nội các có tiềm năng hoạt động nhất Ðông Nam Á. Tuy nhiên, con chẳng tin vào thẩm định của các ngài ký giả là bao. Người Ðại Nhiệt chúng con có câu: “Nhà báo nói láo ăn tiền:” (Có tiếng cười). Chúng con chỉ làm hết sức mình.

Và còn có chuyện này khá thú vị con kể cho đức cha nghe luôn là chú Phác Trung, em con, là người hay chữ còn hơn con nhiều vì chú đã từng đậu tiến sĩ ưu hạng ngành cổ ngữ La – Hy, đại học Cam. . Nhân bữa ăn món cháo cá chép Quảng Lộc giống như món xúp cá chép Mississippi đức cha đãi con năm nọ, con nhớ tới đức cha và nhớ luôn cái câu châm ngôn nơi huy hiệu giám mục của đức cha, con bèn kể cho chú ấy nghe và nhân đó hỏi chú ấy câu ấy có nghĩa gì. Chú cho biết chú có đọc được một bản thảo cổ viết tay bằng tiếng La tinh, lưu trử trong thư khố Vatican, do một người thầy ký tàu nô lệ tên là Robert ghi chú về các mẫu ngôn ngữ hệ Nilo – Sahara. Và trong bản thảo có ghi: Bu bu woa  chính là tiếng thét của những người da đen, người bộ lạc Fur (nay hầu như đã bị tuyệt chủng) thét lên khi họ bị bọn lái-nô-lệ da trắng nọc ra giữa trời nắng chang chang, cởi mông họ, và đánh họ bằng roi da dùng để thuần hoá ngựa; tiếng kêu đó có nghĩa là “Cha ơi! Mẹ ơi!” ; có đúng không, thưa đức cha?

Chú ấy nói các chữ khác chú ấy quên, nhưng chữ Bu bu woa chú ấy không thể quên được.

Ðức cha ơi, con không muốn dân tộc chúng con phải kêu “Bu bu woa!” thêm một lần nữa.!

 

Oslo, 25. 07. 0 2.

 

(1) Ðức cha giáo hoàng, Ðức cha thánh cha: Tiếng người Công giáo gọi vị lãnh đạo tối cao đạo Công giáo.

(2) Dominium divinum: Cảnh vực linh thiêng (tiếng La tinh)

(3) Créole: Người Mỹ gốc Pháp, cùng với người Cajun, giống dân Pháp bị trục xuất khỏi Canada, họ nói một thứ phương ngữ pha trộn giữa tiếng Anh và Pháp; có một lối sống khác với các sắc dân khác chung quanh. Vùng định cư: tiểu bang Louisiana của Mỹ (nguyên là lãnh địa của Pháp).

(4) Bản Vulgata: versio vulgata: bản thông dụng, bản dịch toàn bộ Kinh Thánh bởi thánh Hiêrônimô,(  nguyên tên La tinh là Hieronymus)   (345 – 420) , từ tiếng Do thái (Cựu ước) và tiếng Hi lạp (Tân ước) khoảng từ 382 – 402, ra tiếng La tinh, được giáo hội Công giáo dùng mãi tới nửa thế kỷ thứ 20, như là một văn bản thiêng liêng. Thế kỷ 14, 15 xuất hiện những bản dịch của giáo hội Thệ phản (protestant) ra các tiếng địa phương, nhưng bị giáo hội Công giáo phản đối, vì như thế là làm mất tính cách linh thiêng của tiếng La tinh. William Tyndale, năm 1535 bị xử tội chết vì dám cả gan dịch Kinh Thánh ra tiếng Anh./ Còn bản King James, là công trình dịch thuật Kinh Thánh của hội đồng các nhà học giả của Anh, năm 1611, theo chỉ thị của vua James I, được giáo hội Anh giáo chính thức công nhận. Ðây còn là một công trình văn chương kỳ vĩ, dù không phải là tín đồ đạo Ki tô cũng nên đọc.

(5) Saloon: quán rượu (và cũng có thể là nhà thổ) ngày xưa ở Mỹ.

(6) Tel père, tel fils (tiếng Pháp): Cha nào con nấy.

(7) Nội chiến Nam Bắc của Mỹ: (1861 – 1865); nguyên nhân: sự xung đột giữa cơ cấu kinh tế nông nghiệp miền Nam dựa trên sức lao động phần lớn của nô lệ da đen và cơ cấu kinh tế của miến Bắc dựa trên kỷ nghệ và thương mãi, không cần nô lệ; từ đó hai miền có hai quan niệm, hai ý thức hệ khác nhau về con người  nô lệ.

(8) Wandering Black Eva: Evà Da đen rong ruổi.

(9) Vú Rose: Xem phim, đọc sách Mỹ ta thấy các bà vú da đen được tôn trọng và yêu mến gần như mẹ ruột. Các cậu ấm, cô chiêu, nhiều khi đã làm ông lớn bà lớn vẫn thích tâm sự với vú, cả những việc quan trọng, vì các bà vú là những người biết lắng nghe, (và có lẽ chẳng biết gì nhiều để mà nói, mà cãi lại) . Cũng tương tự thế, trong một số trường hợp, giữa  các bà bõ và các linh mục coi xứ.

Ðức cha: Tiếng người Công giáo xưng hô các vị giám mục. / Cha linh hồn: Vị giáo sĩ  (linh mục, giám mục…)  mà các giáo sĩ, giáo dân Công giáo chọn để có tâm sự, cả những điều sâu kín nhất, hầu nhờ vị giáo sĩ đó an ủi, hoặc cho ý kiến.

(10) Bà cố: Người Công giáo hay xưng hô mẹ của một linh mục, giám mục… là bà cố

(11) Kiến thức kém cỏi về chủ nghĩa Cộng sản của các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam: xin xem cuốn Ðêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên. (Các lãnh tụ CS quốc tế khác cũng thế, NVT nhận xét)

(12) Savoir-vivre (tiếng Pháp): Phép xử thế

(13) Tom Sawyer: Nhân vật chính trong tác phẩm The adventures of Tom Sawyer  của Mark Twain (1835 – 1910), văn  sĩ Mỹ. Tính cách, ngôn ngữ của nhân vật Tom Sawyer từa tựa như thằng Vũ, Chương Còm trong các chuyện cùng tên của nhà văn Duyên Anh.

(14) Raison d’être: từ triết học: căn nguyên quyết định sự hiện hữu của một vật, một hành vi…

(15) “I do my best” (tiếng Anh): Tôi xin làm hết sức mình.  “I’ll try” (tiếng Anh): Tôi xin cố gắng

*** Gia phả (để dễ theo dõi truyện) : Robert sinh Spillman (Sherman) ? ;  và Spillman sinh Harry?

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close