NTNV 11 – Mạng Nhện

Nguyễn Văn Thà

https://i0.wp.com/a9.vietbao.vn/images/vn899/150/2018/06/20180622-me-hoac-ve-dep-cua-co-nguoi-mau-da-den-nhu-than-1.jpg

Trực được cha mẹ thương nhiều. Thương nhiều, và thương khác thường, vì anh là con trai một, và cũng vì cuộc đời anh nhiều gian nan.

Khánh Hội vốn là nơi quần tụ của những tay anh chị. Sau năm 75 lại còn  là nơi lẩn trốn của những thành phần có tội với nhà nước; thường là những tội chẳng liên quan gì đến chuyện lật đổ chính quyền: tội hình sự, trốn kinh tế mới, vượt biên không lọt. Trực phạm vào loại tội cuối cùng, cũng vào trốn ở đó.

Trước đó Trực cũng đã cố lẩn tránh trong các khu rẫy hẻo lánh của người quen ở Long Khánh nhưng không ổn, vì những con mắt bao dung hiền lành của dân quê bao thủa đã thoái hoá bởi cái chính sách hộ khẩu vô nhân của nhà nước mới. Rồi vào ở đại nhà bà cô ở quận Một, Sài Gòn, cũng không yên với những con mắt thị thành. Những con mắt trần gian1. Cái chế độ kiểm soát đường đi nước bước của người dân như những vòi bạch tuộc khổng lồ vươn ra cả nước. Nó xoi mói, nó bóp nát con người.

Nhưng ở Khánh Hội cái vòi bạch tuộc gớm ghiếc đó bị tê liệt phần lớn. Một phần vì công an khớp, một phần các tay anh chị xem ra bận rộn vì những chuyện khác ngon lành hơn là chuyện tâu trình. Và đấy cũng là nơi sinh sống của những người dân hiền lành bình thường như gia đình ông y tá Ðức, gia đình cô gái đối diện nhà ông…

Nhà ông y tá Ðức là một loại nhà sàn khá tươm tất cắm trên một đám sình bên đường cùng với mươi cái chòi xập xệ chung quanh. Nhà ông lan can nho nhỏ,  cái bằng tre khá nghệ thuật. Ở một góc gần cửa ra vào, chổ nối liền với cây cầu nhỏ khum khum vươn ra đằng ngõ hẻm, đặt một chậu hoa giấy cao cả thước; lá trốn đâu hết, cây cành kết kín bằng muôn trái tim hồng he hé; ngàn cánh hoa nhẹ nhàng thanh khoái như những lá tình thơ đầu đời của những nàng thiếu nữ một lần ghé qua cài lại. Phía trên chậu hoa, lủng lẳng một bảng hiệu vuông, đã nhạt màu, có vẽ hình chữ thập đỏ chiếm gần hết bảng, và dưới chữ thập đỏ là hàng chữ: Y tá Trần Hữu Ðức, 25 năm  kinh nghiệm. Chữ viết nghiêng, màu xanh lơ đậm, khá mỹ thuật của những bảng hiệu ở Sài Gòn trước kia. Nhà ông xinh xinh như một nhà mát ven hồ.

Trực nghĩ các người sống trong những mái nhà sàn này chắc là đã quen với mùi sình, nếu không thì làm sao người ta, như ông y tá Ðức chẳng hạn, có thể sống ở đây ngày này qua ngày khác, đã thế còn đủ ung dung để chăm bón được một chậu hoa giấy thơ mộng như vậy. Lúc Trực còn lóng ngóng trước cầu khỉ tính vào nhà ông y tá để nhờ chích thuốc lao, anh còn nghe được cả tiếng ca vọng cổ mùi rệu từ nhà ai cuối đầm: Mười năm tình cũ dìa đây  Ðầm sen hương  mới  anh Hai cưới nàng  Tình tang ơi ới tình ớ tang Sen bao nhiêu cánh thương nàng bây ầy ấy nhiêu… Và có cả tiếng cô nàng nào đó đang hát tân nhạc, nhạc Trịnh Công Sơn, nghe đâu như: Mùa Xuân yêu em  Ðồi núi thênh thang Hồ nước long lanh ngàn cánh vàng.

Rồi Trực, cũng như họ, quen dần, và sống ở đó được cả sáu tháng. Gần chục năm nay, có thể nói đây là thời gian êm đềm nhất của Trực. Êm đềm vì không phải lo lắng gì chuyện cư trú, dù chỉ là tạm trú.

Chính ông y tá Ðức, sau khi chích mũi Streptomicine, bắt đầu rà rà hỏi chuyện Trực, và khi biết anh cần một nơi ở tạm để trị bệnh, ông cười hề hề:

“Cậu cứ ở đây với chúng tôi, vụ hộ khẩu khỏi lo.”

“Sao mà ngon lành quá vậy!? ” – Trực kêu lên, sướng như hồi nhận được giấy phòng thích hai năm trước đó.

Nói như thế quả không ngoa chút nào cả. Vì lúc trước, tuy phải ở trong tù lâu năm, nhưng những  năm dài trong vòng giam hãm của những con người đại diện cho một chế độ chủ trương và áp đặt một  ý thức hệ tồi tệ nhất trong lịch sử văn minh loài người, Trực đành chấp nhận nó như một thiên tai. Nhưng khi được thả về, lòng Trực vẫn còn hy vọng, không phải về cái ăn cái mặc mà Trực biết đã tả tơi lắm rồi, nhưng ít nhất về những cái cội rễ làm nên con người vẫn còn đó, dù có phôi pha. Thế mà, khi về  quê, Trực bàng hoàng nhận ra là niềm hi vọng về một nhân tính tương đối như thế cũng chỉ là ảo vọng. Những người quen, những người chòm xóm của anh, trước đây tắt lửa tối đèn có nhau, nay làm cái chuyện tố giác người khác một cách rất tự nhiên. Nhiều người đã biến hình như thế. Quá nhiều. Ðấy là lý do làm Trực phải trốn chui trốn nhủi mấy năm nay. Phải chăng bốn tên trảo nha đóng chốt ở xã Bình Trị của Trực, chỉ trong vòng mấy năm, đã thành công trong việc đập tan cái lòng nhân ái mà tổ tiên bao đời ra sức dạy dỗ, bồi đắp? Có  còn gì để mà tin vào tính bản thiện của con người được nữa không?

Vậy mà chỉ sau mấy tháng ở quận Tư Khánh Hội, Trực cảm thấy dần dần tin yêu lại con người. Anh ở đấy sáu tháng, không một lần bị hỏi hộ khẩu. Nghĩa là những tay du đãng, những chị bán dâm, dân xích lô, chợ trời, chẳng ai hơi đâu đi làm cái chuyện đâm thọc, dù họ biết dư anh chàng thanh niên ở trong nhà ông Ðức, không trốn nghĩa vụ, trốn kinh tế mới, cũng trốn vượt biên. Y tá chích thuốc đâu mà chẳng có, việc gì mà phải tốn tải  ăn ở nhà ông Ðức y tá tay ngang!

Nhờ tiền công chích thuốc, tiền thuê nhà (thuê giường thì đúng hơn) Trực trả, ông bà Ðức có thêm một lợi tức nhỏ để đủ mua ngày vài lon gạo mốc, dăm mống cá nhỏ, một bó rau muống, và một bó que củi bần nằm lọt trong lòng tay. Trực còn là người để ông quảng cáo cho các bệnh nhân khác tài nghệ chích thuốc của ông: “Cái anh Trực này bằng này cấp nọ cũng chịu là tui chích hay…”  dù Trực chẳng bao giờ nói về cái thành tích học vấn vốn  chẳng có gì đáng hãnh diện của mình. Chắc có lẽ vì đôi kính cận, vì cái thói hay đọc sách.  Và xem ra cũng vì thế mà con nhỏ nhà bên kia đường hay lảng vảng trước thềm làm ra cái vẻ đứng hóng mát nhìn qua nhà ông Ðức.

“Bà Ðức ơi, con nhỏ nhà trước mặt tên gì vậy?”

Ông Ðức đỡ lời ngay:

“Người ta con nhà cách mạng, con cán bộ gộc nằm vùng đó ông! Con nhỏ tên là Phượng Vân, đang học trường cao đẳng nghệ thuật thành phố. Nó cứ bị tụi trong xóm gọi là “Vân Mát”. Có lẽ vì cái tính nó cứ hay nói những chuyện tàng tàng không giống ai. Ðang học, bỏ ngang… Gì thì gì,  đừng có xớ rớ mà chết đó nghe ông. Ông như cá nằm trên thớt.”

Bà Ðức cười:

“Cứ gì mà phải vướng vào cô ấy. Mù loà đã lâu như tôi mới thấy rằng tấm lòng mới đáng quí. Như con nhỏ Dên Ðen thỉnh thoảng qua giúp nấu cơm nấu nước cho chúng tôi đó! Nó thật tốt; mà bơ vơ tội nghiệp. Cha thì đã đành rồi, còn mẹ, mà mẹ bỏ đi đâu, cả năm sáu tháng giời nay chưa về. Hay là mình nói với nó nấu nướng giúp cho cậu ấy, rồi cậu giả công cho nó.”

 

Ðêm đã sâu lắm, những thoáng gió khuya mát lành, nhẹ nhàng như những vạt áo lụa vô hình rón rén lướt qua khu phố loài người lúc này đã xếp lại cái nanh vuốt của mình. Cái sột soạt của gió làm cho đêm càng thêm yên ắng. Ðường phố nhỏ bày ra những đìu hiu thường tại mà nắng ngày lấn át mất tăm, cái đìu hiu nẻo về quê cũ mà thị thành tàn nhẫn xua đi.

Ðàn bò vào thành phố, đêm buồn vắng buồn hơn  Ðàn bò vào thành phố, không buồn ai hỏi thăm Ðàn bò tìm giòng sông nhưng giòng nước cạn khô Ðàn bò bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn Rồi một hôm đứng mơ mây ngàn…2

“Ðêm khuya khoắt mà ai đang hát!?”

“Em, em đang hát về những lạc loài muôn kiếp nhân gian!”

“Mà cô là ai ?”

“Em là anh… anh… anh… anh…

Và anh cũng là em… em… em… em…”

Nghe  như vọng âm  dội về  từ Ba Ngàn Thế Giới.

Rồi tình âm lọt thỏm về Vô.

 

Ðài truyền hình CBS độ rày hay thực hiện và trình chiếu các chương trình về Việt Nam thời hậu chiến, một cuộc chiến mà họ kiếm được bộn bạc, và giờ còn muốn kiếm thêm nữa. Ðó là chương trình về các cựu chiến binh Hoa Kỳ đang lâm vào cảnh khủng hoảng tinh thần, sa đọa nghiện ngập; hoặc về những chuyến đi thăm lại chiến trường khủng khiếp mà thủa thanh xuân họ đã phải trải qua, hối hận khóc lóc, cạnh mấy anh nón cối hom hem gân cổ tung hô thần thánh.

Hoặc những chương trình về các con lai Mỹ.

Phim có đoạn chiếu cảnh các cô gái Việt lai Da đen đang làm việc trong các xưởng lắp ráp điện tử, hoặc trong các viện bào chế dược phẩm. Cô nào cũng áo khoác làm việc trắng tinh, mủ trùm đầu cũng trắng, có cô còn đeo cả kính cận, trông ra cái vẻ giai cấp tiên tiến cùng mình. Họ nói tiếng Mỹ giọng vẫn còn lanh canh tiếng rao hàng gánh; và tiếng cười họ trong trẻo, mà dù có kiểu cọ  mấy, cũng vẫn không dấu đi đâu được cái gốc con cô Bảy, thím Ba. Có kẻ thành công có, nhưng cũng có kẻ thất bại.

Rồi tới khúc phim giữa, trình chiếu một người mẫu đang nổi tiếng người Việt lai Mỹ đen Black Lotus. Cứ theo lời bình luận của chủ nhiệm tạp chí thời trang Idol, vốn là một nhà văn làm phóng viên ở Việt Nam lâu năm, thì nàng có thân hình hấp dục của những loài mãnh thú cái Phi châu, nhưng đôi mắt nàng là đêm sao xứ Việt, và người ta có thể nghe từ trong đôi mắt ấy tiếng sóng Biển Ðông u uẩn niềm riêng.

Khúc sau chiếu cảnh gia đình êm ấm của kiều nữ Black Lotus. Có tiếng nhạc Jazz thấp thoáng dấu chân du mục. Nàng cười an lành cạnh anh chồng người Việt  da vàng. Và nàng tựa má lên đỉnh đầu chồng mình, tay phải vòng qua ngực chàng và bám lấy cổ chàng như gìn vàng giữ ngọc. Phóng viên còn cho biết thêm: Chồng cô làm nghề quản thủ thư viện, lương chỉ bằng một phần năm mươi của Black Lotus; hai người đã có một con trai, tên cháu là Truc; Truc dịch ra tiếng Anh có nghĩa là Integrity, mẹ cháu cho biết thêm như vậy.

Cuối thu. Trực còn hai tuần nghỉ phép chưa đụng tới. Con nhỏ đốc công cứ hối Trực đi nghỉ để cho cô ta dễ thu xếp nhân lực cho mùa Giáng sinh bận rộn nhất trong năm.

Và, sau khi đã gởi tiền về giúp người thân ở Việt Nam, cái nợ lòng cả năm nay coi như thực hiện xong, Trực cảm thấy thanh thản. Và cái thanh thản đó biến thành lâng lâng lúc Trực bấm máy biết trong trương mục cũng còn kha khá, rồi cái lâng lâng đó trở thành sung sướng, khi thấy số tiền đó đủ cho anh làm một chuyến du lịch, du lịch sang Nga!

Hồi ở Việt Nam, Trực đã mê mùa thu Nga La Tư qua những bức tranh vàng rượm màu thu thần thánh với nét cọ hào phóng của Levitan, in lại trong những cuốn tranh giới thiệu các danh hoạ Nga anh mua được ở nhà Fahasa. Mới đây lại đọc được mấy bài ký Nga du của PPM; tác giả viết về đá Nga thiệt hay. Rồi chợ Vòm ở Mạc Tư Khoa, cái chợ mà, qua bài viết của một người đã từng lăn lộn ở Nga, cho thấy cái sức sống mãnh liệt của Con Người Việt, cái giống người, như loài lan rừng, chỉ cần một chút vỏ cây mục, hay một hốc đá, và một chút ánh sáng là có thể sống, lại còn vươn lên đẹp đẽ. Và rồi những giáo đường củ hành danh tiếng. Công trường Ðỏ, điện Cẩm Linh. Ấy là chưa kể cái xác của ông Lê Nin, cũng nên xem cho biết, để xem cái xác đó là xác thật hay chỉ là búp bê bằng sáp như lời đồn đãi về cái thi hài hiện nay của người học trò kiệt xuấ tcủa ông, ông HCM.

 

Mạc Tư Khoa cuối thu linh thiêng lắm! Cái linh thiêng của trời biếc, của màu thu phô ra lần chót trước khi bước vào cửa tử.

Những ngày như thế không gì thích hợp cho bằng đi thăm những nhà thờ củ hành với cái lối kiến trúc nhắc về một cõi huy hoàng siêu việt, mà con người hoặc hờ hững, hoặc chối bỏ, nhưng chốn vĩnh hằng ấy vẫn kiên nhẫn chờ mong.

Nhà thờ của tu vịện Chúa Ba Ngôi, bắc Mạc Tư Khoa, lộng lẫy trong trời xanh độ lượng nắng tơ ươm, với những chóp đỉnh vươn lên tràn trề sức sống hiến dâng như những bầu vú vun tròn của Bà Mẹ Nga rộng rãi ban tặng cho con cái mình giòng sửa sung mãn từ những cánh đồng Nga đất đen màu mỡ lúa khoai.

Mới sáng sớm mà trước nhà thờ đã nhiều du khách, có cả du khách đầu đen châu Á. Chắc là người Nhật, (cứ nhìn cái kiểu lúc nào cũng cứ lăng xăng chụp ảnh cũng đủ biết) , ngoại trừ một thiếu nữ đang đứng yên lặng ngắm nhà thờ; cô như đang uống cho bưa cái tuyệt vời của công trình con người đang giao hoà với vẻ rỡ ràng Tạo Hoá. Trực bỗng nãy ra cái ý định làm quen. Biết đâu lại xảy ra nhiều chuyện hay: Hỏi cô ta về mùa thu Hoa Cúc Phù Tang; và biết đâu lại được nghe những bài hài cú mong manh lá thu, xót xa sương núi. Why not?  Và biết đâu chừng -Trực cười nụ – tơ vàng nhân ngãi lại có dịp trói đời hai người! Vì mùa thu là mùa của kiếm lạnh ghê người chặt đứt mọi phồn tạp lá hạ, thu về những mạch sống chưa chung.

“Con ni chi wa! Anata wa Ni hoóng dìn đề xừ cá?”  (Chào cô, cô có phải là người Nhật không?)

Con nhỏ người Nhật xoay lại, sững sờ nhìn Trực, và kêu lên bằng tiếng Việt, lại còn chơi luôn một hơi giọng Sài Gòn, gấp gáp như trời sắp sập đến nơi:

“Trời ơi, có phải anh Trực đó không? Em là Phượng Vân, ở Khánh Hội, nhà trước nhà ông y tá Ðức hồi đó đây… Anh là Trực đây mà! Gặp anh mừng ghê… Anh Trực biết không, em linh tính thế nào cũng gặp lại anh… Mà anh ở nước nào sang đây vậy?”

“Vâng, tôi nhớ ra cô rồi… Tôi từ Mỹ sang, mà cô sang Nga từ hồi nào?”

“Em sang đây làm mướn cho người Nga, đã năm năm, sau khi anh bỏ Khánh Hội ra đi mấy hôm. Hết làm thuê rồi. Em có sạp hàng đằng chợ Vòm. Hôm nay bỏ một bữa chợ đi xem nhà thờ.”

“Tại sao?”

” … Tại vì Trời Ðất dun dủi, tại vì em mê môn lịch sử kiến trúc giáo đường Nga… Mà mình ra cái quán cà phê đằng kia nói chuyện cho ấm.” – Rồi bỗng nàng nửa đùa, nửa nghiêm trang – “Và anh Trực nghe đây!”

Trực trố mắt:

“Nghe cái gì?”

“Lần này em không để cho cái phẩm hạnh vớ vẩn nào đó làm tuột anh một lần nữa. Lần này em nhất quyết bắt cho được anh!”

Nàng ăn nói như thể nàng đã viết sẵn kịch bản cho hai đứa, kịch bản về một cuộc đời chung đôi, mà nàng đã viết vụng về khi còn ở bên quê nhà Khánh Hội.

 

Mẩu đối thoại trong quán:

“Phượng Vân nói là Phượng Vân linh tính có ngày sẽ gặp tôi?”

“Em cứ linh tính như vậy, không biết tại sao. Anh biết không, nhiều lúc cái gọi là linh tính cũng có dựa một phần nào đó trên những yếu tố khả thi? Ví dụ em sẽ gởi thư hỏi ông bà Ðức về địa chỉ của anh. Ông bà ấy đã dùm bọc anh một thời gian khá dài, trước khi anh có cơ hội vượt biên. Nếu không có ông bà, biết đâu bây giờ anh đang kẹt trong một trại cải tạo XYZ nào đó. Chẳng lẽ anh lại không tỏ lòng biết ơn ông bà ấy, dù chỉ bằng một lá thư? Và, ví dụ, em sẽ đăng báo tìm anh; anh là con người thích sách vở mà lại!”

“Như vậy là hồi đó đã thương dữ lắm?”

“Chớ sao nữa! Thương trằn trọc, ngày đã đành, mà đêm cứ mãi hé cửa sổ nhìn sang… Và này, anh có biết không… nếu không nhờ em nói với ba em, anh đã bị tóm ngay từ những ngày đầu? Ông Ðức kẹt tiền cứ cho anh ở đại để kiếm chút đỉnh sống qua ngày; chứ Khánh Hội nếu có dễ ở là đối với những thành phần khác kìa, còn anh đã đeo kiếng, đã thế lại lúc nào cũng dại dột cầm sách trên tay…”

“Phượng Vân nói gì với ông ba?”

“Ðất nước mình cần những người cầm sách như anh ấy…”

” ……”

“Sao anh lại khóc?”

 

Mẩu đối thoại ở trong phòng ngủ nhà Trực, Harlem, New York, Hoa Kỳ:

“Hồi đó đêm đêm bộ không thấy người ta nhìn sang hay sao mà cứ ngồi nghe con nhỏ Dên Ðen hát hoài vậy?”

“Biết quá đi chứ, nhưng những đêm ấy anh mê đắm, trầm luân theo tiếng hát của Dên hát những bài ca hoang dại. Nhất là bài Du mục, cô ấy  hát hay diệu vợi, cứ nhắm mắt như thể đang đắm mình xuống tận vực thẳm, như thể uống cho hết cái đắng đót của thân phận lạc loài. Dòng giống của cô ấy vốn là một dòng giống luân lạc từ bao thế kỷ. Cô ấy càng bị bơ vơ trong cái xã hội Việt Nam kỳ thị hiểu theo nghĩa hợm hĩnh, kiêu ngạo thái quá. Ðã thế sau 75, cô ấy giống như một bãi phân trâu trước mắt của những kẻ chiến thắng. Ruồng rẫy. Ðói khổ. Thương quá!”

“Mà anh cũng thích cô ấy chứ, em muốn nói về mặt thân xác? Phải công nhận con nhỏ có cái thân hình thiệt sexy ; thân thể của người nữ Phi châu nó có cái hấp lực của loài mãnh thú, cái hồn hậu thô nhám sáng thế nguyên sơ.”

“Anh có thích đấy! Lúc đầu ông bà Ðức kêu cô ấy đến để giúp thổi cơm cho anh. Nhưng lấy ý tứ mà suy, thì thấy ông bà ấy cố ý muốn tạo cơ hội cho anh quen với cô ta. Cho đỡ buồn! Ðỡ buồn mà chẳng sợ rắc rối, vì cô không phải là một đối tượng đáng gì để cho những người đàn ông con Rồng cháu Tiên dây mình vào. Mà đỡ buồn thật, vì cô ấy đúng là một perle noire5 trong tranh của Gaugin, nơi đồ gốm của Picasso, hoặc trong tiểu thuyết của Pháp… Ðã thế cô còn có giọng hát đầy u uẩn của đêm tù tội, của những nhọc dài kéo lê từ muôn kiếp về.

Thấy anh có vẻ trân trọng cô, cô cảm động thực sự. Và, đằng gì cô ta cũng đang vào lứa tuổi mười tám đôi mươi. Cái tiến trình tình dục là một tiến trình tự nhiên, và phải nói là mạnh mẽ, nhất là cô lại chịu ảnh hưởng di truyền từ dòng giống cha cô.

Thế rồi, một đêm, Dên bỗng ngỏ ý với anh: ‘ Em thế nào cũng đi được theo diện con lai. Anh Trực cưới em đi, cứ làm giá thú với em! Cưới giả cũng được… Qua Mỹ anh bỏ em cũng được. Em biết anh đang bị kẹt. Anh ở đây lâu nguy hiểm!’

Và Dên khóc. Yêu mà không dám mong báo đáp. Những giòng nước mắt bóng tối thương anh…”

“Tội nghiệp con nhỏ! Sao anh không chịu cưới?”

“Thì cũng xui! Có hôm em gái của anh ngoài quê đưa tiền vào cho anh tiêu; bà Ðức vui miệng kể chuyện anh với cô Dên cho nó nghe. Dĩ nhiên sau đó mẹ anh biết được, đích thân đi vào Sài Gòn gặp anh; bà khóc lóc: ‘ Mẹ nuôi con ăn học. Mẹ nuôi con tù tội. Bây giờ lại nuôi con đi trốn. Con mà lấy con mọi đó, mẹ nằm lăn giữa sân mẹ chết! ‘ Vả lại, anh đâu có giấy tờ hộ khẩu hợp pháp để mà làm giấy giá thú. Anh thiệt khó xử hết sức. Còn chưa biết tính sao, thì đùng một cái, mẹ anh cho người vào đưa anh đi vượt biên gấp. Lúc đó Dên lại đang về thăm bà ngoại đâu dưới Vĩnh Long. Thương nhau mà khi ly biệt chẳng thấy mặt nhau.”

“Con nhỏ, mấy tuần sau khi anh bỏ Khánh Hội mà đi, chết dưới sình…”

“Hả! Em nói sao!?”

“Ba em viết thư qua cho em kể rằng mẹ của Dên sau một thời gian dài trở về, không thấy Dên đâu, bà hoảng đi tìm, mà không thấy, thì khoảng tuần sau thấy xác Dên nổi lên trên đầm sình. Có thể cô ấy đã tự tử, nhưng cũng có thể đêm hôm bị té xuống cầu khỉ, hoặc bị ai hãm hiếp rồi giết chết quăng xuống sình phi tang. Ba còn nghe mấy người bán hàng rong kể là có đêm, đi bán về khuya hai ba giờ sáng, họ thấy xác của cô ta  nằm chơi vơi trên đám sen trắng mọc trong đám sình cạnh nhà sàn của cô… Có phải sen nâng cô như đỡ lấy mảnh linh hồn thanh khí?”

” Chao ơi!”

………….

“Em biết không, có một đêm, khuya khoắt yên ắng, đang hóng gió trước hiên, anh nghe có tiếng người nữ hát bài Du mục, anh nghe cả tiếng thì thầm hư huyễn. Sau này, khi đã mặn nồng, anh có kể lại cho Dên nghe, và hỏi đó có phải là tiếng hát, tiếng thầm thì của Dên, Dên lắc đầu không biết.”

“Hồn của Dên đó anh!”

“Vào thời điểm đó Dên đã chết đâu!”

“Kiếp người là quá khứ hiện tại vị lai hiện tại vị lai quá khứ vị lai quá khứ hiện tại…”

“Em nói gì vậy!?”

“…Việt Nam Nga Mỹ Nga Mỹ Việt Nam Mỹ Việt Nam Nga… Chốn nào đi nữa thì tất cả cũng chỉ là sợi tơ nhện ngắn chưa đầy gang, mong manh sợi liền sợi đứt, của cái mạng nhện có tên Ta Bà Thế Giới treo giữa Vô Thỉ Vô Chung.”

 

Oslo, 19. 10. 01

 

(1) Những con mắt trần gian: Tên một bài hát của Trịnh Công Sơn.

(2) Ðàn bò vào…: Trích từ ca khúc Du Mục của Trịnh Công Sơn.

(3) Idol: Thần Tượng

(4) Harlem: Khu phố người Mỹ Da Ðen.

(5) Perle noire: Ngọc trai đen, đặc ngữ người Pháp hay dùng để chỉ những người đàn bà đẹp Da đen.

(6) Ta Bà Thế Giới là cõi Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới, gồm Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, Ðại Thiên Thế Giới; và mỗi Ðại Thiên Thế Giới có 1000 Trung Thiên Thế Giới; mỗi Trung Thiên Thế Giới lại có 1000 Tiểu Thiên Thế Giới = 10003 thế giới = một tỷ thế giới. Từ ngữ Ba Ngàn Thế Giới” hoặc “Thế Giới Ba Ngàn” dịch từ đó. Ngoài ra “Ta Bà” còn có những nghĩa khác (theo Từ Ðiển Phật Học của Ðoàn Trung Còn) .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close