NTNV 3 – Người Thích Nhìn Vú

Nguyễn Văn Thà

Bilderesultat for black girl art statue

Anh Y Ban, chủng sinh người Rađê, học tiếng La tinh và tiếng Pháp mãi không vào, nhưng anh lại rành tới ba thứ tiếng Thượng. Thời gian học chung ở chủng viện Phụng Sự, tôi tò mò học với tiếng Rađê với anh; và rồi  lỏm bỏm cũng được đôi câu.

Mùa Hè Ðỏ Lửa Bảy Mươi Hai, một ông cố tây, linh mục nghĩa phụ của anh, tới thăm anh. Cha cũng biết nói tới ba thứ tiếng Thượng như anh Y Ban, nhưng cha nói sõi tiếng Ba na nhất vì cha đang coi sóc một xứ người Thượng Bana. Anh nói trôi chảy tiếng Bana với cha, khác hẳn cái vẻ khổ sở trong những giờ sinh ngữ, cổ ngữ. Một người học dốt như anh đáng lẽ đã bị đuổi từ lâu, (không biết tại sao trong các nhà dòng người ta hay dùng cái động từ kỳ cục này) , nhưng tôi nghĩ vì anh hiền lành, quá hiền lành so với các chủng sinh người Kinh, nên cha giám đốc vẫn giữ anh lại. Cha tây người gầy gò, tóc đỏ bù xù, không biết tóc vốn đỏ hay đỏ màu đất Tây nguyên; tóc thì không chắc, nhưng cái quần tây ka ki vàng và chiếc áo sơ mi trắng lấm lem màu đất Tây nguyên thấy rõ; tay cha đeo một vòng đồng Thượng; lưng còn đeo cả chiếc gùi khơi khơi đứng giữa cơ ngơi chủng viện lúc đó mới xây xong mà lối kiến trúc, tuy người vẻ kiểu nhà đã cố tạo cho nó một cái vẻ khó nghèo theo tinh thần Phúc Âm và lời khấn khó nghèo, nhưng khó mà dấu hết được cái vẻ sang cả: La pauvreté, c’est riche1. Cha đến từ núi rừng với những con người mà mới đây thôi vẫn còn nguyên sơ như thời Sáng thế. Nhưng bây giờ, những người Thượng ấy, vốn đã tơi tả, nay càng tả tơi thêm trong một cuộc chiến giữa người Kinh với người Kinh kéo dài đã hơn hai mươi năm. Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết. Ruồi muỗi, người Thượng. Người Thượng, ruồi muỗi. Ai trâu bò, ai ruồi muỗi? Trong đôi mắt của cha tôi thấy bom đạn và những tiếng khèn cố vươn, nhưng vươn không nổi giữa núi rừng Tây nguyên âm u nghiệt ngã.

Hôm đó cha không vào nói chuyện, thường là về lý tưởng tu trì, với các chủng sinh trong giờ huấn đức như mỗi lần có các giám mục, các linh mục, đặc biệt là những vị người Tây, đến thăm chủng viện, mà cha chỉ đứng trước hành lang cầm tay anh Y Ban nói chuyện, ra chiều an ủi điều gì đó; và anh lặng lẽ nhìn cha. Ở với anh trong chủng viện đã hơn năm năm, tôi chưa thấy anh khóc hoặc bộc lộ một hình thức tình cảm nào quá mức. Nơi anh người ta thấy một dáng núi vô tâm, một ngọn núi mà, thiện nam tín nữ của các thứ tôn giáo được trang bị bằng những thứ bùa phép như Bát Chánh Ðạo, Mười Ðiều Răn…, đã và đang cố sức trèo lên mà vẫn cứ rớt xuống hoài. Tôi đến bắt tay chào cha và nói với cha đôi câu tiếng Rađê tôi học mót anh Y Ban; nhờ đó tôi biết tên cha là Giovanni, và quê cha ở Toscana; và dĩ nhiên cha là người Ý, (chi tiết này và một số chi tiết khác anh Y Ban đã cho tôi biết từ lâu.)  Cha có vẻ thích thú khi nghe tôi nói tiếng quê hương thứ hai của cha. Và cha ra đi mang theo trên chiếc gùi của cha, mà không biết, một nỗi khát khao mới chớm trong tôi.

Kỳ nghỉ hè năm ấy, tôi không về quê làm ruộng như mọi năm, mà lại nãy cái ý lên thăm xứ Thượng của anh Y Ban, thăm và không muốn báo trước. Không biết sao lúc đó tôi cứ thích đi cho bằng được, mặc dù, vì tình hình chiến sự lúc đó, chính anh phải ở lại chủng viện. Có một động lực nào đó cứ thúc tôi, đẩy tôi, thật mạnh, về núi rừng Tây nguyên hùng vĩ đang vào mùa hủy diệt. Tuổi trẻ vốn nồng say hơn mọi thứ rượu trần gian, cụ Goethe đã từng phán như vậy; mà rượu ai cũng biết là nó làm người ta tàng tàng!

Tiếng súng ầm ì suốt quốc lộ loang lỗ, lầy lội, đầy “ổ trâu”; nhưng con đường từ quận Ðắc Tô vào buôn của anh Y Ban mới thực sự bầm dập thương tích chiến tranh: đường rừng đất đỏ nham nhở vết thương, tán cây bị bom phạt tơi tả, những xác cán binh Bắc Việt chưa kịp nhặt còn nằm sấp mặt cạnh những hố bom, ruồi nhặng dưới ánh nắng trưa lóng lánh như vô số ngọc quý đính trên lớp quân phục xanh xanh màu lá của họ. Không hiểu sao tôi chẳng cảm thấy sợ hãi; cứ hăm hở đi như những ngày thơ bé, khi đọc truyện Kinh Thánh Bằng Tranh, mải miết lướt qua các trang để xem trước những trang minh họa các trận đánh giữa dân Do Thái với những giống dân Canaan bản địa. Ai nói hoả ngục không hấp dẫn, ai nói tàn phá không gọi mời? Tôi lúc bấy giờ đã là một thanh niên mười tám tuổi, nhưng thực ra gã trẻ tuổi ấy chỉ là một thằng bé con đang mở to con mắt nhìn giòng lịch sử của dân tộc mình, một lịch sử máu xương quá lớn với những mảng màu chiến tranh sắc mạnh đến nổi đôi lúc nó cứ ngỡ cuộc chiến ấy chỉ như một trò chơi của những đứa to đầu mà dại ném vào nhau những nắm bùn đen đỏ; các anh lính, như những anh cán binh Cộng sản đang nằm sấp cạnh cội cây, chỉ là những chú bé chơi nghịch đã đời, nằm ra đó nghỉ mệt, chờ về nhà nghe một lời quở trách của mẹ, một cái bạt tai của cha, trước khi quay quần ăn bữa ăn tối, hay như anh lính Quốc gia đang đăm đăm nhìn xuống giòng nước dưới chân cầu tôi sắp đi qua đằng kia; tôi dám chắc là lúc nầy anh chẳng nghĩ nhiều về trận đánh mới xong: một con cá lóc trui, một tô canh chua, một buổi chiều nắng tắt nước chè xỉa răng xua muổi vu vơ lang thang trong trí nhớ. Anh lính quay lại thấy tôi, mặt sắt đen sì, nhưng cái mặt sắt ấy rớt ngay nhường chổ cho nụ cười hiền lành phô mấy chiếc răng vàng miền Tây:

– Chú em đi đau đó?

Tôi ngạc nhiên khi nghe một câu hỏi thanh bình dân dã giữa vùng chiến trường khói súng chưa tan.

– Dạ, em đi vào buôn Ða Rưng, thăm ông cha tây.

– Chú em dâng đi tu phải hông?

– Dạ.

– Tui đoán hỏng sai. Tui cũng có thằng em đi tu như chú mài. Thẳng tu ở tiểu chủng diệng Dĩnh Long… Cách đay máy tiếng tui có tháy ong cha tay đạp xe woa đay. Mà thôi, dô trong bót nài làm bậy miếng nước trà cho ắm bụng chờ cha dìa, ổng chở chú dô trỏng luông… Tui thấy cha cứ đạp xe đi làm phước đau trong mấy cái buông tậng trong rừng xa woài. Cha thiệc là con ngừi hy sanh quá chừng chừng! Cứ đi như dậy có ngày mấc mạng. Mấy thằng Diệc Cọng thế nào có ngài cũng bắng cha bể đàu. Tụi nó có coi ong cha ong cố ra cái gì đau!

– Có chứ anh Hai: cha mà lại cha tây đố anh chàng Việt cộng nào dám bắn. Anh không biết đất Pháp là đất dụng võ số một của mấy người lẻo mép. Cho nên không lạ gì mấy ông Việt cộng chọn Ba lê làm nơi thương thuyết. Ðụng vào mấy ông cố tây là có chuyện lớn.

– Hèng chi thấy cha đêm hôm cứ đi khơi khơi. Mấy thằng du kích chắc cũng biết dạy.

– Chúng nó thì biết cái gì, chúng chỉ thi hành lệnh của mấy tay đầu sỏ trung ương.

– Chú em nói có lý đó chơ! … Mà nài, nghỉ hè mà đi chi vô trỏng cho nguy hiểm, dả lại ở trỏng buồng thúi ruộc!

– Dạ, tại em thích.

– Kỳ hong!? Mà sao không báo trước cho cha ra đóóng?

– Dạ, tại em thích như vậy.

– Lảng òm!

“Thôi, dô trỏng thăm cha rồi dìa cho mao!” là câu dặn dò cuối cùng của anh lính, trước khi tôi trèo lên xe đạp để cha Giovanni chở về.

Cha nhận ra tôi ngay; nhưng khi biết được mục đích của chuyến đi có vẻ không giống ai của tôi, xem ra cha không có vẻ ngạc nhiên và hình như cha cũng không rảnh trí để mà ngạc nhiên. Cha chỉ buông thỏng: “Bene1!“, rồi lầm lủi đèo tôi đi, dõi theo bóng núi phía trước đang đè dần rừng chiều; và áng chừng nó cũng đang trùm lấp tâm tư của cha Giovanni và của tôi, một kẻ đang hăm he trở thành như cha. Chúng tôi là những thành viên của một bộ lạc buồn, bộ lạc linh mục, những kẻ phải tự tha hoá mình: Alter Christus3. Những kẻ phân thân mấy ai hạnh phúc. Chúng tôi cũng có những chiến trường và thường chúng tôi là những kẻ thua trận. Mang đầy thương tích tìm ngưỡng cửa Thiên Ðàng. Và thường là tìm lộn. Ôi, Con Người và Bóng Tối! Ai vẽ chi Thiện Ác đôi đường cho chúng tôi vất vả?

Tôi biết người Âu châu, nhất là những vị có chữ nghĩa thích sống một mình, và tôi đoán là cha Giovanni cũng thích như thế:

– Trình cha, con chỉ muốn ở với cha vài ngày, rồi sau đó con muốn được ở với dân Thượng. Con muốn nhảy xuống vực thẳm để xem vực thẳm nó ra làm sao?

Câu nói đầy chữ nghĩa thời thượng từ cái đầu đầy ắp những tư tưởng hổ lốn mà tôi vừa học được trong chương trình triết học ôm đồm lớp mười hai ban văn chương, chương trình Pháp hồi đó, bây giờ nhớ lại còn phát ngượng, vậy mà xem ra cha lại tỏ ra tâm đắc khi nghe tôi nói như thế:

–  Bene! Kỳ nghỉ hè này là của chú, xuống vực thẳm hay lên thiên đường ấy là quyền của chú. Người ta có quyền chọn cho mình một cửa hẹp. Paradiso4, abisso5… Abisso, paradiso…

Tôi nghe tiếng vọng từ vực sâu; hay là cha bị mắc chứng nói lảm nhảm mà một số người Âu châu mắc phải khi phải sống lâu ở vùng nhiệt đới?

Tôi quyết định sống mùa hè ba tháng giữa người Thượng, và chỉ ghé qua nhà xứ khi cần. Tôi không muốn khuấy động cuộc sống lẻ loi nhưng bình tâm mà có lẽ cha đã cố gắng bao năm mới được. Vả lại, tôi cũng đã quá ngán mấy cha mấy cố. Tôi đã sống với họ đã quá lâu, những năm làm trò giúp lễ và cả bảy năm trong chủng viện. Tôi bắt đầu thèm nghe ẩn ngữ loanh quanh thay cho những bài Phúc âm, Thánh thư được xếp đặt chặt chẽ theo lịch trình phụng vụ quanh năm và những bài giảng lý luận chặt chẽ đôi lúc đến tội nghiệp. Giả sử có Ông Nhà Trời nào đó tình cờ ngao du qua cõi địa cầu nầy, khi nghe mấy con kiến hình người múa may chữ-nghĩa-cõi-trên như thế, hẳn phải cười bò lăn bò càng. Cái thằng người trong cái cõi bụi bặêm này chỉ là con rối của một cuộc chơi, “trò chơi Con Tạo”, làm gì mà lớn chuyện vậy?

Cha Giovanni kiếm cho tôi được một cái nhà sàn khá xinh xắn, tươm tất, nguyên là của một anh lính Thượng nay đã mất tích. Chị vợ nay ở đâu, tôi hỏi. Signora ấy bồng con bỏ đi nơi khác rồi, cha trả lời. Cha Giovanni cho tôi những thứ cần dùng, kể cả một chiếc mùng trắng tinh, và một cái áo len còn thơm mùi nắng đồi nho xứ Toscana mà mẹ cha vừa gởi. Tôi vui với hạnh phúc mới. Nằm nghe tiếng chim len lỏi chật vật giữa tiếng bom đạn. Tiếng chim và tiếng bom đạn tranh nhau khoảng không gian dành cho con người; và coi vậy, chứ so với tiếng chim, tiếng bom đạn có vẻ yếu xìu; nói chi tiếng muôn loài côn trùng về đêm, bom đạn lại càng thua. Bom đạn huyênh hoang gầm gừ, nghe đến tội nghiệp như một gã say chửi bới om sòm nhưng lòng đã bắt đầu xuội lơ theo lời dỗ dành của người vợ nhẫn nhục, theo những tiếng khóc rấm rứt của mấy đứa nhỏ thập thò sau bếp. Càng về khuya bom đạn càng thua đậm. Nhưng rồi càng ngày tiếng bom tiếng đại bác không còn là tiếng vọng về: Chúng đã gần lắm. Chiến tranh như loài cọp đói sổng chuồng: Nó sắp sửa vồ lấy những mảnh hình nhân đen đúa tơi tả trùng vây trong giác trường người Kinh.

Nhưng cuộc sống trong bản vẫn như một vườn trẻ. Sáng sớm đàn ông phì phèo ống thuốc dài ngoằng tàn tàn vác rựa, mang gùi ra rẫy; chân tay mốc đen, khẳng khiu, cáu bẩn. Tôi chưa thấy anh đàn ông nào có được màu da đồng đen bóng lộn như được tả trong các thiên hùng ca người miền núi. Cái thế hệ của những tráng sĩ Ðam San e chừng đã tàn lụi dần vì những cái trò đểu giả lớn nhỏ của lớp lớp người Kinh Nam cũng như Kinh Bắc. Nhưng những người thiếu phụ và và các thanh nữ vẫn còn cái vẻ màu mỡ của mẹ đất: eo thon, mông nở, vú đồng bóng nây nẩy. Thượng Ðế dường như ban cho những người đàn bà Thượng nhiều sinh lực hơn đàn ông. Và tâm hồn họ, đàn bà lẫn đàn ông, vẫn còn nguyên sơ chẳng thua gì những em bé gà gật trên lưng mẹ địu hay như những cháu vừa đi lẩm chẩm vừa mút tay tò mò nhìn vào mái nhà sàn tôi. Thân thể họ cũng trần truồng như trẻ thơ. Xem ra cha Giovanni và các vị tiền nhiệm của cha làm lơ không  dạy – hoặc bắt – con chiên của các vị phải mặc quần mặc áo che thân như là một cử chỉ của con người tỏ ra xấu hổ sau khi thủy tổ loài người ăn trái cấm từ cây-biết-lành-biết-dữ. Cái chuyện trong sách Sáng Thế Ký được viết ra để giải thích tại sao con người lại mặc quần áo, viết bằng tiếng Hêbơrơ, cho những người Hêbơrơ, bởi một vị Hêbơrơ nào đó, xem ra trật rơ hết trơn ở cái xứ Thượng cà răng căng tai này.

Và tôi đang tập làm người…Thượng.

Nằm nhà sàn vài ngày, tôi bắt đầu đi tàn tàn vào các nhà sàn quanh quanh chơi; và nhờ cuốn đàm thoại Pháp – Bana của cha Giovanni cho mượn, tôi bắt đầu tập nói với họ; nói ngọng, làm mấy thằng nhỏ cười rung rinh cu dái, mấy chị rúc rích, vú câng thấy rõ. Khi nghe tôi nói nghịch, có chị trèo nhanh lên nhà sàn núp sau cánh cửa nhìn lén tôi, có chị nép sau những bụi hoa quỳ lem nhem đất đỏ, (hoa quỳ mọc tràn lan như cỏ dại, chẳng báu giá gì đâu!), cười hinh hích chẳng khác gì các nàng người Kinh trong các cuốn tiểu thuyết bậy bạ tôi hay trùm chăn đọc trong chủng viện.

Tôi, một chú chủng sinh lớp mười hai, tập thương Chúa và thương Ðức Mẹ hơn mọi giống đàn bà khác gần cả chục năm trong một môi trường chính quy như chủng viện Phụng Sự này, nhưng tôi vẫn chưa cảm thấy thương hai vị ấy được. Nói phải tội, cũng đã có thương Ðức Mẹ chút đỉnh nhờ những bức tượng mỹ miều khắp nơi trong chủng viện: trong nhà nguyện, ngoài khuôn viên, và nhờ những mẩu tượng lớn nhỏ, nhất là những bức tranh Ðức Mẹ trong các cuốn từ điển bách khoa Larousse. Thương thì phải rung cảm chứ, thế mà tôi chẳng cảm thấy khoái chút nào những lúc tham dự thánh lễ, là những lúc Kết hợp – Communion với Chúa. Cái từ ngữ viết hoa thiêng liêng này có thằng bạn dân Phú Cam cả gan đề nghị thầy dạy Pháp văn nên dịch là giao hợp  mới đúng ngữ căn. Tính tôi cũng thích phân tích này nọ, mà cũng phải chửi đổng khi nghe hắn lộng dịch như thế. Tuy nhiên, nó cũng có lý của nó. Cái trò bóp méo vê tròn chữ nghĩa là nghề của các thần học gia chính thống Công giáo. Họ không biết rằng khi họ cố chỉ cho người ta con đường tìm Chúa bằng những lý luận của họ, thì chính họ đang làm công việc dẫn con người vào bóng tối, và chính bản thân họ cũng lao luôn vào vực thẳm. Những giá trị đạo đức, những chuẩn mực trong Kinh Thánh mà họ trưng ra, chẳng phải là độc quyền của Kitô giáo như họ tưởng. Nếu chịu khó làm một bảng đối chiếu người ta có thể kiếm thấy các tư tưởng ấy trong các Kinh, Thư khác. Và xem ra, nhìn chung, tư tưởng trong Kinh Thánh còn là sà lắm, so với cái uyên áo trong những kinh thiêng của các tôn giáo khác, ví dụ, của Ấn độ giáo, Phật giáo, và ngay trong một số pho kinh điển Trung Hoa. Ngoài ra, tôi còn cảm thấy có một cái gì đó có vẻ biển lận, hồ đồ trong lề lối suy tư, phải nói suy diễn thì đúng hơn, trong những bài giáo lý Công giáo tôi đã học qua. Chính Giáo hội đã tạo ra không biết bao nhiêu những khung cửa hẹp dẫn vào mê lộ. Mấy ai ra khỏi được mê lộ chử nghĩa. Khổ thay cho ai bị lạc đường, vì họ là con Ngụy-Ngôn, Anti-Logos!

Tôi học tiếng Bana nhanh không ngờ, nhanh hơn hồi học Pháp văn và La tinh với mấy cha tây, có lẽ nhờ vừa nhìn vú gái Thượng vừa học. Biết đâu Y Ban lại thông thạo được ba thứ tiếng Thượng cũng nhờ nhìn vú. Vú vê quyết định tri thức con người. Tôi thiệt phục cha Giovanni; cha đã ở đây gần cả chục năm mà chẳng hề hấn gì. Vì “Chúa là khiên thuẩn che chở đời con…” . Mà che chở cái gì ở đời?  Ôi, tự nhiên quả là làm phiền siêu nhiên lắm lắm!

Thỉnh thoảng tôi vẫn hay vào nhà xứ: Khi thì mượn báo, khi thì lấy thức ăn. Tôi để ý thấy cha hay ngồi nơi bàn viết nhìn đăm đăm ra phía ngoài cửa sổ, trang nghiêm, mê đắm. Tôi cứ nghĩ cha đang ngồi nguyện gẫm, kiểu của cha, và đang ở trong trạng thái xuất thần như một số vị thánh ngất ngây trong hoan lạc khi được chiêm ngưỡng Chúa qua thị kiến, mà tôi đọc được trong Hạnh Các Thánh; hơi thở cha rền như ống bể lò than. Thỉnh thoảng những lúc như thế, cha lại với tay uống ly nước, có lẽ là nước suối mà có đêm trăng nọ tôi thấy cha từ rừng cõng về. Cha nuốt ừng ực như những tay bợm rượu cuống quýt tợp rượu.Vì có những lúc cất tiếng chào cha, tôi thấy cha giật mình, nên những lần sau thấy cha ngồi như thế, tôi biết ý không chào hỏi gì, cứ tự tiện lấy các thứ cần dùng rồi im ỉm đi ra.

Có hôm cha đi vắng; cửa khép hờ. Tôi mở cửa vào phòng mượn mấy tờ Mission Chrétienne7 cha để thành chồng trong góc phòng về đọc đỡ. Trong phòng chẳng thấy có gì đáng giá, ngoại trừ tượng Ðức Mẹ Xót Thương Pietà6 bằng cẩm thạch trắng đã lên nước láng bóng cha dùng để đè mấy tờ tạp chí xếp thành chồng dưới đất trong góc sau lưng cha. Bức tượng tuy chỉ đúc nhại nhưng vẫn có được vẻ mỹ thuật và thần thái như tượng gốc hiện trưng bày trang trọng trong đại giáo đường thánh Phêrô ở Rôma mà tôi đã ngắm không biết bao nhiêu lần qua bức ảnh do nhiếp ảnh gia Giraudon chụp in lại trong đại từ điển Larousse, thế mà không biết tại sao cha lại bỏ nó bên cạnh mấy con dao lam rỉ sét, mấy cục xà bông thơm Cholon dùng lở dở, mấy cái tăm xỉa răng bằng nhựa đã dùng, toàn những thứ bỏ thì thương mà sương thì nặng, hay dùng chữ của tiên tri Isaia, là đồ phế thải của loài người. Chiếc bàn viết chỉ là một cái bàn gỗ thô, chân bàn có những đường dao khắc thô sơ các khuôn mặt lơ ngơ của tổ tiên dân Thượng thì phải. Tôi thấy trên bàn có cuốn Nhật tụng Linh mục. “Chúa là khiên thuẩn của đời con…” Thánh vịnh này và hàng trăm thánh vịnh khác, tác giả là vua Ðavít, một thợ thơ nghiệp dư, làm để nịnh nọt với Ðức Chúa Trời, sau khi ông bị Chúa quở trách, vì vào một buổi trưa hè, từ trên sân thượng cung điện nhìn xuống thấy vợ của tướng Uria đang tắm để lộ cả cái khuôn vàng, nên đã tằng tịu với nàng, trong lúc ông tướng đang xông pha trận mạc để bảo vệ cho chính ngai vàng của mình, đã thế lại còn chơi trò đểu giả đẩy ông tướng bị cắm sừng đó vào mặt trận hiểm nghèo khiến ông phải chết thảm hầu bợ cô vợ mỹ miều của ông tướng về ở chung cho tiện. Và cũng có thể những bài là thơ ấy do bà vợ ông tướng Uria ấy mớm cho, vì thơ thẩn gì đã dở mà lại sướt mướt như liền bà con gái, không được cái nét tài hoa, hào sảng của tiên tri Isaia, hay cái u uẩn khôn nguôi trong sách tiên tri Giêrêmia.Vậy mà các linh mục phải đọc những bài thánh vịnh đó mỗi ngày. Chán là cái chắc. Chán chường là mẹ đẻ của tội lỗi. Ngoài ra trong phòng còn có một chiếc ghế cổ, bọc nhung xanh trang nhã, hoa văn uốn lượn quý phái, một loại ghế nổi tiếng  mỹ thuật của Ý Ðại Lợi có từ thời Phục Hưng, chắc là vật gia bảo của cha đưa từ Ý sang. Tôi ngồi thử xuống chiếc ghế, êm thiệt là êm, và nhìn mông lung qua khung cửa sổ: Trời đất ơi, bóng núi phía trước dần dần hiện lên nguyên hình một người đàn bà đá, nhũ hoa lồ lộ, nắng quái chiều hôm đang chiếu vào rạng rỡ như những nguồn mật ngọt lai láng lộc trời; và phía dưới chân núi là một cửa động âm u huyền hoặc! Hình tượng to lớn và gợi dục còn hơn hình tượng hành dâm trong những mảng phù điêu, những bức hoành tráng trong các đền đài Ấn Ðộ; nó bao trùm lên núi rừng, đè lên bản làng, tuởng khơi khơi chiếc bóng, mà nặng tựa Thái Sơn. Tôi toát mồ hôi lạnh. Có phải cha bị bóng núi đàn bà mê hoặc; và cha ở đây cả chục năm cũng chỉ vì quyến luyến bóng núi ấy; rồi, những đêm trăng, lại hăm hở đi uống nước nguồn rịn từ cái hang thăm thẳm đó, chưa nư, còn gùi về nhà? Có phải là như thế, hay tôi đầu óc tôi đã bị long ốc, đã vướng phải ngãi, hoặc giả bị vong cái anh lính Thượng quấy quá, vì đã ăn ở vô ý vô tứ trong cái nhà sàn đã chứng kiến không biết bao nhiêu điều kỳ lạ giữa anh và cô vợ, nên mới nhìn gà hoá cuốc như vậy? Khi bắt đầu ngồi vào bàn viết của cha, tôi không cảm thấy cần phải dè giữ gì cả, vì có bữa cha đã nói với tôi là thỉnh thoảng cha đi vắng tôi có thể sử dụng phòng cha, nhưng khi khám phá cái mà tôi nghĩ là cha đã chiêm ngắm trong những tháng ngày rừng xanh núi thẳm lẻ loi, tôi cảm thấy như tôi đã xâm phạm vào cõi riêng tư linh thiêng của cha, tựa như một tên ba trợn đã lén nhìn vợ của một người rất đáng trọng đáng kính đang khoả thân vậy. Tôi không muốn dây dưa với người đàn bà của người tôi thân quen, dù là đàn bà đá. Tôi đi ngay ra sau vườn, đi vơ vẩn cho đỡ nghẹn; mắt dõi theo những bóng chim đêm bắt đầu hoan hỉ ra khỏi tổ ngày. Ánh sáng sắp nhường chổ cho bóng đêm. Tôi thấy cha lầm lủi đạp xe về. Chiếc xe đạp oằn cong như thể cha đang thồ cả tấn; và cha vội vã ngồi ngay vào bàn tiệc rừng rú mà cha cứ tưởng là của riêng cha.

Sáng hôm sau, tôi nhắm hướng núi, lần theo con đường mòn đi xem hang động người đàn bà đá. Con đường dẫn tới một cửa động vòm cung giáo đường, ngàn ngàn tầng kim nhũ treo ngược như trong một cửa hàng chuyên bán vú vê sang trọng mà sau này tôi có dịp thấy trong những hội chợ tình dục Copenhagen. Nước từ nhừng cặp vú kim nhũ cháy ri rỉ xuống một cái hồ nhỏ như một mảnh linh hồn nhỏ nhắn trong suốt. Tôi thấy quanh hồ lăm nhăm vệt giày chắc là của cha Giovanni. (Ở đây dân Thượng dép còn không đeo nói chi giày với ủng; còn mấy anh Cộng sản làm chi có giày.) Có một hấp lực nào đó đè tôi nằm xuống, cái hấp lực của những thảm cỏ non, hay của những bàn tiệc trần gian ngon ngọt, ngon ngọt đến nổi người ta phải nằm sấp, vục mặt vào mới thoả; và tôi tự nhiên nằm ẹp xuống liếm liếm nước vú đá như chó giái giữa trưa hè chạy rông khát nước. Uống xong, tôi không muốn đứng dậy nữa, tôi nằm vật xuống giữa nền đất mát mẻ dịu dàng, liu riu nhìn muôn ngàn cặp vú trời cho đang treo rực rỡ nhiệm mầu trên vòm động.

Tôi váng vất trở về như vừa mới trầm mình trong suối rượu, rồi nằm xoài trên sàn nhà, chấp chới giữa tiếng súng nổ rền quanh bản, và tôi chìm vào giấc ngủ. Tôi chập chờn thấy anh lính Thượng kêu la. Lưỡi anh thè dài, bộ phận sinh dục của anh căng cứng dài ngoằng dính với lưỡi đang thè ra đến nổi tôi không còn phân biệt đâu – xin lỗi – là dái và đâu là lưỡi. Rồi vừa tru như chó anh vừa châm lửa đốt luôn nhà sàn của anh; và anh bỗng lôi trong gùi ra một con lươn lớn bóng nhẩy, nhưng mặt lại là mặt đàn bà, ném vào ngôi nhà sàn đang bốc cháy, đồng thời buông những chuỗi cười đểu cáng, và phóng những tia mắt dữ tợn, chỉ có người Kinh mới có.

Tiếng bom đạn lại nổ, gần như sát nhà, làm tôi bật dậy. Tôi lê mình ra trước hiên gục mặt vào lu nước mưa. Nước mưa lạnh và tiếng bom đạn dội trong lu sành làm tôi tỉnh hẳn. Khi ngước mặt lên, tôi thấy ai như cha Giovanni đang chạy như ma đuổi trên con đường dẫn ra động vú đá. Cha vừa chạy vừa nhìn lên trời vừa rống:”Miserere nobis! Miserere nobis! – Xin Chúa thương xót chúng con! Xin Chúa thương xót chúng con! “, tiếng kinh cầu thống thiết của những con người trót mang thân phận loài người, như tôi, như cha Giovanni, những kẻ bị gắn vào đầu cái ý niệm tội nguyên tổ ngay từ ngày lọt lòng mẹ. Thỉnh thoảng cha lại sụm xuống như ngọn núi bị đào hỏng chân. Và tôi nghe tiếng cha khóc. Những lúc như thế, không nên can thiệp; tôi đã học được trong nhà dòng những phép lịch sự đại loại như thế. Tôi băn khoăn, và phải nói hoảng nữa là đằng khác, nhưng tôi nghĩ là có lẽ bom đạn và số phận con chiên cùng bản làng làm cha chịu không thấu nên cha phải kêu van thống thiết Chúa Quan Phòng của cha như thế; và cha cần đi vào tịnh thất  của cha một chốc để lấy lại bình tĩnh hầu còn trở về đưa giáo dân đi chạy giặc, vì mới hôm qua tôi đã nghe cha nói là có lệnh từ trong tiểu khu là cha và giáo dân trong bản phải di tản ngay; giáo xứ và vùng phụ cận trở thành vùng oanh kích tự do bắt đầu từ ngày mốt vì các lực lượng chính quy Bắc Việt đang tập trung quân quanh đó.

Những loạt bom nổ ven rừng. Nổ rồi lại ngưng. Tôi chờ cha trở lại nhưng đã hơn ba tiếng đồng hồ vẫn chưa thấy bóng dáng cha đâu, tôi đâm hoảng chạy nhanh về phía động. Tôi thấy có xác ai đó nằm sấp, cạnh những hố bom tôi không biết là mới hay cũ, ngay trước cửa động. Ðích thị là cha Giovanni vì tôi vẫn nhớ chiếc áo sơ mi trắng và chiếc quần dài kaki của cha. Lại gần tôi mới thấy xác cha một phần bị đất bom vùi và đầu của cha chỉ còn là một mảng óc bầy nhầy. Cha nằm đó sấp mình giang tay hình thánh giá, cử chỉ tượng trưng cho cuộc đời hi sinh đến tận cùng như Thầy chí thánh của mình, mà cha đã từng thực thi trong ngày lễ thụ phong linh mục. Lạ chưa, tôi thấy có vệt khói súng còn nám trên mảng thịt thái dương còn dính lại! Mấy anh Việt Cộng đã hành quyết cha trong vội vã? Lý này không vững, vì cha đã ở với bản gần cả mười năm, nếu chúng nó muốn giết thì đã giết từ lâu, mà sức mấy chúng dám giết. Hay là cha tự sát, xong, bị bom nổ đất vùi, vùi luôn súng đâu đó? (Súng ống ở đây muốn là có ngay, từ khẩu Colt 45 cho tới K54.) Lý này cũng không vững nốt: Cha là linh mục; linh mục Công giáo mà lại đi tự sát là chuyện tôi chưa hề nghe, nhất là trong lúc đó, dù gì đi nữa cha phải biết là cha có trách nhiệm dẫn dắt con chiên ra khỏi vùng lửa đạn. Hay cha đau khổ đến quẩn trí, vì phải chứng kiến những tàn khốc chiến tranh chắc chắn sẽ huỷ diệt bản làng, giết chết con chiên mà cha đã chia sẽ đắng cay trong gần một thập kỷ; liệu Ðức Mẹ Xót Thương Pietà có đau khổ như cha chăng? Hoặc giả vì những tra vấn triết lý về cái vô nghĩa của thân phận con người đã giày vò cha, những câu hỏi mà người Âu châu hiện đại hay vướng phải và rồi bị trói chặt luôn không ra được nữa, vì thật không gì vô nghĩa cho bằng thân phận con người Việt Nam, và nhất là người Thượng, trong cuộc chiến ngu dốt tưởng như trong giả tưởng vừa qua? Tôi chỉ suy nghĩ kịp tới đó; tiếng súng lại nổ rền, tôi vội vã nhặt những miếng thịt óc còn vương vãi chung quanh cha; và tôi chỉ còn kịp đẩy xác cha xuống hố bom đạn gần bên, rồi đưa tay lùa một ít đất xuống gọi là chôn cha. Ôi, Ðức Giêsu ngày xưa còn được các môn đệ hạ xác xuống, thuốc thơm tẩm liệm và được táng trong mộ đá đàng hoàng…! Vội thì vội, tôi vẫn liếc vào cửa động: Trời đất, vú đá rơi rụng tơi bời giữa vũng sình vang váng màu máu, như trong sào huyệt của một tên seriemurder  nào đó khoái giết đàn bà để cắt vú sưu tầm, nhưng bấy giờ lại đang bận bịu truy lùng những cặp vú mới, đành vứt bừa chiến lợi phẩm của mình ra đó!

Tôi chỉ biết chạy ngược lại bản, thúc dân bản mau mau tập trung tại nhà xứ để cùng chạy loạn. Sau đó tôi chạy vào phòng cha Giovanni, chạy vào chỉ để mà chạy, không biết tại sao; và tự nhiên tôi lại nhìn ra khung cửa sổ: Vú của người đàn bà đá đã bị bom đạn phạt ngang tơi tả nham nhở như như ngực của một người đàn bà bị ung thư vú vừa bị một tay thầy thuốc mắc chứng khổ dâm8 dùng dao bếp cùn cắt.

 

Mất liên lạc với anh Y Ban dễ chừng đã hơn hai chục năm; nhưng cuối cùng tôi cũng kiếm ra được địa chỉ và tôi có gởi thư nhờ anh kiếm lại – dù hi vọng rất mong manh – hài cốt cha Giovanni và nhờ anh chôn cất cho đàng hoàng. Tôi có tả lại vị trí nơi cha bị chết: dưới chân người đàn bà vú đá, sát cửa động. Nhưng anh cho biết là anh chỉ thấy núi là núi, nên anh không biết cái động đó nằm ở đâu.

Còn tôi, qua được trời Tây, tôi vẫn tiếp tục đi tu, và sau những năm dài tu tập trầy trụa, tôi cũng liều nhắm mắt đưa chân làm linh mục thừa sai như cha Giovanni. (Với cái từ ngữ như tôi muốn nói là tôi tu cùng một hội dòng với cha chứ tôi làm gì ngon lành như cha ấy được.)  Và hội thừa sai, sai tôi – tôi chọn thì đúng hơn – đến truyền giáo – chưa chắc ai đã truyền giáo cho ai – ở Ethiopia lúc đó cũng đang choảng nhau với dân Eritréa ra trò. Khi đến đó, tôi lại xin cha bề trên tỉnh cho tôi được sống với sắc tộc Oromo, da dẽ cũng ngăm ngăm như người Thượng bên mình. Và, họ, vốn là hậu duệ của nữ hoàng Saba đã từng làm cho vua Salomon trong Kinh Thánh say như say trầm hương xứ bà, nên liền bà con gái vú vê cũng ngon lành lắm, chỉ choàng ởm ờ một lớp vải the phất phơ, mỏng còn hơn vải mousseline. Vậy mà, cảm ơn Chúa, tới nay tôi chưa bị ngã đạn.

Hay là tôi trở thành người Thượng như anh Y Ban mất rồi?

Chuyện tới đây chấm hết kể ra cũng được rồi, nhưng có một chi tiết liên quan đến bức tượng Pietaø mà tôi có đề cập đến lúc nãy, nên tôi nghĩ có kể ra đây chắc bạn đọc cũng không đến nỗi trách cái chuyện cà kê dê ngỗng của tôi:

Số là tôi có đi dự đại lễ phong thánh cho một trăm mười tám vị chân phước tử đạo Việt Nam, là những đấng mà các vị thừa sai như cha Giovanni đã tạo cho cái cơ hội lãnh triều thiên tử đạo, như biết bao vị khác trong lịch sử thấm máu đào của đạo Công giáo, đặc biệt như các vị tử đạo dưới thời các bạo chúa Rôma. Các vị thánh tử đạo này là những kẻ mà một tay ký giả Tây mũi lỏ láo cá, trong bài viết về chuyện Quyết Tử Cho Tổ Quốc Quyết Sinh của phe kháng chiến cực đoan Hamas người Palestine, đã nhận ra những nét tương đồng với những quyết tử quân của vừa kể: Cả hai – quyết tử quân Hamas và những vị tử đạo thời Rôma thửa xưa – là những kẻ mắc bệnh thống dâm9, hoặc là những kẻ làm business đốt giai đoạn. (May hắn không biết, nên không nhắc đến hàng trăm ngàn vị tử đạo trong ba trăm năm truyền giáo ở Việt Nam!) Nhân dịp đó tôi cùng phái đoàn giáo dân NY đi thăm các giáo đường nổi tiếng và các công trình hội hoạ, điêu khắc được trưng bày, thờ kính trong những giáo đường ấy. Hôm kính viếng đền thờ thánh Phêrô, chúng tôi được cha Y,  chánh xứ NY, nhưng cha là thổ địa Rôma vì cha đã từng du học tại Viện thần học thánh giáo hoàng Grêgôriô Cả cả chục năm, hướng dẫn đến xem bức tượng Ðức Mẹ Xót Thương Pietà của điêu khắc gia, kiêm hoạ sĩ, kiêm kiến trúc sư, kiêm thi sĩ  Michelangelo. Ngoài thân thế, và sự nghiệp như kể trên, cha còn thuật lại là trước khi khởi khắc bức Ðức Mẹ Xót Thương Pietà, cụ Michelangelo đã nghiên cứu kỹ cơ thể học, nhờ thế vẻ xót thương của Ðức Mẹ xót thương nhìn xuống con mình biểu hiện chính xác trên từng đường gân thớ thịt của Ðức Mẹ. Bỗng thằng cháu tôi, bác sĩ giải phẩu thứ thiệt đã từng tốt nghiệp khoa giải phẩu thẩm mỹ, đại học đường y khoa quốc gia Ðông Kinh, thì thào vào tai tôi, đã thế hắn còn cẩn thận dùng tiếng Nhật: “Bác à, cháu thấy Ðức Mẹ buồn bã nhìn xuống đôi vú sắp sửa xẹp lép của mình, chứ có phải nhìn xuống xót thương Chúa Giêsu đâu! Cái lão Maiku10 thiệt là đểu!”

Về khoản cơ thể học tôi bó buộc phải tin thằng cháu trời đánh hơn là tin cha Y. Sorry!

 

Oslo, 8 . 00

 

(1) La pauvreté, c’est riche (tiếng Pháp): Nghèo mà giàu. Ý nói: nghèo giả bộ.

(2) Bene (tiếng Ý): Tốt lắm!

(3) Alter  Christus (tiếng La tinh): Một Giêsu khác: Châm ngôn của các linh mục Công giáo: Lý tưởng của người linh mục là cố gắng trở thành như Ðức Giêsu.

(4) Paradiso (tiếng Ý): Thiên đàng.

(5) Abisso: (tiếng Ý): Vực thẳm.

(6) Pietà (tiếng Ý): compassion, miséricordia: lòng thương xót, lòng lân tuất. Lâu nay người ta hay dịch: tuợng Pietà là tượng Ðức Mẹ sầu bi, e không ổn.

(7) Mission Chrétienne: Sứ vụ Kitô hữu (tên một tờ báo) .

(8) Khổ dâm: Sadisme: Chứng bệnh tâm lý: Cảm thấy khoái lạc khi làm đau đớn người khác.

(9) Thống dâm: Masochisme: Chứng bệnh tâm lý: Cảm thấy khoái lạc khi tự hành xác mình.

(10).Maikự: Người Nhật phiên âm từ danh xưng bỡn, thân mật Mike, gốc từ Michael (tiếng Anh) , Michelo (tiếng Ý).

(…) Ngoài ra vì  đây chỉ là một chuyện ngắn chứ không phải là một bài khảo cứu nên, nên xin miễn cho tôi việc phải ghi xuất xứ một số ý tưởng của các tác giả tên tuổi tôi dùng để tô điểm cho truyện.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close