NTNV 13: Ðàn Ông Là Cái Giống Ác Ðộc

Nguyễn Văn Thà

 

https://s2-ssl.dmcdn.net/MzVmh/526x297-ZVu.jpg
Một cảnh tại Trại tị nạn Đảo Bidong (Pulau Bidong)

Mỗi người có một cuộc đời, nhưng lượng thời gian trong đời mà mỗi người có được, cho chính mình, lại nhiều ít tùy theo người mình ở cùng, cái xã hội mình sống chung; và màu thời gian lại thiên hình vạn trạng.

Ðảo Bidong ngày đó có rất nhiều màu xanh: của biển, của cỏ cây nhiệt đới dư thừa nước mưa, của mênh mông gọi mời quên lãng nhưng vẫn không mênh mông đủ để nuốt đi vũng tối quá lớn của rất nhiều người. Họ đã thoáng thấy một chút màu ước vọng; nhưng màu ấy tắt ngay trong bão tố Con Tạo, hoặc bị xé tan trong điên loạn súc sanh. Họ, như hàng triệu con dân xứ Việt khác, đã trốn chạy, hầu kiếm cho mình màu cuộc đời riêng.

Nhưng rồi bao hình hài đồi nghiêng cỏ dại, cỏ dại mọc nhanh.

Và cũng nhiều thật nhiều hồn nhỏ thân kim dập vùi biển lớn, những trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới, chưa hề âu yếm ở đầu môi1.

Và có kẻ vẫn sống với vết thương của chuyến hải hành.

Vết thương thường hằn sâu.

Rất sâu.

***

Ông Chinh là một người hay chữ. Qua Na Uy đã lâu. Khi thằng con một của ông chuẩn bị vào đại học, ông bỏ gia đình ở ẩn. Ông không thể chờ được nữa. Và ông cũng chẳng cần phải chờ cho tới khi nó tốt nghiệp, vì ông đã chuẩn bị từ lâu: Dạy cho nó cách học, truyền cho nó kiến thức ông có, và cho nó đi Hướng đạo, nên nó học giỏi, tháo vát, lại biết thương người, thích làm chuyện bao đồng, những yếu tố mà ông nghĩ sẽ giúp nó thành công và hạnh phúc trong đời.

Ông lên ở cao nguyên Hadanger2, trong một nhà mát nhỏ. Ở núi không tốn nhiều, nhất là ông có thói quen ăn uống nhẹ nhàng, dưỡng sinh.

Có người nói là ông chán bà vợ nhan sắc; có người lại bảo ông là người mát giây; phần ông, ông chẳng nói gì, bởi ông kinh nghiệm phân bua rồi cũng chẳng đi tới đâu.

Thằng Phúc, con ông, sáng nay gọi điện thoại di động cho ông. Nó nói chuyện khá lâu với ông; nói về thời tiết cuối hạ tuần rồi, nắng đẹp suốt tuần ở nơi nó ở, về biển xanh và những con cá nó câu được; và cuối cùng nó báo cái tin nó quyết định sẽ qua Ðức học ngành đồ họa công nghệ ở Berlin.

Thảm thảo nguyên miền cao ông Chinh ở ẩn gồm những chòm cây thấp trăm tuổi, những tầng rêu xanh vĩnh cửu, những cụm đá lặng màu thời gian; hằng hà sa số; tất cả đều già mà không cỗi, chân như nằm đó, như sinh linh từ muôn muôn kiếp trước hội về nghe đất trời, mê quá ngồi lì, sướng quá ở luôn. Thường thì các cụ im ắng nghe đất trời, uống mật ngọt của lặng thinh, nhưng lắm lúc cũng thì thầm lời yêu mến với nhau. Không thì thầm với nhau sao được khi ta mình ken kín thế kia. Cái ken kín của dấu yêu hằng có từ thửa Nhật Nguyệt vừa về; cái chật chột ấm êm ngày Núi Sông mới tỏ. Có những hôm trời trong gió lặng, các cụ bị thinh không hoa khôi, không khí tinh ròng, thầm lặng vô tận làm cho chết trân. Nhưng đừng tưởng các cụ chỉ dẫm chân một chỗ, nằm ngơi nghỉ một nơi! Có những bữa, chỉ đợi gió lên, các cụ lại lau nhau lít nhít xôn xao chân cẳng thăm thảo nguyên, nhưng rồi giông tố, bão bùng, các cụ sững sờ với cái uy nghi trời đất, ngẩn ngơ với chớp giật mưa sa. Lại dậm chân một chỗ không chừa. Cứ đam mê chuyện trời ơi như thế nên các cụ trăm năm chưa ra xa chỗ dựa đến nửa phân. Thôi thì gởi hương cho gió. Nhắn với ai cuối nẻo cỏ hoa rằng lòng đã phụ lòng.

Hôm nay ông Chinh xuống phố mua thức ăn, mượn mấy cuốn sách, và ghé nhà người quen, mà ông mượn địa chỉ, lấy thư. Ngoài mấy cuốn báo tiếng Việt, ông còn nhận được thư của con ông, báo tin nó đã kiếm được nơi ăn chốn ở đàng hoàng ở Berlin, và kể là nó đã nấu được canh chua ngon đủ mùi đủ vị như canh tập tàng của ba Chinh, vì ở Berlin có nhiều quán Việt, quán Thổ. Ngoài ra, báo tin mẹ đã về Việt Nam, mẹ có vẻ vui và có lẽ ở bên đó lâu.

 

Cô Hồng hồn mỏng mà lại thích đọc tiểu thuyết nặng ký; thường là nặng tình duyên, tình dục. Cô yêu thầm những nhân vật nam mềm mỏng, lịch sự, cả trong lời nói cũng như trong khi làm tình. Yêu lắm mà chẳng thấy ai như thế; chỉ thấy quanh cô những người đàn ông cứng cỏi, thô lỗ, và hay văng bọt mép khi nói năng. Cha cô lại thuộc loại người như thế; làm cho cô đôi lúc đâm ra nghĩ ngợi: “Ðàn ông là cái giống ác độc như thế; không biết Trời sinh ra họ mà chi?” Cái kết luận tạm thời về đàn ông đó được củng cố thêm, khi cô, một bữa đi chơi về khuya một mình, bị một kẻ trời tối không rõ già trẻ, bụm mồm kéo vào rẫy mía cạnh đường hiếp dâm. Cô kể lại cho mẹ; mẹ kể lại cho cha, nhưng ông lại không tin cô nhỏ. Cô bị đòn nặng và bị cha chửi đồ này đồ nọ tục tĩu đến nỗi cô đã phải thét lên: “Ðàn ông là cái giống ác độc! Ðàn ông là cái giống ác độc!” Tiếng thét làm cha cô phải sững người chùn tay; như thể tiếng thét đó đã ném vào mặt ông, đại diện cho cái giống đàn ông lúc đó, một sự thật kinh hoàng bị chèn họng đã quá lâu trong đời của riêng con gái ông và trong bao thế hệ đàn bà. Ông chỉ sững, cái sững của một bạo chúa bỗng nghe được lời ngay nhưng vì thói quen đàn áp đã đâm rễ sâu, trung ngôn nghịch nhĩ lẽ thường, nên kẻ nói lời chói tai là cô Hồng chỉ chuốc đại họa vào mình: Cô bị đòn  nặng, bị chửi tục tĩu hơn nữa.

Nhưng cũng may cô không có bầu.

Chuyện cũng qua, không ai biết, ngoài cha mẹ cô, và (có lẽ) cả tên hiếp đêm. Chuyện rồi êm, nhưng lòng cô chẳng êm. Cô thù đàn ông. Tuy nhiên cô đã đến tuổi mười tám đôi mươi; cô phải có một tấm chồng. “Cũng phải lấy thôi!” Nhưng lòng cô lo sợ, vì quanh cô người ta hay nói về những chuyện trinh trắng. Mất trinh thế nào cũng bị rắc rối, rắc rối nặng, rắc rối dai dẳng, có khi cả đời, dai như đỉa trâu; trâu còn quỵ huống chi người, thân đàn bà phận mỏng.

Cô Hồng lòng mỏng và thân cô cũng mỏng. Cái mỏng manh nơi hồn nơi xác cộng với đôi mắt lắng lo của cô đã hút hồn thầy giáo Chinh mới đến dạy học trường làng. Cô có cái sắc đẹp của những nường ái phi mền mệt, con hầu nâng dậy coi đà mệt thay3hay của những nữ tu u uẩn cõi trên, nên ngày cô Hồng dẫn em tới trường làm lễ khai giảng, thầy bị chết đứng, thầy mê đến độ bài ngỏ với phụ huynh, viết cả mấy trang, đọc được dăm dòng, thầy đành thu xếp câu cú để kết luận cho mau, kẻo người ta lại cứ tưởng thầy bị lên cơn sốt rét ác tính.

Và thầy Chinh lấy được cô Hồng.

Không có chuyện gì như cô đã lo xảy ra cả. Hai người sống khổ mà êm. Lại sinh được con. Một thằng con trai. Cô bắt đầu bớt ghét đàn ông. Nhưng rồi mãi tới một ngày nọ thầy Chinh mới thấy rằng cô Hồng còn môi mỏng: Cô nói nhiều, nói quá nhiều, giọng kim khí, những chuyện thầy không thích nghe, y như cái loa đầu ngõ. Cả hai có cái dai dẳng, kiêu căng của một người đang nắm chân lý trong tay, đã có đáp số sẵn. Thế rồi một ngày kia, cái bộ não của thầy Chinh bị bung, và nó bất chợt ra lệnh cho bàn tay của thầy Chinh giáng một bạt tai như trời giáng vào cái miệng đỉnh cao trí tuệ ấy. Sau vụ bị tát đó, câu nằm lòng “Ðàn ông là cái giống ác độc.” có một giá trị phổ quát tuyệt đối, như hai với hai là bốn vậy. Và nó ghim vào lòng cô Hồng chặt như sắt cắm bê tông, nhưng vòng tay của cô Hồng mới chớm thương thầy Chinh giờ lại lỏng dần, và cuối cùng xuội lơ như tàu lá chuối héo. Ðã thế, trời lại quá nóng, đói triền miên, họp hành cha chú; thầy loay hoay; thầy đâm ra dở người; thầy thô lỗ; cái vẻ mềm mỏng lịch lãm nơi thầy coi như mất tiệt, cô Hồng có lúc nhận xét như vậy.

Khi hai người vượt biển đến đảo Bidong được mấy tháng, thầy Chinh còn được vợ xác định thêm danh phận: “Ông là cái đồ khốn nạn.” Nghe, thầy tá hỏa tam tinh, nhưng rồi thầy cũng chững lại, mình đóng cửa dạy mình, riết rồi thầy đâm ra hoài nghi cả chính mình: biết đâu mình cũng “khốn nạn” thật, vì chuyện gì cũng có thể xảy ra ở những cái chuồng người nóng nảy chật chội tạp nhạp đông người, đáo bỉ ngạn mắc cạn đồng khô.

Tuy nhiên, thầy Chinh nếu là “cái thứ khốn nạn”, thì chỉ “khốn nạn” ở trên khu F nơi vợ chồng thầy ở; khi xuống khu A, khu B, nơi có các văn phòng, trường học, thầy như cá gặp nước, vì ngoài chuyện thầy dạy tiếng Anh ở trường high-school của các bà xơ Úc phụ trách, thầy còn làm thông dịch nói tiếng Anh nhanh như gió, lại là trưởng ban báo chí của trại. Những lúc như thế, thầy trở lại con người lịch lãm, mềm mỏng như thời mới tốt nghiệp sư phạm, thủa mới yêu cô Hồng. Thầy được nhiều người để ý. Thầy được lắm kẻ nể vì.

Lúc rảnh thầy hay dẫn đứa con trai nhỏ ra ngoài bãi biển, không bao giờ có cô Hồng đi cùng. Những mảnh thời gian hạnh phúc nhất của thầy là những lúc cha con với nhau.

 

Ðồi nghiêng chiều cuối năm lăm nhăm hàng trăm nấm mồ nhỏ như những bụm đất bọn trẻ chơi xong để đó. Cuốc dẫy cỏ, đắp thêm chút đất, thắp một nén hương. Gọi là một chút xót thương.

– Anh gì đằng đó ơi!

– Cô gọi tôi?

– Dạ, nấm mộ nầy ai đó để  mấy chén gì nhỏ như chung rượu…

Thầy Chinh nói vói:

– Chà, chắc người nằm dưới mồ vốn là bợm nhậu…

– Hay là mình xuống khu F kiếm cho ông ta một xị?

– Bộ không sợ mấy ông Task Force Mã Lai4 hay sao?

– Thây kệ, em biết có người bán.

Và cô nàng chạy lẹ xuống đồi. Cô là một cô gái đẹp, khoẻ. Thầy Chinh chép miệng không biết vì thèm rượu hay vì vướng phải ngải đảo hoang.

Khoảng mươi phút sau cô nhỏ chạy lên, với một cút rượu dấu trong người. Thầy Chinh nói sảng:

– Rượu này hẳn ngon phải biết; uống một ngụm say suốt đời.

Cô gái ngộ ngay công án, giật bắn, rồi mỉm cười rạng ngời còn hơn trò Ca diếp5 bội phần.

– Cái cô Hạnh này hay nhỉ, làm gì đứng đó, lại đây giúp tôi cắm mấy thẻ nhang cho xong – Anh Trác, cố vấn người Việt, nói với cô gái, từ đằng xa.

– Chờ em một chút anh Trác, em còn bận cái này.

Và cô lấy vạt áo lau mấy cái chung men trắng đã lem luốc đất cát, rồi rót rượu vào, rót độ lượng, rót đầy.

– Mời chú Hai cạn chén rượu lạt cuối năm – Rồi cô quệt nước mắt, chạy nhanh về phía anh Trác.

Cô thật bận rộn chuyện thương người.

 

– One, two, three; one, two, three…

– Ba nói gì vậy ba?

Ông Chinh ậm ừ:

– Thì ba nhẩm tiếng Anh cho nhớ.

Nhưng thực ra thầy Chinh đang ghẹo cô Hạnh, cô Nguyễn Thị Ðức Hạnh, (mà thầy tất bật dò hỏi đầy đủ luôn cả họ cùng tên lót, ngay sau bữa tảo mộ,)  đang chạy bộ dọc bãi biển. Cô ta thiệt không giống ai: Chạy nhơn nhơn như mấy bà đầm cố vấn. Cô Hạnh quay lại nhìn ông mỉm cười, má đỏ au au mận hồng đào Mỹ Thuận. Thầy Chinh chép miệng tựa thằn lằn đêm hôm.

Suốt cả tuần sau, thật lạ lùng, thầy Chinh và thằng nhóc vừa ngồi được dăm phút trên bãi biển, lại thấy cô Hạnh chạy tới. Và thấy đếm “one, two, three!”  hoài cũng kỳ, thầy chuyển sang đếm “một, hai, ba!”

– Ba làm gì vậy ba?

– Ba tập nói tiếng Việt!

Lôgích! Nhưng thằng nhỏ chẳng cảm thấy lôgích chút nào, vặn ngay:

– Ba lớn mà còn học tiếng Việt, hả ba!

– Ừ, học, học, học nữa, học mãi…

Thằng cu nghe ba nó nói cái chi đó lạ và kỳ cục quá, bèn không lục vấn nữa, cúi xuống chơi với mấy vỏ sò mà nó cứ tưởng tượng là xe, miệng tu tu.

Mấy hôm sau, hôm Chủ nhật thì phải, cô Hạnh không chạy bộ nữa mà thung dung từ hướng quán nước đi lại phía cha con thầy Chinh. (Ðúng ra chỉ có mình thầy; thằng cu đang đuổi bắt mấy con còng đằng bụi dứa biển gần đó.) Cô mặc một bộ đồ đầm mát trể tràng màu trắng, vải sợi thô, chân quê mà sang, một kiểu thời trang rustique, đầu lại đội một chiếc nón rơm rộng vành xơ xơ sợi lác. (Không biết kiếm ở đâu hay vậy!) Lại gần thấy môi một chút son, má một chút phấn, và một thoáng nước hoa ngây hanh cát biển, phảng phất hoa ngải đảo Nam.

– Cô bữa nay không chạy… ?

– Không đâu thầy… mà thằng nhỏ con thầy cứ lủi thủi chơi một mình, tội nghiệp?

– Cháu cũng hay chơi ô làng vỏ sò với tôi, khá thú vị, không đến nỗi đáng thương như cô tưởng. Cha con tranh nhau thắng.

– Thầy mà lại tranh với cháu nhỏ? Chắc thầy lại giả vờ thua cho cháu vui!

– Ừ, thì cũng có những trường hợp mình phải giả vờ thua để cho người khác vui lòng. Tôi hay thua kiểu đó. Còn cô, cô có phải giả thua bao giờ chưa?

Khi không cô Hạnh ngượng ngập, cúi đầu:

– Hạnh, ngược lại, đã thua thiệt sự. Trong chuyến đi vừa qua Hạnh đã thua… Rồi… có lúc nghĩ có thua thêm nữa cũng chẳng sao… Chạy hoài cũng mệt… Nhiều lúc thua thêm, như thế mà hay…  Mà cháu Phúc đâu?

– Nó bắt còng đằng kia.

– Chuyện Dã Tràng buồn ghê!

– Ừ, buồn.

***

Chiều nắng nghiêng. Thầy Chinh ngồi dưới bóng dừa bờ biển hóng mát cho loãng bớt những chuyện bực dọc cơm bữa. Cô Hạnh nhẹ nhàng đến bên cạnh thầy Chinh, tươi môi, tươi mắt, tươi mái tóc cột cao khoe gáy chờ chi.

– Không cần nhìn cũng biết Hạnh đang đến.

– Sao biết?

– Tự biết lấy!

Cô đấm vào vai thầy Chinh:

– Xạo! – Rồi lôi trong túi xách ra mấy số báo Newsweek, và một chiếc hộp giấy xinh xinh – Em mượn mấy số báo Newsweek mới nhất của cố vấn Anderson cho anh…

– Chà, thích thật! Mười mấy năm mới có mà đọc lại.

– …và em có cắt một lô hình các kiểu xe du lịch trong mấy tờ báo Mỹ cho cháu Phúc bỏ trong hộp này. Hi vọng cháu thích.

– Sao Hạnh biết ý nó hay vậy? Nó rất thích xe.

– Thì có bữa chạy qua đây, thấy nó cứ vừa đẩy vỏ sò, vừa giả kêu tiếng kèn xe: “Tu tu tu. Tu tu tu” mà! – Rồi cô ngập ngừng – Và em cũng có một chút tiền chú của em bên Ðức gởi qua, tiền của hãng bảo hiểm bồi thường cho bà nội em bị xe hơi đụng…

– Vậy sao!? Tội nghiệp bà; xin chia buồn với cô!

– … mà em không dùng gì nhiều, anh cầm mua bánh, mua đồ chơi cho cháu.

Thầy Chinh có vẻ cảm động, nhưng vẫn chống chế:

– Sao biết tôi không có tiền?

– Nghe trên loa rao tên người nhận thư mà bao giờ có tên anh hay tên chị ấy đâu

Thầy Chinh chép miệng.

***

Cái hộp đựng mấy tấm hình xe ấy, thằng Phúc tới nay vẫn còn giữ. Nó đã mười chín tuổi, và lai tính thầy Chinh: hoài cổ, và hay suy nghĩ những chuyện không giống ai. Và nó có trí nhớ thật tốt. Mới đây, khi rời thảo nguyên đi thăm con, trước ngày con qua Berlin học, thằng Phúc kêu ông Chinh vào phòng riêng nó, và chỉ cho ông xem một tấm hình trong tạp chí Photography International6, rồi nói tĩnh bơ:

– Cô người mẫu này giống cô Hạnh hồi bên đảo quá, ba há! Cô gái trong báo cũng dong dỏng, mềm mại, bận bộ đồ mát trắng, đội nón rơm rộng vành, chỉ khác cô này nón có cài một cành hoa hồng còn búp, và có mái tóc vàng.

Rồi nó lại nhìn ông Chinh, chép miệng:

– Không biết bây giờ cô Hạnh ở đâu?

– Cô ấy có lẽ đang ở Berlin. Cô có người chú đang dạy ngành cơ khí ở đó.

– Sao ba biết?

– Sau bữa cô cho con xe giấy ít hôm, cô và ba hay ra tiệm chạp phô Mã Lai… mua kẹo cho con; cô nói với ba cô sẽ định cư ở đó.

Nó trầm sắc mặt lại, nói với ông, bằng tiếng Na Uy:

– Livet er kort, pappa!  (Ðời người ngắn ngủi, ba ạ!)

– Con nói sao!?

– Người Tây họ hay nói “Ðời người thì ngắn ngủi”. Ở đây, nơi Âu châu này, ngoài xã hội, cũng như trong nhà trường, người ta phân tích, phân tích sự kiện, phân tích tình huống cụ thể nằm trong một khoảng không gian, thời gian nhất định; phân tích để giải quyết, để thay đổi, nếu cần.

– Xem ra người Tây họ áp dụng cái triết lý Yin Yang thường xuyên và nhuần nhuyễn hơn người Á  đông mình.

– Vâng, có thế họ mới sống được, và sống hạnh phúc. Người ta không được phép loay hoay quá lâu. Ðấy là một hình thức tự sát.

– Người Việt mình có một đặc ngữ rất hay: Chết dần chết mòn…

– Ðúng thế đó ba! Nhiều, rất nhiều người đã chết dần chết mòn, đã để cho đời mình bị gặm nhấm liên tục, dai dẳng. Những côn trùng nhỏ, gậm mãi cuối cùng cũng đốn ngã được cây lớn, không kém luồng sét đánh, đôi khi hiệu quả hơn. Người ta phải thay đổi nếu cần phải thay đổi.

***

Thảo nguyên mênh mông tuyết trắng. Các cụ cỏ cây đá cuội đang đắp chăn tuyết ngủ khì. Mấy bữa nay ông Chinh chỉ uống trà mật ong cầm hơi. Nghe như cái hóa  kiếp đang dịu dàng đến trong thân thể. Một ngọn tháp7 dựng lên từ tim; và ông đang đứng bên gờ tháp ấy: Nơi đấy thôi chẳng còn gì, chẳng còn đớn đau, bất hạnh, chẳng còn đời. Vậy mà một cái gì đó như nỗi cô đơn vẫn còn lẩn khuất trong cõi vô cùng tranh tối tranh sáng lòng ông; cái khuôn mặt cuối cùng của một đời, mảnh dung nhan gây thương gây nhớ cứ bị xua đuổi tới lui trong vùng  chẳng bao giờ yên sóng trùng dương vọng động. Từ khi cái hạc về Không, nhìn đời nửa mắt, làm chồng nửa thân. Hạnh ngộ, hạnh phúc, hạnh hảo, hạnh vận, bất hạnh, vô hạnh, đức hạnh, đứt hạnh, đứt đường tơ, tơ vò trăm mối.

– Ba, ba làm gì mà lâu bắt điện thoại vậy? Ba hứa với con sẽ luôn luôn mở điện thoại sẵn sàng mà. Ba có sao không?

– Không. Mà con có khoẻ không?

– Con khoẻ mà vui nữa… mà con có chuyện này muốn nói với ba…

– Bộ con đậu học kỳ này?

– Vâng, con đậu.

– Vậy thì ba mừng. Con ráng học, con đừng lo cho ba. Ba hạnh phúc. Hạnh Phúc!

– Ba có Phúc là con, còn cô Hạnh…

– Hả? Con nói gì!?

– … Con đã kiếm được cô Hạnh của ba (nó nhấn giọng) rồi! Ở ngay Berlin này.

– Thiệt không, mà sao kiếm được giữa cái thành phố to lớn ấy?

– To mà hoá ra nhỏ. Con chỉ cần ra mấy quán bán đồ Việt Nam mấy bữa thứ bảy là gặp được.

– Bộ con còn nhớ mặt? Mà cô ấy ra sao?

– Con nghĩ con không thể nhớ lại mặt cô ấy được, vì lâu rồi, cô ấy phải thay đổi, nên con nảy cái ý treo cái bảng các tông trước ngực, có viết hàng chữ lớn: Tôi Cần Tìm Cô Nguyễn Thị Ðức Hạnh, tàu MB 825, Pulau Bidong. Và đứng trước quán này tới quán khác chờ. Nhiều cô cứ tưởng con đang cố tìm lại người yêu xưa, bụm miệng cười.

– Sao con tài vậy?

– Bộ ba không nhớ con là dân Hướng đạo sao? Tháo vát. Nhanh nhẹn.

– Rồi sao nữa?

– Cô Hạnh, cuối cùng, có ai đó nhắn lại, cô đến tiệm gặp con.

– Vậy hả!? Cô ấy nay ra sao? Mà cô nói gì không?

– Cô Hạnh vẫn còn như hồi đó. Cô mời con về nhà nấu phở cho một mình con ăn. Cô nói nếu con thích, con có thể về ở với cô, vì nhà bây giờ chỉ có mình cô. Con nhắc lại chuyện xe giấy cho cô nghe, và nói là con đang học ngành đồ họa công nghiệp. Con còn nói với cô: Khi ra trường con sẽ làm nghề vẽ kiểu xe; biết đâu vẽ được các kiểu xe ăn khách, có lương cao, con sẽ biếu cô chiếc xe thiệt, kiểu của chính con vẽ. Cô mỉm cười và rươm rướm nước mắt…

– Rồi sao nữa? – Và có lẽ  không đủ kiên nhẫn với cái trò mèo vờn chuột nhắt của thằng con láu cá, ông Chinh đành làm mặt dày hỏi dấn – Cô ấy nói gì về ba!?

– Cô Ðức Hạnh nói: “Ðàn ông là cái giống ác độc.”

 

Oslo, 15. 4. 02

 

(1) Trinh tiết…môi: Từ bài Gái Ðồng Trinh, của Hàn Mặc Tử (1912 – 1940).

(2) Hadanger: Thảo nguyên nổi tiếng trên miền cao Hadanger, của Na Uy. Ðẹp não lòng, mỗi mùa mỗi vẻ.

(3) “Con hầu”…: Tản đà dịch từ nguyên tác chữ Hán câu:  “Thị nhi phù khởi kiều vô lực.”  của Bạch Cư Dị, tả quý phi họ Dương, trong bài Trường Hận Ca.

(4) Task Force: Lực lượng đặc nhiệm Mã Lai được sử dụng để trông coi dân tị nạn mà chính phủ Mã Lai hồi ấy, trên giấy tờ, coi như  “dân nhập cư bất hợp pháp mà chẳng có nơi ở” (illegal displaced immigrant) . Người Mã Lai theo đạo Islam, cấm uống rượu, cho nên cấm bán rượu trên đảo tị nạn Bidong, thuộc lãnh thổ Mã Lai. Nên có rượu nấu lậu bằng gạo của Liên Hiệp Quốc phát. Gạo trắng tinh, dẻo, thơm, phát ăn không hết.

(5) Ca diếp: Ðệ tử được Thích Ca truyền cho chính pháp, nhờ ông cười mỉm chi với Thích Ca, khi Thích Ca đưa cành hoa sen trước đám đông nghe Thích Ca thuyết giảng. Ðám đông ấy có tối dạ đến như thế chăng, hay vì lý do nào khác?

(6) Photography International: (Tạp chí) Nhiếp ảnh Quốc te.á

(7) “Một ngọn tháp…vọng động” : Lấy ý từ bài thơ Der Einsame: Kẻ Cô Ðôn, của Rainer Maria Rilke (1875 – 1926) .

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close