NTNV 9 – Người Thích Nghe Chuông

Nguyễn Văn Thà

https://c1.staticflickr.com/5/4078/4935314301_2496d36c2e_b.jpg

Khoảng tháng mười gió bấc bắt đầu thổi mang theo cái lạnh phương Bắc; thổi rền rỉ ngày đêm. Lá cỏ héo dần rồi tan nát. Gió đưa cát bụi len vào từng lỗ chân lông; người lúc nào cũng cảm thấy nhớp nháp, bức rức. Ðược cái những ngày như thế, chuông nhà thờ vang xa.

Khi mấy ổng chưa vào tôi chẳng để ý đến gió bấc cho lắm. Mùa gió nồm mát mẻ hay mùa bấc khô khốc vẫn hai ngày cắp sách đến trường, có cơm ăn no, có áo lành mặc. Nhưng rồi từ độ hai miền hết đánh nhau, gió bấc làm tôi phải chú ý đến nó nhiều hơn, vì cờ bay mạnh, bay nhiều, và cũng là lúc khởi đầu cho những năm tháng tơi tả. Người và gió bấc, cờ xí cùng vó ngựa, văn hoá với những luồng tư tưởng bóp miệng. Những người dân miền Bắc như những người từ cõi âm, bắt đầu xuất hiện trước lẻ tẻ, sau đó ào ạt vào Nam để rán kiếm cho mình một mảnh đất sống. Họ là những người ngàn đời đói đất; và vào cái thời cái gì cũng nhân dân làm chủ thì sự thèm khát đất đai lại càng mãnh liệt. Chẳng có gì quý hơn đất. Ðất nào cũng được miễn là có đất, dù chỉ tạm thời. Ðất rừng bạc màu chằng chịt cỏ tranh người trong làng tôi không ai thèm làm, cũng đã là quá tốt đối với họ. Nhưng chẳng dễ gì moi được miếng ăn từ những đám cỏ tranh lì lợm, rễ đan tầng tầng địa võng ấy. Dần dà mộng ước đất đai của họ bị cỏ tranh bóp nghẹt; thân xác héo quắt dưới nắng đỏ.

Chúa HCM độ ấy cũng đã theo gươm giáo vào ngự trị trong mọi nhà xứ  Ðàng Trong. Thực ra, đối với số đông, cái mặt của chúa như một lá bùa gớm ghiếc mà những thầy pháp, bà bóng của chúa cứ gióng phèng la, cứ hô âm binh đe dọa, nên cực bằng đả phải dán trong nhà, vì ai mà biết được lúc nào ma tha quỷ bắt.

Vậy mà có người đàn bà không thèm dán lá bùa ấy. Một người đàn bà Ðàng Ngoài.

 

Tôi đang đi kiếm con trâu lạc, tay cầm chiếc roi mới tự bện. Rừng rậm rạp và mênh mông xanh. Chẳng hi vọng gì kiếm được trâu, nhưng cứ phải tìm. Ði giữa lòng con suối cạn, lá vòm giáo đường, cát mịn mát in dấu chân chim lăm nhăm lẩn giữa những vết trườn mỏng manh của loài bò sát. Và, nơi đây, cõi đâu đâu uống lời im ắng; chim kêu chiều biền biệt vô ngôn. Bỗng có tiếng chuông nhà thờ đổ, vang vang giữa ngàn cây. Chuông đổ trước loa. Họ đã quên mở đài. (Bấy nay trời thôn dã rộn tiếng máu xương, chẳng mấy khi, như chiều nay, chuông đưa lòng về được một cõi không trâu.) Cảm ơn suối nhỏ vòm cây. Cảm ơi ai kẻ quên loa rộn chiều. Một nhánh tre quẹt ngang mặt cắt ngang câu thơ lạng quạng, làm tôi giật mình, nhìn lên. Bóng dáng một cô gái đang đi lại phía tôi, thong dong mềm mại. Cô mặc quần xanh bó Trung quốc và áo sơ mi trắng, bộ đồ kiểu cọ nhất của các chị em dân ngoài Bắc thời đó; còn tôi, tôi lại đang bận cái quần tà lỏn, hình như đủng hơi rách thì phải – tại chỉ nhợ hồi đó quá bở; ngượng quá lẽ, bèn chữa thẹn:

– Cô đi đâu đó?

– Dạ em đang nghe chuông – Câu hỏi trật bản lề của tôi nghe thiệt tội nghiệp so với câu trả lời đầy tiêu dao  làm tôi thảng thốt – Chuông chiều nơi đây nghe thật thích! Còn anh?

– Tôi đi kiếm trâu.

– Anh đi kiếm trâu hay đi kiếm tiếng chuông Trời đã gởi cho người thế từ lâu? Angelus Dómini nuntiávit Mariae et concépit de Spiritu Sancto… Et Vebum caro factum est et habitávit in nobis1 Mà trâu lạc lâu chưa anh?

– Hồi trưa đứng bóng.

– Tối đến nơi rồi, anh kiếm nhanh đi!

– Thôi, khỏi cần kiếm!

– Sao vậy?

– Vì đã có cô đây!

Tôi bắt đầu trổ mòi. Nhưng cô nàng vẫn cứ như không:

– Anh có biết không… ?

Và ánh mắt cô đóng cõi ngoài tôi lại; lời chở tôi trôi dạt mải mê. Cô thao thao về những tiếng chuông trong các tác phẩm văn chương Nga-la-tư.2 Những tiếng chuông ấy tắt đi từ Maxim Gorki, người khởi đầu cho một nền văn chương Nga-Xô-viết. Từ độ ấy tiếng chuông đã bị bóp cổ, cô nói. Chuông Nga xưa ấy sao giống tiếng chuông trong những bài văn mẫu của thầy Kính dạy tôi! , tôi reo, tiếng chuông nào cũng bay và mang theo ánh sáng.

Cô còn kể thêm chuyện một ông pốp3 già ở Nga suốt đời băn khoăn về một câu thơ chữ La tinh khắc trên chiếc chuông cổ của giáo đường cụ. Cụ ăn không ngon ngủ không yên suốt 70 năm vì câu thơ ấy. Rồi cô đọc câu thơ tiếng La tinh ấy- dĩ nhiên tôi mù tịt – nhưng tôi vẫn nhớ được câu thơ bắt đầu bằng một cái âm từa tựa như là luna4 – giống tên hiệu đèn Huê kỳ nhà tôi đang dùng . Rồi cô dịch ngay: Rừng  đẻ trăng. Tiếng chuông của cỏ. Câu thơ đã làm cụ pốp phải kêu lên: “Người đời xưa mà làm được những vần thơ mới đến như thế ru!?” và cụ nghi đó là thơ ngàn-hoa-nội-cỏ của Virgil5. Nhưng rồi, dù miệt mài đọc thơ của Virgil và cả của các thi sĩ La tinh khác đến bạc cả mái đầu, cụ vẫn không kiếm ra gốc tích câu thơ. Cuối cùng chuyện đến tai một anh thợ cày trong vùng, anh ta bèn phán với thằng con, vốn là trò giúp lễ của cụ pốp : “Mẹ, biết đâu thằng thợ đúc chuông khắc sai!? ” Chú bé mách lại với cụ pốp , tóc cụ đang bạc trắng hóa ra đen; rồi cụ bỏ xứ đạo mà đi, không biết đi đâu…

– Cô đã ở Nga ?

– Em là công chúa Anastasia6. Em là công chúa ngàn đời của Ðất Nước em. Khi gã Lênin ám sát em, gã đã làm một việc rất dại dột: Gã đã phong thánh cho em.

– Cũng như tiếng chuông?

– Ðúng, làm sao hắn bóp được âm vang của muôn vàn chuông vàng đã thấm vào từng cục đất, hạt cỏ nước Nga cả hàng ngàn năm.

– Thế là cô không cho là câu thơ La tinh khắc trên chuông mà cô vừa kể là sai từ vựng, sai văn phạm?

– Không, đó là một câu sấm hoặc một câu thơ thị kiến.

– Xem ra nước Nga sinh ra khá nhiều những con người thị kiến…

– …và những con người hoang tưởng. Tôi nghĩ là gián tiếp giáo hội Chính thống Nga với những lễ nghi phụng tự và các hình thái nghệ thuật liên hệ chẳng những đã sản sinh những con người đầy thị kiến như Dostoievsky, Paternak mà còn tạo nên những kẻ hoang tưởng như Léânine và Stalin. Cứ thử vào tham dự một thánh lễ nơi nhà thờ Chính thống Nga anh sẽ cảm nhận được những điều tôi nói. Các ông pốp và các tín hữu như đang tận hưởng những hoan lạc siêu hình suốt cả hai ba tiếng đồng hồ giữa giòng nhạc rền rỉ, ray rứt, khát khao, giữa chơi vơi trầm hương, nến sáng. Elohim! Elohim! Elohim!7

– Còn tiếng chuông?

Nàng im lặng không đáp. Cú bắt đầu rúc loanh quanh. Muỗi bay vòng, quanh mặt nàng ánh xanh lấp loáng. Nàng đi đi lại lại dưới vòm cây, đôi khi mơn man một chiếc lá, đôi khi như đang lặng nghe tiếng nghìn trùng, lại có lúc thầm thì chuyện vản. Quên cả rừng chiều sắp đóng. Tôi ngồi trên tảng đá ngóng cổ nghe nàng; ngờ ngợ nàng như Ðức Giêsu, và tôi, như thánh nữ Mađalêna, đang ngồi dưới chân nàng uống suối nguồn trí huệ từ môi. Một lúc sau, miệng nàng mấp máy máu tươi:

– Tôi chỉ biết bay trong tiếng chuông nước Nga, nhưng tôi nghĩ chỉ có các ông pốp dưới thời Xô viết mới thực sự sống tiếng chuông. Họ là những Quasimodo10 gánh oằn vai những sầu thương nhân thế và của chính đời mình. Nghĩ mà thương…

– May có Esmeralda chia xẻ gánh gian truân.

– Anh có biết không, tôi vào Nam để nghe, để nhìn những tiếng chuông cuối mùa?

– Tại sao lại là cuối mùa? Tôi tin rằng chính phủ đương thời, rút kinh nghiệm bên Nga, sẽ vẫn cho giật chuông nhưng lại ra sức khuyếch đại âm thanh của chiếc loa vốn đã rỉ sét của mấy ông ấy. Và họ tin là loa sẽ thắng chuông. Cô có nghĩ như vậy không?

– Làm sao mà biết được. Ai mà hiểu được Bóng Tối!

Và tôi cúi đầu nhẫn nhục để cho bóng tối tràn lan, che kín nhãn quan và nuốt chững tâm tư. Nghe đời mình quen dần mộ địa.

Nhưng rồi không biết bàn tay huyền hoặc cỏ cây đã cởi quần áo nàng hay chính nàng đã tự khoả thân mà, khi ngước lên, tôi thấy nàng đang trần truồng, đong đưa ảo diệu như một chiếc bình pha lê treo giữa tà huy.

Có tiếng thì thào đâu đó trên muôn ngàn lá:

– Bóng tối đã bóp nghẹt cả giang san. Tôi phải về nhà cha tôi. Cha tôi có nhiều chỗ ở, anh có về không, anh có về không?

Nàng tan loãng theo tiếng gà rừng gáy sảng: Hoàng hôn mà cứ ngỡ bình minh.

 

Trời gần đứng bóng tôi ngủ mới dậy. Sáng dậy đi làm không nổi dù má kêu năm lần bảy lượt. Ði tàn tàn qua nhà thằng em hút điếu thuốc lào cho tĩnh, thấy mấy anh hàng xóm đang phụ nhau xẻ thịt một con chó. Máu me vung vãi, lấm lem những chùm lông chó trắng nõn lung linh như muôn ngàn mũi kim dưới trời trưa nắng đổ.

– Kiếm được con cầy đâu mà ngon vậy, mấy cha !? – Tôi hỏi

Thằng Năm, em tôi, cười hề hề:

– Ngon cái khỉ mốc, thịt ba con chó cái, mười con hết chín mềm xèo! Ðầu hôm ra rẫy gần suối Rạn để canh heo rừng, thấy nó cứ xớ rớ cạnh chòi, đã vậy lại còn rên ư ử như rượng đực, tui ngứa máu nhào lại tính phang cho một một cuốc, vậy mà nó vẫn đứng im nhìn tui, làm tui phải gượm tay lại…

– Rồi sao…?

– Tính để kệ mẹ nó, nhưng nghĩ lại thấy gió bấc thổi mạnh, trời động cá mắm không có, tui tròng cổ trói lại, bỏ bị vác về hồi hôm.

– Hay là chó bị người ta thuốc mậy? Coi chừng ăn ngọng miệng cả đám! Vả lại chó của người ta…

Anh hàng xóm đỡ lời:

– Không sao đâu anh ơi! Tụi em đi xẻ ván hằng ngày trong rừng thấy con chó nầy cứ chạy lông rông trong rừng cả mấy năm nay rồi; chắc ai dời nhà không đưa nó theo. Tụi em tính thịt nó từ lâu rồi mà không được. Nó cứ thoáng ẩn thoáng hiện; không biết sao đêm qua lại lại dẫn xác đến rẫy nhà anh như vậy. (Tôi với em tôi làm chung một rẫy).

Thằng Năm phụ họa:

– Ðúng như vậy đó anh Tư… Thôi, chó nào cũng là chó! Mà anh Tư nè… đang kẹt không biết kiếm đâu ra trái dừa khô để hầm chó. Không biết dừa bên má có buồng nào già chưa, anh về chỉa cho tui ít trái.

– Hôm qua má nhờ thằng Hào chọc xuống bán sỉ cho bà Tám ngoài chợ hết rồi…  mà thằng Hào con Huệ đâu cả rồi?

– Thằng Hào dọt ra đâu đầu xóm, còn con nhỏ Huệ còn ngồi khóc đằng hồi nhà. Ai đời nó với thằng Hào cứ giành nhau cái chuông con chó, la lối um xùm. Xùng máu, tui xáng cho một đứa một cái bạt tai. Cái thằng mất dạy nó lì đòn, còn con nhỏ cứ khóc rấm rứt hoài… Mẹ, ở đây chó nhà quê mà ai đó còn treo cái thứ chuông lục lạc như chó Tây không bằng! Nhưng phải công nhận cái chuông thiệt đẹp, bóng lộn như vàng.

– Giờ ở đâu rồi?

– Nóng gà, tui dụt mẹ xuống ao cho khỏi cãi nhau… Mà anh Tư à, kẹt quá, không có dừa khô thì khó mà hầm thịt chó cho ngon được!

– Sao không đạp xe ra ngoài chợ chồm hổm mà mua?

– Chợ búa xa xôi quá, mà chắc gì đã có!

– Thôi, để tui lên cha xứ xin cho các ông một trái. Hôm qua tui còn thấy cây dừa bung bên giếng của ổng có mấy buồng già rồi.

– Không dễ đâu, ổng kiết lắm.

– Mầy đừng có nói vậy. Các cha phải giữ thế chớ! Cha là cha trăm họ; cho người này mất người nọ.

– Ừ, thì cũng được đi. Nhưng anh là cái gì mà anh cho là cụ sẽ chơi đẹp với anh?

– Mầy không nhớ anh mầy là trưởng ca đoàn sao!?

Trời đứng bóng. Khi vừa đến trước nhà thờ cổng nhà thờ, tôi thấy ông cha xứ đang giật chuông trưa truyền tin, thấy cả bóng dáng một thiếu nữ quần áo trắng thấp thoáng giữa những bụi hoa trúc đào cao tới vai cạnh tháp chuông. Tôi không thấy rõ mặt người con gái, vì mái tóc thề lơ là che kín một nữa khuôn mặt; và dường như cô nàng đang lắng nghe chuông. Tôi để ý thấy trên mái tóc bên trái có cài một cánh hoa bằng lăng và dưới chân đeo một đôi giày cao gót màu trắng, kiểu giày cao cấp vẫn thấy bán trong các cửa hàng quốc doanh số một ở Mạc Tư Khoa vào những thập niên sáu mươi, bảy mươi. Giật chuông xong, ông cha hối hả đi vào nhà xứ, hay nói đúng hơn, hối hả đi thẳng vào nhà bếp. Tôi đang  bận thu xếp câu cú trong đầu sao cho khéo, để thỉnh bằng được một trái dừa nạo của cụ cho mấy thằng đàn em nễ chơi. Khi ngước lên, tôi không còn thấy cô gái đâu.

Khi vào tới cửa bếp nhà xứ, tôi thấy cụ đã ngồi thoải mái giữa chiếc bàn rộng mênh mông đầy ắp thức ăn: cá, thịt, trái trăng, đủ màu đủ cở. Và còn có cả chai rượu lễ đỏ như máu, hiệu Cờ đỏ, sản xuất tại Liên Xô – vì tôi thấy có cái tên Cộng Hoà Liên Bang Xô Viết, viết tắt bằng mẫu tự Nga, CCCP, to chần dần trên nhãn, mà bọn trẻ trong làng, không biết ai bày, từ lâu đọc là Coi Chừng Chúa Phạt.

Tôi chào, cụ  im. Tôi bèn tự động kéo ghế ngồi, cụ hơi khó chịu, nhưng cụ vẫn tiếp tục ăn và không chào hoặc hỏi tôi một câu dù chỉ cho có lệ. Tôi thấy giấc mơ trái dừa khô bị bóp nát tàn nhẫn. Và khi đang loay hoay giữa phẫn nộ và khinh bĩ, tôi thấy người đẹp áo trắng lúc nãy đi vào và đứng ngay trước bàn ăn, nhìn thẳng vào cụ. Tôi nửa ngờ ngợ nửa khoái trá nhìn cô gái mặt hoa da phấn.  Ông cha xứ vừa xăm xói ăn vừa hỏi, câu hỏi lửng lơ không chủ từ mà những kẻ bề trên hay dùng:

– Ðến đây có việc gì?

Cô nàng đáp ngay, dù chưa chắc ông cha xứ đã hỏi cô, giọng thỏ thẻ, (tôi bắt buộc dùng cái chữ rất đỗi cải lương này, nhưng chỉ có động từ này mới diễn tả được đúng cái giọng của cô gái lúc đó):

– Con đến để tìm tiếng chuông của con. Tiếng chuông con lưu lạc chưa về. E chừng mất hẳn rồi, cha ơi!

Tôi nghe chuông rừng vọng ngược về. Tôi nghe pha lê rạn vỡ.

Và cô vẫn đứng đó nhìn vị linh mục đăm đăm như đang cố tìm nơi ông tiếng chuông của cô; và bỗng nhiên, ánh mắt cô tối sầm lại.

Ông cha xứ hoặc không nghe cô ta trả lời hoặc không thèm để ý đến cô ta, như thể cô gái không hề đứng trước mặt ông, bởi ông chỉ nhướng mắt nhìn tôi, và rõ ràng là ông đang giận tôi vì tôi đã không trả lời ông. Thực ra không phải như thế, chẳng qua tôi đã không nhanh miệng hơn cô gái.

– Dạ con đến để nói chuyện với cha cho vui – Bây giờ tôi mới trả lời được.

Rõ ràng câu trả lời của tôi chỉ cho đỡ ngượng, bởi phương án xin dừa hầm thịt chó đã cháy tiêu ngay từ phút đầu gặp gở. Sượng trân, tôi nhìn bâng quơ ra ngoài cửa sổ một lúc; khi quay lại, cô gái đã đi từ hồi nào – và hình như không thèm chào ông cụ – và tôi chỉ thấy một bà già áo quần vá chằng vá đụp, đầu quấn khăn xứ Nghệ, một bà Bắc bộ chính hiệu, đứng ngay chổ cô gái đứng lúc nãy. Bà ta khúm núm, hốt hoảng:

– Thưa cha, mấy thằng chăn trâu mới phát hiện con mẹ Ngọc treo cổ tự vận ngoài suối Rạn đâu hồi hôm.

Ông cha vẫn cắm cúi ăn:

– Ngọc nào?… Mà sao lại biết là đêm qua?

– Con-Ngọc-đĩ-Liên-xô đó cha! Biết là đêm qua là vì nếu ả treo cổ giữa ban ngày mấy anh thợ cưa, mấy đứa chăn trâu phát hiện ra ngay. Cái đồ đĩ đó có chết cũng…

Ông cha xứ bây giờ mới ngước mặt lên:

– Bậy nào, sao gọi người ta là đồ đĩ, rồi còn gọi là đĩ Liên Xô là làm sao!?

– Thì con ni, hồi còn ở ngoài nớ, giỏi giang răng đó lại được đi học Liên Xô. Học đâu được mấy năm mà lại cứ lân la tằng tịu với mấy ông cha râu xồm ở bên nớ.  Trình cha, không biết tại răng mà người ta gọi mấy ông cha Liên Xô như rứa?

– Ừ, tại vì các linh mục theo giáo phái Chính thống có tập tục để râu dài như thế.

– Chớ không phải các ông ấy sinh đàng tội lội mà người ta kêu như rứa?

– Khồồồng… Làm gì có chuyện đó! – Ông linh mục gạt ngang, rồi hăm hở hỏi tiếp, trái cổ đưa lên đưa xuống – Rồi sao nữa?

– Thì bị nhà nước kéo cổ về nước chơ sao nựa cha! Ðã vậy còn lăng nhăng mô ngoài Hà nội mấy năm; lại lân la đến các nhà thờ. Có bựa đi tham quan mô đó nhà thờ chính toà, ả lại chài mồi được thầy giảng Chung8. Cha có biết không: Chẳng ai kéo chuông hay bằng thầy nớ. Thiệt uổng công tu trì mấy chục năm gian khổ cha nợ!

– Rồi sao nữa bà? Rồi sao!?

– Thì thầy xấu hổ quá, phải xin đi bộ đội vào Nam. Có kẻ nói thầy chết mất xác nghe đâu trong một trận đánh lớn ở cái tỉnh Thuận Hải nầy; có kẻ lại nói thầy hàng địch rồi xin đi tu làm cha đâu ở trong Nam.

– Rồi sao nữa!? Rồi sao nữa!?

– Nghe thằng cháu của con học đại học ở Hà nội nói là người ta còn đồn ả cứ quần là áo lượt vô ra toà đại sứ Liên Xô, còn đi múa đôi, ăn uống với mấy ông nớ.

– Sao người ta biết hay vậy?

– Thì có anh người cũng ở quê với chúng con, làm to đâu trong bộ, trong phủ chi đó ngoài nớ, phải lòng ả, mê ả, răng đó không được, thất tình, uống rượu, nói lung tung phèng.

– Có gì nữa không, kể cho cha nghe!

– Chúng con vô Nam đầu tắt mặt tối bới đất lặt cỏ mới kiếm được đôi miếng bỏ miệng, còn ả cứ ăn trắng mặc trơn đi lòng dòng trong rú.

– Vô rú mần cấy chi rứa? – Lần này không biết tại sao ông cha lại trọ trẹ giọng Nghệ, quên béng cái giọng Hà Nội mà ông cố uốn lưỡi bao năm để, khi đứng trên toà giảng, giảng cho oai, cho ra cái vẻ mình là dân Thăng Long ngàn năm văn vật.

– Thì nằm với mấy thằng thợ cưa trong rú chơ mần chi nữa cha nợ. Chơ của mô mà ăn trắng mặc trơn đi cà nhỏng cả mấy năm ni… Nhưng mà trình cha, dừ ả treo cổ chết như rứa, họ9 chúng con không biết làm phải mần răng đây?

– Mà ông trùm chồng mụ đi đâu mà mụ lại vô đây?

– Nhà con đi xẻ ván trong rừng từ hôm qua; không biết chết rấp xó nào góc nào mà trưa vẫn chưa thấy về.

Khuôn mặt ông cha hăm hở lúc nãy bây giờ ra dáng lập nghiêm:

– Hay là đêm hôm lại đi la cà… Thiệt là bê bối!

– Dà…

– Mà nì, không thấy chị ta đi nhà thờ nhà thánh chi cả, chắc là phường vô đạo?

– Có mô cha! Cha mẹ của ả đạo dòng mà! Gia đình ả ngoài nớ ở cách nhà chúng con có ba bốn căn chơ mấy!

– Dù có đạo đi nữa mà tự tử thì không được chôn trong đất thánh. Chôn đâu cũng được, không được chôn đất thánh.

– Thôi rứa cũng được chơ hơi mô mà mất công khiêng cả bốn năm cây số đường rừng những kẻ…

– …những kẻ cướp quyền ban phát sự sống của Chúa. Tôi sống không còn phải là tôi sống nhưng là… Chắc mụ còn nhớ?

– Dạ nhớ. Cám ơn cha… Con sẽ về báo cho họ đạo của con biết lời dạy của cha.

Rồi bà trùm già cắp nón le te đi ra.

Một luồng gió bấc thổi mạnh làm vô số những cánh hoa dầu lông bay ào ào xuống phía trước đài Ðức Mẹ.

Tôi vọt ngay khỏi nhà xứ quên cả chào ông cha xứ; chạy ngay ra phía suối Rạn. Tới nơi, tôi thấy có độ chục người đang còn đứng đó chỉ chỉ chỏ chỏ cây bằng lăng độ lượng hoa tím mát tinh khôi. Dây treo cổ vẫn còn đong đưa trước gió như xác rắn hồng hoang mới lột, nhưng xác của người đàn bà tên Ngọc ấy tôi không biết nguời ta đã hạ xuống hồi nào và đưa đi đâu. Có anh đàn ông đưa hàm răng hô ra vừa cười vừa chỉ về phía bìa rừng không xa cội bằng lăng là bao nói, dù tôi không hỏi:

– Chòi ả đằng nớ, chòi ả đằng nớ tề.

Tôi thấy phía đằng đó có một mái tranh, thật nhỏ nhưng khá xinh xắn nằm cạnh con suối cạn, gần chỗ tôi đi kiếm trâu chiều qua. Tôi chạy nhanh đến chòi. Chòi với liếp cửa lác đan theo hoa văn của các sắc tộc người Á sống trong rừng taiga Tây Bá Lợi mà tôi có dịp xem trong các tờ báo ảnh Liên Xô. Và không có ai quanh chòi; vì sợ hồn ma người đàn bà chăng? Tôi giật liếp xông vào, thấy chỗ, mà những nhà khác người ta phải dành để treo hình chúa Hồ, là hình một cái chuông lớn vàng rực ánh sáng với hàng chữ mà tôi đoán là câu thơ La tinh vì nó bắt đầu với chữ luna. Phía bên phải gian chính là chái bếp. Và bên trái còn có một căn phòng bé, thật bé, có lẽ là phòng riêng của chị ta, có khoá; tôi giật tung ổ khoá nhìn vào, thấy bên trong có một chiếc giường… nệm với khăn trải giường và  hai chiếc gối, cả hai thứ đều trắng muốt phẳng phiu – những hình ảnh ước lệ mà các nhà-văn-có-lý-lịch-nằm-ổ-rơm thường dùng trong những phân cảnh mô tả những trò hủ hoá của các giai cấp bóc lột; và mùi hương ngọt ngào vẫn còn lẩn khuất trong phòng. Trên đầu giường tôi thấy một bức tranh màu nước, không lộng kiếng, vẽ một vùng cỏ xanh rối rắm, tựa cỏ tranh, bên trên là một hàng chữ Nga viết bay bướm, mới trông thì giống như những đám mây nhỏ, nhưng nhìn kỹ thì giống như mái tóc con gái – không hiểu sao tôi cứ đinh ninh đó phải là tóc con gái chứ không phải là tóc đàn bà – đang chờn vờn trên muôn nhánh cỏ. Hàng chữ viết tháu bằng mẫu tự Nga ấy là hai câu thơ Việt: Tiếng chuông của tôi nay đâu Chìm đâu khe suối hay mầu cỏ cây.  Tôi còn tìm thấy dưới gối một cuốn sổ mà tôi cầm chắc là cuốn nhật ký; và có cả chiếc roi đánh trâu của tôi cuộn quanh cuốn sổ, như một con rắn hổ mang đang bảo vệ Kinh Thiêng trong các bức phù điêu Ấn độ. Tôi thử giở vài trang, có trang viết bằng mẫu tự tiếng Nga, cố đọc vài dòng nhưng chẳng hiểu gì, có trang lại là thứ văn tự tượng hình kiểu như cổ tự Ai cập đầy biểu tượng chim, người, hoa lá, mãnh thú, nông cụ.

Bỗng, tôi nghe có tiếng trống cà rùng và tiếng hét, của nhiều người lắm thì phải: “Ðả đảo con đĩ Liên Xô! Ðả đảo con đĩ Liên Xô” và hình như họ đang tiến lại phía chòi. Tôi nhét cuốn sổ vào bụng, chạy tọt ra ngoài và thấy ngay một đoàn mấy thằng chăn trâu vừa đang hô hoán vừa hằm hè cầm mồi lửa chạy xốc tới. Thế nào mà chúng nó chẳng thấy tôi đang từ trong chòi “con đĩ Liên Xô” chạy ra!

Và bọn nó đốt chòi. Lửa cháy đượm phải biết! Gặp gió mà lại!

Ðột nhiên có thằng hô to:

– Ðập chết cha cái thằng dê xồm!

“Ủa chẳng lẽ là tôi?” – Tôi ngạc nhiên tự hỏi.

Không cần biết, tôi chạy thí mạng về hướng mặt trời. Chạy một đỗi, lạ quá, không thấy ai đuổi theo. Mừng rơn. Chắc lũ trẻ đang bận xem lửa cháy. Tôi còn nghe mấy thằng nhãi vừa vỗ tay vừa hát cả bài Kết đoàn kiểu mới Rừng núi giang tay nối lại biển xa11… sau lưng.

Khi hoàn hồn tôi thấy mình đang đứng trước bãi biển, thở dốc. Coi vậy chứ  bọn chăn trâu đâu có tha đâu tôi đâu mà đã vội mừng, vì loáng thoáng phía rừng tràm dọc bãi biển, tôi thấy chúng đang lội bì bọp như đàn trâu điên, tay đao tay mác, rõ ràng là đang rượt theo tôi, và lần này chúng hô một khẩu hiệu khác: “Ðả đảo cái thằng liếm lồn! Ðả đảo cái thằng liếm lồn!” Quýnh quáng, tôi ném luôn cuốn sổ ra biển, nhưng cuốn sổ cứ dật dờ bên mép sóng; những lượn sóng dữ bổ ập vào vẫn không nhận chìm được cuốn sổ; và sổ vẫn đóng kín. Khiếp quá vì sợ mấy tay đánh trâu chộp được, tôi nhảy vội lên cuốn sổ, dí nó xuống nước, nhưng bỗng nhiên tôi cảm thấy người nhẹ tênh tênh: Cuốn sổ mở toang lòng đưa tôi lướt phăng phăng trên điệp trùng sóng dữ, nhanh đến nỗi chưa hét xong “Giêsu Maria, lậy Chúa tôi!12“, tôi đã đặt chân khô ráo lên bờ biển đảo Bidong, Mã Lai.

Ở trên đảo ấy cũng có một nhà nguyện nhỏ cho những thuyền nhân tị nạn Công giáo, và một cái chuông ai đó gắn lẳng lơ trên cây bằng lăng tím ngát màu quê. Và, mỗi lần nghe chuông truyền tin trưa chiều, nhất là chuông chiều, thay vì đọc kinh, tôi lại bắt đầu chửi, chửi tôi đã không theo cô gái pha lê về nhà cha cô hoàng hôn hôm đó.

Sau này, khi đã được định cư, tôi mò mẫm học lại tiếng Nga (cố ý để đọc cuốn sổ tôi lấy trong nhà người đàn bà tự vẫn tên Ngọc, mà sau hơn hai mươi năm, qua bao sóng to gió cả, chữ vẫn còn rõ nét. ). Nhưng, khi học được tiếng Nga ở mức có thể đọc được các tác phẩm cổ điển văn chương Nga-la-tư, thử giở lại cuốn sổ để đọc, tôi lại đụng phải cái văn phong phù thuỷ từa tựa như văn phong trong những sưu tập sấm ngôn của các nước Bắc Âu nơi  tôi đang cư ngụ. Ấy là chỉ nói tới phần tiếng Nga; còn phần chữ  chim-cò, đành chịu thua.

Vào dịp sang viếng Rôma, Năm Thánh 2000, tôi mang theo cuốn sổ có ý để nhờ giám mục Nguyễn Văn Thuận, một vị chủ chăn vốn thông kim bác cổ, mà báo chí người Việt hải ngoại đã thuật lại là thời gian ở tù ngài còn cố gắng học đến thông thạo tiếng Nga, và còn soạn được cả từ điển Nga – Việt, để ngài đọc và giải nghĩa dùm.

Nhưng nghĩ ngợi loanh quanh, tôi lại thôi.

 

  Oslo, 6.8.00 – 3.11.02

 

(1) Angelus… (tiếng La tinh): Thiên thần của Chúa truyền tin cho  Maria. / Và bà đã chịu thai bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần… Và Ngôi Lời đã trở thành xác thịt./ Và ở giữa chúng ta. (Trích từ kinh Truyền tin, nói về chuyện sứ thần của Ðức Chúa Trời truyền tin cho Ðức Bà Maria về việc bà sẽ chịu thai Ðấng Cứu Thế Giêsu, theo Kinh Thánh Tân Ước. Người Tây họ gọi kinh này là kinh Angelus, vì chữ Angelus là chữ đầu của kinh, bản La tinh. Tôi, kẻ viết truyện này, khi cô gái đọc kinh này bằng tiếng La tinh thời nhớ lại ngay, vì phải học thuộc lòng kinh đó từ lớp 6, và bây giờ vẫn còn nhớ để chép ra đây. Còn câu thơ kỳ bí ở khúc sau thì chịu, không nhớ được.)

(2) Nga-la-tư: Tiếng dùng để phân biệt với nước Nga-xô-viết sau này.

(3) Pốp (tiếng Nga): dùng để xưng hô các linh mục Chính thống Nga.

(4) Luna (tiếng La tinh ) : trăng

(5) Virgil: Thi sĩ La tinh cổ đại; chính ra tên La tinh là Publius Virgilius Maro (70  –  19  tr. CN)  , sở trường về thơ đồng nội. Thơ của ông có ảnh hưởng nhiều nền thi ca Tây phương qua các thế hệ.

(6) Anastasia: Công chúa út của Nga hoàng Nicolas II, bị hạ sát cùng với cả gia đình, do chính lệnh của Lênin.

(7) Elohim (tiếng Do thái) : Chúa; ngoài ra Ðức Chúa Trời, trong Cựu ước, còn tự xưng ngài là Gia vê. Trong các bài kinh của đạo Chính thống Nga, người ta hay kêu thánh danh này.

(8) Chung: Âm Hán Việt có nghĩa là 1. chuông, 2. hết.

(9) Họ: Một xứ đạo chia ra nhiều họ đạo.

(10) Quasimodo (nam), Esmeralda (nữ): Hai nhân vật chính trong tác phẩm Thằng Gù Nhà Thờ Ðức Bà Ba Lê của nhà văn Victor Hugo.

(11) Lời của bài Nối Vòng ta Lớn của Trịnh Công Sơn.

(12) Giêsu Maria lậy… : Câu tán thán người Công giáo hay dùng.

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close