NTNV 12 – Hoa Tạ Màu Nhớ Nhung

Nguyễn Văn Thà

 

https://i1.wp.com/www.caycongtrinh.com.vn/_/rsrc/1506998436143/cay-cong-trinh/cay-hoa-gao/c%C3%A2y%20hoa%20g%E1%BA%A1o.jpg

 

 

Bây giờ mỏi bước đường đời

Ði đâu cũng chỉ nhớ trời một phương

Cánh hoa gạo đỏ bên đường

Nhớ nhà rưng rức hồn nương mây về

Nguyễn Thị Vinh

 

Khi Trực đi tù về, tù quá lâu, anh thấy làng xóm thay đổi quá nhiều. Khu rừng sau làng tưởng muôn đời xanh lá âm u, đã bị chặt sạch trơ gốc, và cỏ tranh xâm chiếm.

Một số dân từ ngoài Bắc mới vào cất nhà ở đó, và một số từ những vùng khác ở miền Nam tới, một trong những gia đình đó là vợ chồng ông Quân, mà người trong làng gọi là “ông bà Sài Gòn”.

Ông người Sài Gòn là một mẫu người chừng mực, chừng mực từng lời ăn tiếng nói cho đến bước đi; người ta thấy nơi ông một sự điềm đạm, tuy có vẻ xa cách.

Vợ ông, tên Chiêu, trẻ hơn ông nhiều và giống ông, như cha với con. Mấy tay ba trợn, nhất là mấy tên trảo nha, bắt đầu bàn tán, thèm thuồng thấy rõ; nói tục nói tĩu chuyện chồng già vợ trẻ; có kẻ còn phúc đức tội nghiệp cho bà Chiêu.

Hai người sống trong một căn nhà tranh khá xinh xắn, tươm tất; trước nhà có một giàn bầu, vuông vắn, chỉnh chu che trên một chiếc sân lát gạch thẻ đỏ, có kê mấy chiếc ghế mây và một chiếc bàn cũng bằng mây kiểu của những người nhà giàu Sài Gòn hay dùng; chung quanh giàn, ông Quân còn kê những chậu bông giấy đủ màu, và thả những bụi tóc tiên làm rèm, như một phòng khách ngoài trời.

Có những hôm, trưa nắng, đi rẫy về, Trực thấy bà Chiêu hay ngồi thêu đan dưới giàn bầu, hoặc đọc sách. Ðôi khi đi rẫy qua nhà bà, Trực còn để ý thấy bà hay cài hoa, không phải trên đầu hay bên vành tai, như các cô gái Thượng hay như những thiếu nữ ở các đảo Nam Thái Bình Dương, mà lại ngậm ngang nơi miệng.

Ðôi khi thấy ông Quân ngồi cạnh bà Chiêu, nhìn bâng quơ lên giàn bầu. Thiệt thanh thản ở một vùng, chiến tranh tuy đã hết từ lâu, nhưng chẳng yên ổn gì. Hai vợ chồng không lam lũ gì nhiều. Người ta nghi là họ ra ở đây để kiếm cách vượt biên. Chính quyền xã và đám công an biên phòng để ý theo dõi. Vợ chồng “ông bà Sài Gòn” vẫn bình chân như vại. Người ta ngứa máu bắt ông đi làm thuỷ lợi, nhưng có lẽ ông có tiền, có đủ để làm cái lọng che thân cho những ngày tá túc ở cái xã bát nháo cờ quạt loa kèn. Dần dần con nít trong làng không còn gọi ông bà Quân là “ông bà Sài Gòn” nữa, mà gọi là “ông-bà-hay-cho-bầu”.  Ông bà Quân Chiêu không những hay cho bầu, mà còn cho những người đi rẫy được múc nước mưa thoải mái từ những mái vú lớn trước thềm nhà.

 

 

Một mẩu đối thoại dưới giàn bầu giữa bà Chiêu và Trực, sau lần xin nước mưa thứ…

– Bà cười rất tươi, mỗi khi có người xin nước; tại sao?

– Tôi vẫn ước ao mình là nước.

– Bà tham lắm. Nước là mẹ đẻ của muôn loài.

– A !

– Tôi không bao giờ muốn làm nước.

– A !

– Tôi muốn làm lửa.

– ……

– Lửa làm sôi nước.

– ……

– Lửa đốt cháy.

– ……

– Ðốt cháy tấm lòng.

– ……!

– Ðốt cháy những ước mơ.

– Ðừng! Ðừng!

– Ðốt cháy những bài thơ.

– Ðừng! Ðừng! Ðừng!

Và bây giờ bà Chiêu là nước. Nước mắt. Dập tắt lửa điên vô lối.

 

Lửa điên vượt biển lớn, nước ở lại.

Cuối cùng lửa điên cũng qua được tới Anh; và rồi sóng lớp phế hưng của những vun quén bản thân, dù trong trường hợp của hắn chỉ là vun quén tri thức vô bổ, đã nhận chìm, xoá nhoà mọi chuyện nhỏ lẫn chuyện to của những ngày tháng cũ quê xa.

Nhân dịp thằng em mùa hè lái xe qua Texas  ăn đám cưới một đứa bạn của nó, hắn xin quá giang cốt đến đó để xem cái trang trại làm bối cảnh cho bộ phim tập Dallas trứ danh mà hắn rất thích. Trên đường, tình cờ hắn thấy vườn nhà ai đó có trồng một giàn bầu dài sai trái thòng xuống ảo ánh như những giọt nước mắt cẩm thạch xanh, những giọt nước mắt chỉ có trong thần thoại. Hắn tính nhủ thằng em dừng lại để xem giàn bầu, nhưng lại thôi, vì thấy nó đang vội vã; sợ làm phật lòng nó, nó lại cáu, làm tan đi khung trời lơ mơ cũ của mình, và biết đâu nó lại mắng tạt vào mặt; vậy mà chạy thêm cả chục cây số, nó bỗng buột miệng:

– Anh Trực có còn nhớ ông-bà-Sài-gòn-hay-cho-bầu không? Hồi tui về Việt Nam người trong làng kể lại là sau một đêm gió mưa, sáng trời tạnh, đi rẫy, người ta chẳng những không còn thấy ông bà ấy đâu nữa, mà ngay nhà của họ cũng biến mất, chỉ còn rơi rớt lại mấy lá bầu xanh. Người lớn thì đinh ninh rằng hai ông bà đã đi lọt rồi, và cho rằng đám dân ngoài rẫy đã hôi của, lấy đi không những đồ đoàn trong nhà, mà cả cột kèo, rui mè, tranh lạt cũng dọn đi sạch bách trong một đêm, và bọn họ phải kín miệng vì sợ công an. Nhưng mấy đứa con nít lại khơi khơi nói là ông bà ấy đã bay lên trời rồi.

Khi đi quanh quẩn dưới những giàn hoa hồng đài các sang trọng trong trang trại ở Dallas, hắn lại nhớ tới giàn bầu cũ, và nghĩ miệng mấy đứa nhỏ chắc là thiêng, là đúng, vì những người có lòng lành như thế thường không ở hẳn một nơi mà hay cỡi mây lướt gió đi gieo hạnh phúc cho người.

 

Khu kinh tế mới La Ngà, nằm cách quê hắn khoảng năm mươi cây số, cạnh trại cải tạo Ðức Linh, còn gọi là khu kinh tế mới người Hoa vì đa số là dân từ Chợ lớn bị đưa tới định cư ở đó. Mới tới mấy năm mà họ đã khai hoang được hàng trăm mẩu đất trồng mía và có giàn máy sản xuất đường. Cuộc sống của họ bắt đầu phồn vinh, phồn vinh thứ thiệt, bởi  làm kinh tế là nghề ruột của người Hoa. Ða số nói sõi tiếng Việt, nhiều người còn nói y boong giọng Sài Gòn, không nói lớ kiểu như kép Văn Chung hay diễu. Họ vẫn lịch sự với đám cán bộ quản giáo, cán bộ canh tù mặt sắt thỉnh thoảng ra hạch sách kiếm chác. Với tù cải tạo họ vui vẻ, tuy kín đáo; lén lút dấm dúi cơm, đường, những miếng đường quý báu cho đám tù đói khổ thèm ngọt, và những quả bầu từ những giàn bầu xanh biếc, sai quả trước nhà họ.

Riêng đối với hắn, những người Tàu ở đó còn cho hắn một món quà khác, đó là màu đỏ rực trời của hai cây hoa gạo mà họ đã chừa lại giữa làng không đốn. Những bữa trưa nắng chang chang, vác bao lúa cả năm sáu chục ký, nặng, xót xáy, lội quảng đường lầy lội cả chục cây số về trại, thấy được bóng hai cây gạo đỏ rực xa xa, hắn lại mỉm cười đỡ khổ. Hai cây gạo cao lớn, cành đen bóng, đường hoàng ngự trị, tuổi cây dám cả trăm năm, nhưng chúng cứ như còn đòi vươn lên, vươn lên mãi cho đã, cho thoả chí bình sinh; chưa có những lớp vỏ sần sùi, vì dường như đất màu mỡ, ánh mặt trời quanh năm, mạch nước sông La Ngà làm cho chúng trẻ mãi, tạo cho chúng cái dáng hiên ngang bóng lưỡng hạnh phúc như của những lực sĩ chạy trăm mét huy chương vàng Mỹ Da đen. Nghe nói ông chủ làng là một người Hoa trước đây có học kinh tế ở Hương Cảng về. Ông tổ chức thành công vùng kinh tế mới về mặt kinh tế. Hắn nghĩ ông và các người đưa đến quyết định không hạ hai cây gạo đỏ để lấy thêm đất trồng trọt là những Hồ Dzếnh mới.

Họ để lại một màu đỏ chứa chan hi vọng. Cái màu đỏ ấy khác màu cờ rất nhiều. Nhìn và cứ muốn nhìn mãi cái màu của sự sống, của máu đang luân chảy châu thân, loại máu tốt chưa vướng phải thán khí hoặc một loại vi trùng độc hiểm nào. Hoa gạo rơi đỏ cả nền đất bùn đen, như một tấm thảm điều Ba tư hạnh phúc, vẫn giữ nguyên màu sáng thế tươi nguyên.

Người Tàu ở đó còn kiến tạo cả một cái phà vận hành bằng dây cáp bắc ngang sông. Người Hoa dùng, dĩ nhiên; và nhà nước của trại cải tạo cũng sử dụng miễn phí, hay còn gọi nôm na, xài của chùa. Cái phà đã giúp cho công việc khai thác rừng và làm ruộng của trại, góp phần mang lại lợi tức khổng lồ cho nhà nước. Tuy người Hoa đã khéo léo làm hài lòng kẻ có quyền, chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, nhưng rồi, đầu năm 1981, mấy tháng sau khi hắn ra khỏi biệt giam, được đưa trở lại toán 4 sản xuất, khi toán dừng bên bờ sông La Ngà chờ phà, hắn thấy phà còn đó, nhưng nhà cửa bên kia sông của người Tàu, lớp bị phá, lớp bị cháy rụi, chỉ còn trơ lại những nền đất. Mấy cái hộc thờ thần, cái còn ngay, cái nghiêng ngả nhưng màu sơn chưa kịp ngả màu sương gió, còn đỏ tươi, những đống rác lem nhem, những mảnh áo quần chưa cháy hết, giấy má cháy dở bay tấp vào những bụi hoa dâm bụt, bụi gai.

Hắn nghe các bạn tù xì xào. Tiếc. Kẻ thì tiếc cục đường, miếng bầu, tiếc những vắt cơm của các nị, các ngộ, có anh lại xót vì các Hoa nữ mắt lá răm mất dấu mất tăm.

Nguyên do có lẽ là từ ngày có khu kinh tế mới người Hoa được thiết lập cạnh trại, tù trốn trại ngày càng nhiều và thường là lọt. Có một số bị bắt lại; và nghe đồn là những kẻ bị bắt lại khai là họ có nhận được sự giúp đỡ của người Tàu, nhưng cũng có lẽ chính quyền muốn chiếm đoạt hàng trăm mẫu mía đường tốt tươi của người Tàu để cho trại tù khai thác.

Một buổi trưa được phép nghỉ dưới gốc cây gạo để ăn trưa, hắn lúi húi luợm mấy bông gạo về phơi nấu nước, hắn bỗng thấy có mấy mảnh giấy cháy dở dính quanh một cục bùn đen khô. Vốn là người mê chữ, hắn vạch vạch phủi phủi xem thử, thì thấy một mảnh có in một bài thơ tiếng Anh nói về những tiếng chuông, hắn đã đọc đâu đó, nay đã quên tên tác giả; một mảnh khác cũng toàn tiếng Anh, ghi danh mục các đại học của Anh, có nét bút nguyên tử, có lẽ là loại bút Bic ngoại (vì, dù đã lấm lem mưa gió, nét chữ vẫn chưa nhoà) gạch dưới chữ Columbia University, gạch đậm nhiều lần, và còn viết kèm bên cạnh mấy chử Hán “Vị hà! Vị hà! – Tại sao! Tại sao! ” , với những dấu chấm than vẽ hình những giọt nước mắt to, và chúng cũng có vẻ giống như hai chiếc đinh đóng tàn nhẫn xuống, nếu căn cứ theo nét sổ sắc mạnh mà đoán; lại có cả một mảnh giấy hoa tiên có lẽ là từ một tập thơ do nhà xuất bản Hoa Tiên ấn hành, có in bài thơ tiếng Việt, cháy lem nhem:

 

Hôm qua… (cháy lăm nhăm) …về

Với một cành hoa gẫy

Sương nặng gieo đầu tre

Lạnh tràn theo gió đẩy

(lem nhem vài dòng, đọc không được.)

 

Ðêm qua bên láng giềng

(chữ lại mờ quá, không đọc được.)

 

Cô gái nhỏ thung dung

Qua miếng vườn hoa nhỏ

Ðất nằm im dưới cỏ

Hoa tạ màu nhớ nhung1

(cháy từ đây trở xuống; hắn không biết bài thơ còn thêm câu nào nữa không.)

 

Bài thơ nước Việt, câu thơ xứ Anh, và tên một nơi chốn nâng trí tuệ con người lên cao, bị dính chặt vào cục đất đần độn. Ba số mạng bùn bị trộn với trùn. Hắn khẻ nhẹ cục bùn khô, cẩn trọng bóc, và cuối cùng cứu được ba mảnh giấy. Cho giấy và cho mình. Cục đất và những bầu trời vời vợi. Vết cháy và những suối nguồn lộng lẫy. Và hắn cứ đinh ninh sở hữu của ba mảnh giấy ấy phải là của một cô gái. Con gái mới có những giọt nước mắt lớn, mơ ước trùm trời, và thù hận dữ dằn như thế! Qua hàng chục lần kiểm tra đột xuất, rồi chuyển trại mấy lượt, hắn vẫn giữ được ba mảnh giấy lem luốc ấy như  những chứng từ duyên trái vu vơ.

Một năm sau ngày khu kinh tế mới La Ngà bị dẹp bỏ, hắn được thả. Hắn nhẹ tênh qua sông, nhìn lại khu kinh tế mới, nhìn phế tích của những gượng dậy gãy gục mà hắn biết hắn khó mà quên.

 

Sau khi tốt nghiệp khoa khảo cổ, chuyên ngành trùng tu cổ bản, hắn, hên, được làm việc ngay tại đại học Columbia, nơi hắn tốt nghiệp. Hắn là người có công phục chế một số văn bản quan trọng mới tìm được hoặc tìm được đã lâu nhưng chưa được xử lý đúng mức, như bản cổ thư bằng đất nung Kinh Uống Rượu mới đào được từ dưới chân tường cổ thành của người Assyria, nay thuộc Irắc; bản Kinh Têm Trầu, một loại sutra tối cổ viết trên thẻ lá dừa của Ấn độ; và một cuốn khác mới được một du khách Mỹ tình cờ tìm được ở sa mạc Gobi, mà có lẽ Thành Cát Tư Hãn (người rất thích tìm hiểu các trào lưu tư tưởng kiến thức từ các thày cả giáo phái Kitô giáo Nestorien xa lắc cho đến các thày chùa Trung Hoa láng giềng) đã tịch thu từ các thư khố triều đình Trung quốc, và đã đánh rớt trên đường về quê chăng? Sách có tên Âm vực Biểu tượng Kinh, khắc trên xương, có từ đời nhà Thương; đã được nhà xuất bản Chiêu Dương, Hương Cảng, chụp, và in lại bằng khải tự  năm 197… Sách đã gây xôn xao dư luận một thời ở đó, cũng như ở các trung tâm Hoa học của các đại học trên thế giới, vì sách viết về nhiều chuyện có tầm mức quan trọng đến nỗi nó làm người ta phải xét lại lịch sử cổ đại Trung Hoa mà, qua các triều đại, các sử gia đã cương ẩu hơi nhiều. Ngoài ra, trong sách có một chi tiết nhỏ: Vua Thần Nông, vị vua thích hoa cỏ nhất của Trung quốc vào cái thời mà tiên nhiều hơn người, đã khuyên các cô gái đồng trinh (xử nữ) nên cài hoa ở hạ địa khẩu, hầu xua đuổi tà thần một sừng, mà chữ Hán gọi là độc giác chi quỉ. Hắn rất ngạc nhiên khi đọc đến đoạn này, nên sau đó đã tò mò đọc các cổ thư, tài liệu khác của Tàu để xem lời khuyên trên vua Thần Nông có cái ý bậy bạ như hắn chợt nghĩ, hay đây chỉ là một món thuốc vườn chống độc trùng mà ngài tổ sư thuốc bắc Thần Nông kê cho các cô mới lớn. Một trong những tài liệu hắn tình cờ đọc được đó là một phúc trình của các nhà khảo cổ Trung Hoa đăng lại trong tạp chí khảo cổ của viện đại học Hương Cảng đề cập đến những khám phá mới về nền văn minh thuộc lưu vực sông Dương Tử. Hắn thấy trong bản phúc trình đó còn có một hình chụp một cái chum bằng đất sét nung có chạm nổi hình một đoàn thiếu nữ vén váy qua khe, có cô ôm bầu trái, có nường ngậm hoa gạo ngang miệng, và dưới hình chạm còn lờ mờ hàng chữ viết bằng cốt giáp tự: xử nữ quá giản – gái trinh qua khe. Hắn suy nghĩ không biết chuyện ngậm hoa gạo ngang nơi miệng của các nàng gái trinh này và chuyện cài hoa ở hạ địa khẩu theo lời bảo ban của ngài Thần Nông kể trên có sự liên quan nào chăng; hoặc giả chuyện ngậm hoa gạo ngang nơi miệng như thế chỉ là một tín hiệu của các nàng đã tới tuổi cập kê gởi các chàng tài tử phong lưu.

Và thỉnh thoảng hắn cũng được mời nói chuyện trong một số chương trình truyền hình tạp lục của Anh, nói về những đề tài lẩm cẩm kể trên.

Khoảng một tuần sau buổi nói chuyện cuối cùng, về đề tài hoa gạo trong khảo cổ, hắn nhận được thư do đài chuyển, viết bằng tiếng Anh. Thư có cái văn phong cẩn thận của người ngoại quốc chưa dám phóng bút. Trong thư, vị đó thắc mắc một câu có hơi ngoài lề: Tại sao ông Trực là người Việt Nam qua Mỹ tị nạn – giống dân mà người nào trong đầu cũng đều có một ông vua – không chọn học những ngành hái ra tiền mà lại chọn cái ngành, thứ nhất, tốn nhiều thời giờ để học cho tới nơi tới chốn, thứ hai, lại là cái ngành chuyên phủi bụi thời gian như thế. Hắn đọc thư, tự nhiên lên đồng, viết thư trả lời ngông: Chẳng qua vì hoa gạo ven sông; và sợ người viết thư không biết cây gạo là gì, hắn còn chú thêm tên cây bằng tiếng La tinh cho đúng bài bản, và còn giới thiệu cuốn Cây cỏ Việt Nam  của Phạm Hoàng Hộ, và cuốn Thực vật Á  châu Nhiệt đới của James Lin để xem cho tường.

Thư đi đã lâu mà hắn chẳng nhận được một lời phúc đáp bình phẩm gì về lá thư, nhưng rồi hắn cũng quên như đã từng quên bao nhiêu ngông ngạo trong đời. Và hắn nghĩ người gởi hẳn cũng hối tiếc cho cái xốc nổi vô ích tốn thời giờ của mình, vì đã mất công gởi thư, mà lại nhận được những lời lẽ mát giây như thế.

Trong một buổi họp mặt thường niên của các cựu sinh viên đại học Columbia, toàn ông to bà lớn. Có cả người tận bên Ðài loan, Hương Cảng, và bên Nhật qua. Ai nấy đều hỉ hả. Quần áo lịch sự chải chuốt. Ðỏ rượu chát sum vầy. Họ là những người thành công, những kẻ bận rộn với cái hiện tại ngon lành của mình và cũng muốn thông báo cho mọi người biết cái ngon lành của mình dưới những bộ dạng, lối nói đầy khiêm tốn. Hắn cũng là một người đã tốt nghiệp nhưng không thành công được như họ. Vẫn chiếc quần jeans, áo sơ mi rẻ tiền và chẳng được phẳng phiu như những tờ cổ thư hắn chỉnh lý. Hắn là con người của những cổ bản hơn là cổ phần.

Xôn xao tiệc rượu vườn ngoà, cỏ cây xanh nõn một màu, nhưng đằng góc vườn đứng bơ vơ một cây du Nhật Bản mỏng manh lá đỏ. Ðỏ rượu chát sum vầy, máu bầm lữ thứ. Và xuân tuy mới sang, vậy mà lá du chưa chi đã đan kín cành, nhưng lá còn mềm, chưa cứng đủ để lao xao tiếng loài người, ví dụ, “Chào… anh cây gạo.”

Huống hồ còn bằng giọng Sài Gòn ngọt ngào.

Lại càng là chuyện không thể.

 

Oslo, 02. 07. 02

 

(1) Ðêm qua thu…: Nguyên bài thơ với tựa đề Thu, của Huy Cận: Hôm qua thu mới về, Với một cành hoa gẫy Sương nặng gieo đầu tre, Lạnh tràn theo gió đẩy / Thu tới trong vườn bên, Ngợ ngàng màu cúc mới. Ðêm qua bên láng giềng, Êm tựa nhàn thu tới /  Cô gái nhỏ thung dung, Qua miếng vườn hoa nhỏ. Ðất nằm im dưới cỏ,  Hoa tạ màu nhớ nhung. (Thi sĩ Bùi Giáng, trong cuốn Ðường đi trong rừng, cho bài thơ này là bài thơ mùa thu hay nhất trong nền văn chương thế giới.)

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close