NTNV 7 – Ải Nam Quan

Nguyễn Văn Thà

https://maivantran.files.wordpress.com/2011/07/ai-nam-quan-original2.jpg?w=816&h=9999

Chớm xuân, sáng sớm chủ nhật, có con chim đậu trước nhà ánh ỏi. Vợ ông Kha đã đi làm giờ phụ trội từ sáng sớm; còn ông, ông vẫn nằm lim dim nghe xuân. Xuân xưa nhiều hơn xuân nay. Có con chim gì đó mấy bữa nay sáng nào cũng réo tình nhân trước cửa: “Chù, chú, chù…chu mán!” ; tiếng chim quấy rầy giấc ngủ nướng của thằng Tám, con út ông. Nó cáu tiết giật tủ lạnh, lấy cà chua, mở cửa sổ, ném, xua: Fuck your mother!  Cái con chim bị  đụ má mày đó hót y như tiếng con chim hôm nọ đã hót khi anh Kha gởi nụ hôn đầu tiên trên mái tóc người tình riêng. Nói là hôm nọ, nhưng cái hôm nọ dễ chừng đã gần mười năm.

 

Ông Kha là một người thích làm thơ, và báo chí Việt ngữ ở nước ngoài đăng thơ ông khá đều. Tôi chỉ đáng vai  đệ tử của ông. Phải đợi đến hôm nhậu lai rai được mấy xâu, tôi mới dám đưa chuyện Tàu ra cà khịa với tôn sư:

“Vậy chớ, ông bô của ông thày muốn ông thày làm thích khách hay sao mà lại đặt cái tên Kha vậy ông thày?”

Ông Kha nhấp thêm một ngụm bia, khà một tiếng thiệt dài:

“Không phải dzậy đâu Tư à! Tui tên cha sanh mẹ đẻ là Kha huyền khà.”

Ông kể thêm: Khi lớn lên thấy cái tên kỳ cục quá bèn hỏi nguyên do, thì được chính ba ông cho biết là, sau chén ruợu rắn hổ mang ngâm chung với toa thuốc bắc của nhà thuốc bắc Tế Thế mà bà má rót cho, ông ba khà một tiếng dài, và, sau giờ phút linh hiển đó thằng cu từ muôn cõi Ta bà đầu thai trong lòng bà bô, như một câu thơ trong bài Sáu Mươi của chính nhà thơ Yên Kha: Khà chưa dứt tiếng hài nhi vào đời.

Cha mẹ cu Khà là con cháu thợ cày thợ cấy từ bao đời, có lẽ từ thời chúa Nguyễn Hoàng vào Nam dựng nghiệp. Có điều tổ tiên ông vốn là dân không được một mảnh đất cắm dùi ở Ðàng Ngoài, nên khi xuôi vào Ðàng Trong, tới Phan Rang thấy đất đai rộng rãi, là mừng rơn. Và họ định cư luôn ở đó. Nhưng Phan Rang không phải là vùng đất màu mỡ, do đó dân làng MỸ THANH, không bao giờ giàu lên nổi; họ chỉ đủ ăn, đủ mặc là cùng. Học hành càng là một chuyện khó, dù rằng thuở trước cũng có mấy anh sinh đồ mạt vận còm cõi kéo lê Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bách Gia Chư Tử cho qua ngày đoạn tháng. Nhưng rồi chính cả nơi chốn kinh kỳ đô hội chữ nghĩa thánh hiền cũng phải đến lúc mạt vận, như lời than của một hàn sĩ tài hoa: Cái học nhà Nho đã hỏng rồi. Mười người đi học, chín người thôi, thì cái chữ nghĩa ông đồ ở làng Mỹ Thanh rồi cũng lùi hẳn vào trong những miễu đền tàn phai. Nhưng truyền thống trọng kẻ có chữ vẫn còn nằm trong lòng những người nông dân nghèo khổ. Tuy nhiên đến giai đoạn chữ quốc ngữ đã chiếm ngự hoàn toàn nước Việt, cha mẹ ông Kha vẫn không dám mơ ước một tương lai nào sáng sủa cho thằng út: Thằng Khà chữ nghĩa một bụng. Ông bà lại là những người thích câu vè câu vạn, như bao nhiêu lớp người cực khổ trên trái đất này, cũng như trên mảnh đất nhỏ bé, đìu hiu Mỹ Thanh; ông bà chỉ ước mơ làm sao có ai đó đọc cho mình nghe Lục Vân Tiên, những buổi tối ngơi nghỉ, nhất là những đêm mưa rả rích. Cái ước mơ cỏn con ấy ông bà đặt vào thằng cu Khà. Và may thay có một anh học sanh thông làu quốc ngữ, vốn dân thị tứ thuộc vào loại dở thầy dở thợ, phải lòng một chị trong làng hay quảy củi ra phố bán, bèn tếch gánh giang san về quê vợ, thế là cu Khà thành học sanh đầu tiên  của thày. Người đời hay nói: Con út trút bồ lúa; cha mẹ của út Khà trấu chẳng có dư, làm chi có lúa mà trút; nhưng ông bà đã trút lên cu Khà cái ước mơ chữ nghĩa Lục Vân Tiên của mình; và có lẽ nhờ thế mà chú Khà, chỉ qua mấy mùa học, cho thấy là một học trò thông minh. Chú chẳng những bắt đầu đọc lỏm bỏm được Lục Vân Tiên mà còn viết được số Ả rập và làm được cọng trừ nhân chia, đỡ công mẹ, chân thủ quỷ của làng, khỏi phải bốc hạt bắp để tính sổ sách cho những chi tiêu khao vọng. Khi ông giáo làng đã hết chữ là lúc chú Khà chuẩn bị lấy cái bằng đầu tiên. Và chú đậu. Ghê chưa! Vào lúc này thì chú đọc Lục Vân Tiên không những làu làu mà còn lên cung xuống giọng nghe mùi chẳng thua gì đào kép cải lương.

Lòng tham thì vô đáy, và các đấng sinh thành xứ Việt  quả là những kẻ tham lam nhất trần gian trong việc cho con cái vốn chữ nghĩa. Ðầy một bụng cũng chưa thoả. Chú Khà, sau khi đậu được bằng tiểu học, cái thành tích mà chính thành hoàng của làng, một nho sĩ, cũng phải cúi đầu (chính mẹ chú Khà đã thấy như thế khi họ đem lễ vật ra báo hỉ và tạ lễ ) , chú Khà được cha mẹ cho đi tỉnh học. Chú bụng càng đầy chữ nghĩa, bố mẹ thân xác càng tàn tạ, nhưng trái tim họ vẫn tràn máu đỏ đức tin. Ðúng vậy, cả tới khi chú Kha (lúc này đã tự ý bỏ dấu huyền) ra tỉnh học được năm sáu năm, cha mẹ tuy có phần nhăn nheo gió nắng mà nụ cười xem chừng rạng rỡ hơn xưa. Chữ nghĩa của con là thuốc bổ, là sâm, loại hồng sâm của nhà thuốc bắc Tế Thế cũng không làm gì bằng. Lúc này, tuy đã leo lên được những bậc thang học vấn ngất ngưỡng khác, những dịp nghỉ hè, cậu vẫn nằm võng, chẳng những đọc Lục Vân Tiên, truyện Kiều và các chuyện Tàu khác, cậu còn chơi luôn tuồng Lơ Xít1 của Phú Lang Sa, hoặc ngay cả tuồng Rôméo và Giuliettà của Anh Cát Lợi  mà chú đọc qua bản Pháp ngữ. “Ở đau thì cũng có chiệng đao lòng đức ruộc.”- Bà mẹ chép miệng; hoặc những câu chửi rất hào hứng của cha chú Khà, như: “Mẹ cha, cái anh thày tu đi chi mà chạm dzậy trời!” , khi tới cái đoạn anh thày dòng Phanxicô được ông cha Lôrăng sai đi báo tin về cơ mưu của mình cho Rôméo, mà cứ đi cà rịch cà tàng, trong khi chàng Rôméo nghe tin dữ, đã từ nơi lưu đày, phóng ngựa như bay về với người yêu dấu, với lọ thuốc độc là hành trang duy nhất.

Anh Kha là một người hay chuyện, ấy là lời nhận xét của cô Long hàng xóm thường cứ đứng thấp thoáng sau hàng dậu dâm bụt để nghe anh Kha kể truyện. Những lúc như thế lòng cô nhấp nhánh những vì sao xanh còn hơn khung trời Venezia đêm Giuliettà đợi tình gấp bội. Văn chương chữ nghĩa nó hay ho quá cỡ như vậy mà cớ làm sao lại có cái câu kì cục: Chữ nghĩa văn chương không bằng cái xương cá trích? – Cô Long mỉm cười áy náy. Có những bữa thấy con nhỏ Long cứ lấp ló bên kia, bà Hai, mẹ của anh Kha, phải kêu vào ngồi trên chỏng cạnh bà, dựa lưng vào vách mà nghe vì “Chiện tràng giang đại hải như dzậy thì đứng mỏi chưng chịu sao thấu, coong!” Cô Long sợ run, không dám, đã thế ông Hai còn chêm một câu sấm sét: “Chà, coong Long khong biếc thích nghe tuồng hay lại phải lòng thằng Kha đay!?”

Và cô nhỏ ù té chạy như ma đuổi.

 

Ông Kha phải đi cải tạo thật lâu, vì ông làm lớn, nhưng cũng như khá nhiều ông lớn khác, ông cứ khà khà cho qua chuyện ở một thời thế cần có những thanh Hạp Lư sinh tử sang sông. Cho nên, gặp thời thế, thế thời vào rọ. Cả duộc. Ðỏ hoe con mắt cả mười mấy năm. Cái khí phách mượn của Trần Bình Trọng xem ra cũng nhạt phai dần theo tiếng kẻng xua trâu. Một số người chính khí lắt lay; một số lại cần một cái triết lý hèn để sống; phần ông Kha đã có cái triết lý khà của ông từ ngày dựng thai trong lòng mẹ. Cái triết lý ấy vốn được trạng Bún đời Mạc, mà người đời xưng tụng là người hiền, dạy: “Khôn chết; dại chết; biết sống.”

Ông Kha là người biết sống.

Khi chuyển đến trại AZ được mấy bữa, ông được phân ra toán tự giác. Ông và mấy chục anh khác được sung vào toán chuyên đốn củi cho trại và họ được ở ngay trong các chòi, trên một ngọn đồi trông xuống thung lũng ST. Dĩ nhiên họ có cán bộ quản giáo theo dõi cho đúng bài bản. Nhưng vào lúc ấy chẳng ai dại mà trốn trại sau khi đã có cái vốn mười mấy cuốn lịch, tuy tới lúc đó họ vẫn chẳng biết ngày nào sẽ được thả. Họ được giao chỉ tiêu củi, thoạt đầu, khá nặng, nhưng rồi cũng quen dần và cọng với lối xếp củi mánh mung, thì công việc cũng không đến nỗi nào. Dư giờ họ đi kiếm chai phà, thỉnh thoảng kiếm được trầm lại mang ra chợ gần trại bán. Thường cũng đủ để mua thuốc rê, thuốc lào, hoặc vài xị rượu sắn nhâm nhi; có anh lại chính chị  hơn mua chai dầu xanh Mỹ biếu cán bộ quản giáo. Vào thời gian này họ có thời giờ để nhìn lên trời đôi khi; và khi thong thả, có nghĩa là cứng gân cứng cốt chút đỉnh, thì người ta lại bằt đầu lơ mơ mỹ nữ. Trong những buổi thưa chuyện đêm khuya  các anh ít nói về gà rô ti, vịt quay, bia lon Mỹ… hơn trước, mà bắt đầu tán chuyện đàn bà. Và, đùng một cái, các đấng bề trên xuống phước: Hễ có vợ thăm nuôi thì vợ được ngủ lại và được ngủ chung. Ở các trại khác nghe nói là phải lao động tốt, học tập tốt mới được vào ngủ nhà hạnh phúc, nhưng  nhóm đốn củi vốn đã được ban cho cái tước tự giác, thì mấy cái thứ tốt đó đương nhiên đã qua mặt từ khuya; và cái ân huệ ấy các anh dư sức được hưởng! Cái nhà hạnh phúc chính là mái chòi của các anh. Có anh vợ vượt biên, có anh vợ bỏ, nhưng đa số vẫn còn vợ chắt chiu tháng tháng, quảy mồ hôi nước mắt lên nuôi chồng; nay các anh lại sắp được má ấp môi kề, quả còn sướng gấp trăm lần động phòng thời xuân sắc, tuy người vợ thanh xuân đã tàn phai nhiều theo nghiệt ngã thời gian và tàn nhẫn thế sự áo cơm. Ông Kha tất nhiên là còn vợ, và vợ rất chăm chỉ thương chồng, lo cho chồng từng li từng tí, từ lon gô ruốc sả cho tới chai dầu xanh. Nói là tất nhiên vì vợ ông chính là cô thôn nữ tên Long ngày xưa ấy, cô Long mà những ngày ở tù cảm động tấm lòng chân quê, son sắt của bà, ông Kha đã chêm chữ Châu trước tên Long, thành ra Châu Long. Châu Long ngày xưa nuôi Lưu Bình thi đậu trạng nguyên, còn Châu Long làng Mỹ Thanh lại nuôi ông Kha hơn cả chục năm nay, những mong chồng đậu được cái bằng vĩ đại nhất của một thời mê loạn máu xương, đó là giấy phóng thích. Mười mấy năm đủ xây dựng nên nghiệp lớn ở bất cứ phương trời còm cỏi nào, mà ở nơi xứ sở của vừng trời đông ánh hồng tươi sáng bừng lên này vẫn chưa đủ để đưa chồng bà ra khỏi đầm cát lún mà mấy ổng lấp liếm gọi là những giòng thác chi đó. Mặt trời thiệt phiền! Thác lũ, thác oan!

Khi bà Long nhận được hỉ tín  về cái ơn phước đó của các đấng bề trên từ miệng của người chồng mà ngày xửa ngày xưa mình được diễm phúc kết tóc xe duyên, thì bà đỏ mặt. Và bà vùng vằng đứng dậy đòi về. Và bà về thật. Mấy người bạn cùng chòi khi biết tin động trời đó, giật thột. Có kẻ tán ra tán vào: “Có lẽ tại chị ấy sợ bầu bì, thêm kẹt.”  “Có lẽ chị ấy thẹn, đằng gì chị ấy cũng không phải là dân thành thị, phải không nào?”  Hoặc có anh lại nghiêm trang nghĩ ngợi: “Ðàn bà khi họ không nói, là nói rất nhiều.”  “Ðàn bà là lớp người bị áp chế từ bao nhiêu đời, nên họ có cái nhìn thế sự khác cái bọn đàn ông chúng mình. ”  Riêng anh chàng Khắc, vốn rất hãnh diện với cái nền hướng đạo của mình, lại chỉ cười mỉm. Ông Kha nhìn chằm anh Khắc, cáu sảng:

“Sung sướng gì mà cừi dzậy cha! Dụt cha cái ông thánh của oong đi!”

” …… ”

Và với máu ngoa ngôn thi sĩ có sẳn, ông bồi thêm một màn hàm tiếu diễn nghĩa:

“Tui thấy nơi nụ cừi của oong chạy dài hàng chữ ‘Nếu khoong được đứng trên đồi làm cay thông hùng dzĩ, thì hãi là cay hoa hòng dứi thung lũng.’ của thằng cha hướng đạo nào đó!”

“Câu đó là của tổ hướng đạo Baden Powell, và tôi chỉ nói một lần trong bữa uống trà tán chuyện cổ kim đã lâu mà tới nay anh còn nhớ dữ a! Thôi, chị còn đó! Dịp sau, hỏi khéo chị thử. Có chi mà to tiếng, mất vui.”

Ðêm hôm đó dĩ nhiên ông Kha mần răng mà ngủ cho đặng, nhưng bạn đọc chớ nghĩ bậy bạ cho ông, vì quá nửa đêm, khi anh bạn cùng chòi Ðỗ Khắc đã ngủ khò, ông Kha lay Khắc, thì thào:

“Khắc, Khắc ơi, dạy, tui nói cái nài cho nghe…”

Khắc giọng ngái ngủ:

“Gì vậy anh Kha…a…?”

“Thôi rồi, mấy cái chiệng Lục Dâng Tiêng, Lơ xích, Rôméo đã làm hại tui!”

Những đoạn trích từ một cuốn nhật ký mà công an Cao Lạng tịch thu được trên đường biên giới Việt – Hoa, trong khi đuổi bắt bọn buôn lậu:

Ngày… tháng… năm…

Ðã tắt kinh cả tháng nay. Chắc là có thai mất rồi. Anh Nông lại mới chết. Ở trong B không sao, phục viên về làng lại chết. Chết vì lạc đạn bọn bành trướng. Nhưng cái bụng của mình mà chướng lên thì thà bị lạc đạn còn hơn. Hồi trước, ở nơi cái bản, cái làng này, có thai ngoại hôn hay không thì chẳng có gì quan trọng. Người Tày nhiễm dần những lối tư duy và tập tục của người Kinh, mà người Kinh tính đảng lại càng gắt gao cái chuyện giai gái. Họ dùng cái từ gì nghe mà kinh: Hủ hoá. Chỉ có mẹ mình biết; bà cuống lên, chỉ vì sợ anh cả Hào. Ðàng gì anh ấy cũng đang phấn đấu, phấn đấu đủ thứ. Mẹ nói: Cái miệng người Tày bắt đầu như cái miệng người Kinh, chua như mẻ mất rồi!

Ngày… tháng… năm…

Cái mảnh đất miền Cao Bằng cằn cỗi bao đời, gió chướng quanh năm, chẳng có gì vui. Các Mác nói thế mà đúng: Vật chất quyết định tinh thần. Nghèo thì khó mà vui được. Ở đây chỉ còn chuyện giai gái là vui. Hôm nay mẹ lại lo lắng, than vãn. Cha chỉ biết tìm vui trong thuốc phiện. Nhìn cuộc đời của một người đàn bà như mẹ mà cứ nghĩ lại mình. Cuộc đời như thế có đáng sống không? Chữ nghĩa thiệt phiền. Giá mình đừng có phấn đấu đi học có lẽ mình sẽ đỡ khổ hơn. Chừng này tuổi mà đã bắt đầu cự nự với cuộc đời khá nhiều. Mấy ngày nay, không biết sao vô số chấm hỏi cứ bay lơ lữõng trước mặt mình. Chắc không phải chỉ vì mình suy dinh dưỡng…

Mình nghĩ tới chuyện nạo thai.

Ngày… tháng… năm…

Lâu rồi, nay mới viết nhật ký lại được. Sau vụ nạo thai, mình mệt lã người. Cũng may lúc này cái loa trước ngõ bị hư. Chỉ chút hương hồi trong gió là bạn, và cuốn nhật ký. Trang giấy nhật ký như người bạn tâm tình duy nhất của mình. Coi vậy chữ nghĩa không chỉ làm phiền ta. Nó giải phóng tâm hồn.

Ngày… tháng… năm…

Mấy ngày nay cứ băn khoăn. Mình mới mượn được mấy cuốn tiểu thuyết đồi truỵ của các tác giả Miền Nam của một anh bạn học cùng lớp đi B mới về. Chẳng mang về được xe, đài, chỉ một ba lô toàn sách báo đồi truỵ. Nếu như cái ông gì đó nói: Văn chương phản ánh hiện thực , thì hiện thực đồi truỵ quả là một hiện thực thích thú.

Trong ấy, người ta hay nói tới nắng, mây trắng, và tình yêu giai gái… cả trong chiến tranh, và ít nói tới chuyện đói. Ở đây, từ câu hò câu hát cho đến sách vở cứ ra rả chuyện chiến đấu, đấu tranh, phấn đấu… Sao mà nhiều kẻ thù đến như thế! Nếu cứ lấy thành tựu vật chất mà đo lường những nỗ lực của con người, thì mình thấy cái gọi là chiến thắng, gọi là giải phóng Miền Nam là một sự vô ích. Vô ích đến rợn người.

Và tại sao người ta cứ chê cái chuyện đồi truỵ nhỉ, khi đồi truỵ mang lại hạnh phúc cho con người? Mình yêu cái miền Nam đồi truỵ. Hình như mấy cái xứ nghèo người ta hay nói chuyện đạo đức. Mình có điên không vậy?

Mình đã bắt đầu khoẻ lại. Chắc lại cũng nhờ sức con gái nó lướt đi. Nhưng bao lâu? Phải kiếm cho mình một lối thoát. Ðất nghèo, lại nằm sát biên giới. Lâu lâu bên kia lại bắn qua mấy quả súng lớn. Hậm hực. Nhà nước lại động viên dân làng cứ giữ vững lòng tin vào Ðảng và chính phủ. Bám đất bám làng. Chẳng có gì mà bám. Mấy chục năm chiến tranh chưa đủ sao? Toàn miệng lưỡi của những ông cố đạo đỏ. Và đôi mắt của những con  người tiến bộ cứ nhìn mình như nhìn một con đĩ.

Ngày… tháng… năm

Vào Nam. Làm công nhân nông trường cà phê ST được mấy tháng nay. Việc khá nặng, được cái tự do hơn ngoài Bắc. Nhưng mấy cái loa thì vẫn inh ỏi như ngoài ấy, vì người trong nông trường thì cũng từ bụng những cái loa đó mà chui ra cả. Chỉ khoác lác gượng.

Mình thèm quen người Miền Nam, người có hơi Nguỵ. Nhưng cứ thấy bộ dạng của người ngoài Bắc, nhất là cán bộ công nhân, thì họ lại ái ngại, hoặc có vẻ xem thường.

Mới đọc được mấy cuốn sách đồi truỵ khác của anh chàng Khoan, trưởng đồn công an biên phòng Cam Ranh, anh chàng có mái tóc phiêu bồng, cho mượn. Hắn nói sách hắn tịch thu trong nhà một anh thuyền chài. Cả mấy trăm cuốn. Truyện của họ viết thật tuyệt. Truyện tình của Hoàng Ngọc Tuấn đọc mà nuốt nướng miếng, cứ sợ hết trang. Văn của Minh Ðức Hoài Trinh tình thì quằn quại, mà lại man mác chuyện cổ kim. Lại còn thơ của cái ông Nguyên Sa: táo bạo, tươi tắn mà sâu. Còn Phạm Thiên Thư, thơ càng đọc càng hay; mỗi lần đọc, ý mới lại nãy sinh… Người và lòng người đẹp đến như thế ư? Cớ sao đã có một mâm thức ăn ngon lành như vậy mà lại đổ đi, và cứ nhất định ăn cho được sắn, được bo bo mới chịu? Không thích làm người mà cứ thích hạ mình xuống làm súc vật. Ðối với người Miền Nam, người ngoài Bắc, nhất là mấy anh cán bộ hợm hĩnh, là những sinh vật phiền toái.

Ngày… tháng… năm…

Nghe nói nhà nước sắp đưa một số tù cải tạo về giam gần nông trường. Cái nhà nước này thiệt thâm: Họ tính toán là các công nhân của nông trường sẽ là những người chỉ điểm, những tai mắt cho họ ở vành ngoài? Vả lại họ cũng cần tù về đây làm kinh tế cho họ. Một loại xây dựng kinh tế kinh người! Không biết sao lòng mình lại vui. Lòng người quả là có nhiều ngỏ ngách lạ kỳ.

Ngày… tháng… năm…

Sáng nay, mình đang ngâm chân bên suối trong xanh, mát rượi từ miền cao đổ về; một chút hương rừng; đôi tiếng chim. Không biết sao mình cứ muốn cởi hết áo quần; mình cần vuốt ve của gió, của nước, của thiên nhiên hiền hoà. Thiên nhiên ngày càng lùi xa con người. Và người lại cũng đang xa người. Ðang lơ mơ như thế, nghe có tiếng đàn ông sau lưng, giọng Miền Nam: “Chào cáng bộ!” Mình giật mình. Mình đoán là tù cải tạo được ra tự giác. “Ðôi chưng cô đẹp lám. Cứ y như chưng coong chúa Bặc Tiếc.” Công chúa nào mà chẳng đẹp, nhưng tại sao anh ta lại chỉ nói về đôi chân. Ở miền Bắc người ta chưa dám nói tới cái đẹp của đôi chân. Trong tờ Văn mà mình coi lén hôm qua, có ông thi sĩ lại còn ví đôi chân của người tình hôm ân ái lần đầu tiên là đôi đũa ngọc. Tại sao người ta lại thơ mộng đến như thế được nhỉ?

Mình ngủ không được.

Ngày… tháng… năm…

Mình lại ra bên bờ suối. Mang theo mấy bó rau muống non cải thiện. Tù ai mà chẳng khổ. Tự giác thì cũng thế thôi. Có bà bỏ chồng tù tội, như cái bà Oanh, nghe nói là vợ thiếu tá nguỵ, bây giờ đang cặp với lão bí thư nông trường. “Biếu anh ít rau…” Anh Kha, người tù cải tạo hôm qua, có vẻ cảm động: “Cô thiệt là tử tế. Lần đầu tiên tôi được một người, nhất là một người của nhà nước cho tôi quà như thế này.” (Anh ta nói giọng Bắc!) Mình nghĩ anh còn dè dặt chưa nói ra hết cái ý nghĩ xúc động của anh. Dân ngoài Bắc đã ném đá những người tù như anh.

Mình biếu anh bó rau vì lòng tốt chăng? Hôm qua mình vừa hái rau vừa cười vui trong lòng. Tử tế không làm cho người ta vui kiểu vui lạ thế.

Anh Kha lôi trong túi quần ra tặng mình chai dầu xanh còn nguyên chưa bóc chỉ; sợi chỉ vàng lóng lánh.

“Phải cảnh giác!” – Mình mỉm cười.

Ngày… tháng… năm…

Bôi chút dầu xanh giữa ngực. Nhớ nhân vật nữ Katêrina trong cuốn Dương Liễu của Bưnốp, cũng xức thuốc thơm khi ra ven sông Volga vin cành liễu vọng về mặt trận miền Tây nhớ người yêu. Mình có yêu anh ta không? Hay là đây chỉ là một phản xạ tự nhiên giống như bao nhiêu thú vật, côn trùng, trước con khác giống. Côn trùng, thú vật có hàng triệu loại hương hoa khác nhau, không hẳn là thơm, nếu xét theo khứu giác của loài người. Nhưng khứu giác giữa người Miền Nam và Miền Bắc chẳng khác là bao. Mùi dầu xanh lại làm mình nhớ mùi hương hồi. Mộ của anh Nông nằm trên đồi hồi. Thương anh. Tội nghiệp cho anh. Nhưng mình còn phải sống, còn phải ngửi những làn hương mới. Làn hương nói cho mình biết cuộc đời mỏng manh, ngắn ngủi; chính vì thế cuộc đời mới trỉu nặng đam mê.

Vĩnh biệt một quá khứ thơ mộng ngắn ngủi.

Ðắm say.

Ngõ cụt.

Ngày… tháng… năm…

Cái giọng nói, cái lối nói chuyện, và những điều anh  tù nói, những từ anh dùng làm cho mình cảm thấy bình yên, khác hẳn ngôn từ trong nông trường, lại càng khác hẳn những cái bầu không khí ngôn ngữ ngoài Bắc. Lời anh như bến cảng ôm lấy thuyền lòng mình. Thuyền mong manh.

Ngày… tháng… năm…

Ngôn ngữ anh ấy như cánh gà mẹ ôm ấp lấy mình. Mình ngả vào chiếc nôi ngôn ngữ, mình phó mình trong đôi tay ngôn ngữ anh vì khao khát. Khao khát lời bình yên từ một tấm lòng thành. Mấy anh chàng ở ngoài Bắc cũng như ở trong nông trường này thích và tán mình. Họ cũng buông lời ong bướm đó chứ, nhưng giọng nói của họ sao giống như giọng của những cái loa mà mình thù ghét từ bé. Những cái loa truyền nhiễm. Cái liến láu ấy bao nhiêu năm đã khoét rỗng lòng. Mình mệt mã trống trải, như sau khi đã nôn tháo những thức ăn không thích hợp; và lời anh, lời anh, như một tô cháo đậu xanh, lại là cháo đậu xanh pha chút đường kiếng. Anh ấy không còn trẻ lắm nữa. Và chắc là có vợ rồi. Mình vẫn cứ để cho ngã, kể chi. Hay là mình lại có ảo tưởng. Khốn khổ cho người đàn bà là đôi khi phải ôm lấy ảo tưởng. Ðể vớt lại một chút đời qua.

Ngày… tháng… năm…

Anh ấy hôn mình. Hôn nhẹ sau gáy. Rồi hôn má, hôn môi. Nhớ cái hôm ấy: “Bàng chưng của Man ai mờ hôn được, sống thọ trăm tuổi!” Tại sao lại hôn chân? Mình đã run bắn người lên. Có phải vì bàn chân chính là toàn thân người thu nhỏ, nơi tập trung những huyệt đạo có khả năng thức tỉnh cả cơ thể, như trong lý thuyết châm cứu mà mình có biết qua? Hay là vì anh độc đáo, biết nhìn những chuyện phía dưới. Cả một thế hệ chỉ thích những chuyện sang cả, những chuyện đội đá vá trời mà quên đi những viên sỏi bên đường. Không phải vậy sao?

Ngày… tháng… năm…

Sáng nay trở lại rừng ân ái

Một thoáng hương đưa đủ quên đời

Lửng thửng xuân về lòng thoải mái

Ngọn cỏ giọt sương, trời đất ơi!2

 

Anh Kha sáng nay tặng mình bài thơ. Mấy cái anh Miền Nam thiệt đáo để! Mình cứ nhớ lần đầu tiên anh ấy yêu mình: Hạnh phúc về như muôn vàn mũi kim mềm vi tế. Luồn tới đầu ngón chân thì sung sướng bùng vỡ như thác lũ. Nhưng giòng thác lũ ấy không trôi ra xa mà quay lại ôm, ướp lấy thể xác và linh hồn mình.  “Linh hồn? Tại sao lại duy tâm như thế!” –  Có tiếng cảnh giác trong đầu, như một ngọn dao chặt đứt giòng hoa lạc. “Tổ sư cái thằng Các Mác!” – Mình nghiến răng chửi thầm. Lúc này mình hiểu tại sao người mẹ trong tác phẩm Người Mẹ của Pearl Buck, đã cởi quần trùm đầu tượng thành hoàng khi bà làm chuyện vụng trộm trong miếu.

………….

Ngày… tháng… năm…

Bữa qua bị kẹt họp hành. Hôm nay đi lao động về, sợ anh ấy trông, mình vội ra chổ hẹn. Chẳng thấy anh đâu. Chỉ thấy chiếc búa anh để lại trong lùm cây dùng làm nơi hẹn hò cả mấy tháng nay. Chuyện lạ. Hay là anh ấy bị chuyển trại? Bị ốm? Hoặc là được phóng thích? Tại sao anh không để lại cho mình vài chữ? Không thể như thế được, anh ấy rất cẩn thận, sợ bị lộ chuyện. Chuyện giai gái đã đành, mà chuyện một tên tù cải tạo đi hủ hoá một cán bộ nhà nước, thì hậu quả khó mà lường, nhất là khi mình cho anh biết, cái thằng cha trưởng trại cải tạo cũng đang dê mình. Gớm, làm như hễ là cán bộ thì đương nhiên thuộc vào hàng thần thánh, hay ít nhất cũng là hàng quý tộc! Bắt đầu dân gian lại gọi mấy bố là quý tộc đỏ. Ðúng là cái vòng luẩn quẩn.

Ngày… tháng… năm…

Lâu rồi chẳng viết được giòng nhật ký nào. Cứ đọc đi đọc lại cho đỡ sầu. Thấy chữ nghĩa, lối hành văn của mình bây giờ sao có vẻ giống như tiểu thuyết đồi truỵ,  như ngôn từ của anh ấy. Mình lai căng mất rồi. Nói theo lối nói của nhà văn Nga nào đó: Mình đã đính hôn với ngôn ngữ trái tim. Chàng hoàng tử đã thức công chúa tỉnh giấc trăm năm với nụ hôn ngôn ngữ của chàng.

Ngày… tháng…năm…

Nghĩ tốt về anh ấy. Nghĩ xấu về anh ấy. Ðầu óc mình cứ như cơn bão tràn về. Chán chường mệt mỏi; chẳng thể đi lao động được. Sao mình yếu ớt thế? Hạnh phúc mong manh và ngắn ngủi đến thế sao? Nhịp sống trở về với những tiếng kẻng, những thi đua tất tả. Giả dối cùng khắp. Mình đã vất vả đi kiếm những khoảng trời mới. Thì ra chẳng có khoảng trời nào mới cả. Mẹ nhắn mình trở về quê. Bố chắc cũng chẳng sống bao lâu nữa. Bây giờ, đâu cũng thế thôi!

Ngày… tháng… năm…

Về được mấy hôm thì bố mất. Chẳng buồn bã gì nhiều. Thực ra bố đã chết từ bao nhiêu năm nay rồi. Hôm chôn cất bố, lão chủ tịch xã bảo tháo bảng tuyên dương anh hùng của bố xuống. Người anh hùng của khói súng Bắc Kạn và lão già héo hắt thuốc phiện đang nằm đó, trước mắt người đời, có vẻ đối nghịch, nhưng mình nghĩ khói súng hay khói thuốc phiện thì cũng như nhau thôi! Sa lầy cũng thú vị chứ! Sống thật phiền!

Ngày… tháng… năm…

Tính chôn cất bố xong sẽ vào lại nông trường, nhưng mình lại cảm thấy mỏi mệt quá! Mỏi mệt như những sợi thừng vô hình, chúng cứ trói chặt mình xuống đất. Dù là đất chết. Cuộc sống ở quê nhà nào có gì đổi mới. Vẫn nghèo đói. Chỉ có những người buôn lậu biên giới là còn có thể sống được. Ðất đai ngày càng cằn cỗi, vì khai hoang, vì xói mòn. Khu rừng sau nhà mình, mới đi hai năm đã bị chặt bằng. Dân làng chỉ còn là những bóng ma dật dờ giữa suơng khói đồi trọc. Chỉ còn chút hương hồi vẫn còn thơm. Có một số đàn bà đi buôn chuyến rồi không về. Người ta đồn là có cô như cô Trìu còn vượt qua được tới Hồng Kông

 

Ông Kha là một nhà thơ, cho nên hồn ông thế nào mà chẳng vương đôi chút cổ kính Trung Quốc: Nào là lầu Hoàng Hạc bên sông khói sóng; nào là trăng rụng, quạ kêu Hàn San thành ngoại… cho nên khi hạ qua, thu về, du lịch Trung Hoa đại hạ giá, ông Kha quyết đi một chuyến, vì biết đâu mai đây tuổi già, bệnh hoạn bất tử, phải ngồi xe lăn, thì mộng sông hồ kể như đi đứt.

Khi đổi máy bay ở Luân Ðôn, ông tình cờ gặp lại người bạn tù cũ, ở Mỹ, cũng đang đợi chuyến bay sang Trung Quốc, lại cũng sẽ bay một chuyến với ông. Ông bạn trước đây nguyên là kiến trúc sư làm trưởng ty kiến thiết; khi sang Mỹ vẫn thích nghiên cứu về kiến trúc, đặc biệt kiến trúc Việt Nam xưa. Một số bài báo của ông đăng trên tạp chí Asian Architecture Review rất được chú ý. Chuyến đi này, ngoài chuyện xem Tử Cấm Thành do một kiến trúc sư người Việt bị Trương Phụ đời Minh bắt đưa qua Tàu, vẽ đồ án, ông bạn Nguyên Ðề còn có mục đích tìm tài liệu cũng cố cho một loạt bài viết mới về kiến trúc Việt Nam. Nghe bạn nói thế, ông Kha vỗ đùi khà một tiếng, và ông quyết theo bạn chứ không theo đoàn du lịch nữa. Ði thăm thú Bắc Kinh với một nguời có thẩm quyền về kiến trúc Trung Quốc nói riêng và văn hoá Tàu nói chung như thế, thì không còn gì bằng. Về thắng cảnh Trung Quốc thì đã có nhiều thiên du ký thật thú vị, thơ mộng đăng trên một số báo chí hải ngoại thời gian gần đây, nên tôi nghĩ không cần phải tả ra đây. Chỉ có một chi tiết là sau những ngày ngoạn cảnh Bắc Kinh và vùng phụ cận, ông Ðề hẹn ông Kha tiện thể xuống thăm luôn vùng Hoa Nam; đặc biệt ông muốn đến thăm ải Nam Quan mà ông đã có lần được xem thoáng qua trong loạt phim du lịch các nước ven Thái Bình Dương của đài BBC.

Hai ông đến ải Nam Quan vào một chiều thu. Sương khói lan man. Màu xanh núi rừng biên giới chỉ kéo dài thêm nỗi mênh mông. Ải có dáng của một tráng sĩ, trong một thế tấn vững chải, đang trấn giữ biên cuơng. Và theo kiến trúc sư Nguyên Ðề thì ải này đặc biệt có bốn chân hơi choải, đơn sơ mà bề thế, hài hoà mà mạnh mẽ, vốn là những nét đặc thù của các cổng tam quan Việt Nam được xây từ thế kỷ thứ muời bảy trở về trước. Ở Việt Nam chỉ còn sót lại một vài cái như thế. Ða số những cổng tam quan đời sau có cái dáng hoa hoè, lỏng khỏng của các cổng tam quan Trung Quốc.

Nghe bạn kể thế, ông Kha bèn góp chuyện là ông có quen một nguời Việt gốc Hoa truớc có dạy chữ Hán ở đại học Văn khoa. Ông giảng sư ấy có kể là ông có đọc được một tài liệu trong thư khố đại học Ðài Bắc đề cập đến một nhân vật Việt Nam có tên là Nguyễn Án , chứ không phải Nguyễn An. Sau khi  xây cất xong Tử Cấm Thành, vua nhà Minh đã hỏi ông Nguyễn Án muốn vua ban cho ân huệ gì, ông Án bèn xin vua cho phép được xây cất lại ải Nam Quan lúc ấy đang độ phế tàn; được như thế, ông sẽ được gần cố quốc hơn. Nhà vua cảm khái lòng nhớ nước thương nhà của Nguyễn Án nên đã chuẩn y lời thỉnh cầu, mặc cho Cao Ban, cháu năm đời của tay phong thuỷ Cao Biền, đã khuyên can, vì Cao Ban sợ ông Án sẽ nhân đó trấn yểm huyệt địa đầu, như thế cái mộng mở mang bờ cõi của thiên triều có cơ bị chặn đứng. Nhưng nhà vua lại là một người đã thấm nhuần cái triết lý lè phè tri túc tri chỉ, nên ông Án được rộng tay xây ải.

“Tôi thấy ải có vẻ hơi chúi về phía Việt Nam, kiểu người biệt xứ trông vời cố quốc!” – Ông Kha buột miệng.

Ông Ðề giật mình.

Phải chăng nhà thơ hay có những cái nhìn không giống ai? Hoặc khi nhìn mông về vùng đất núi đồi choài về bên kia nước Việt, nên nhận ra ải có cái dáng nghiêng nghiêng như thế? Hoặc giả ải Nam Quan đang chùng xuống theo lòng ông? Mảnh linh hồn ông sao không chùng cho được khi sát bên kia biên giới là quê hương của người tình tuyệt vời. (Tuyệt vời đến nỗi ông đã thót cả bụng, khi cán bộ quản giáo báo cho biết ngày mai ông được về đoàn tụ với gia đình.)

Khi qua được nước ngoài, ông vẫn cứ tiếc là, sau khi về với vợ, ông đã không trở lại thăm nàng con gái người Tày đó được, vì giấy tờ bảo lãnh đã đâu vào đó; ông phải lên máy bay ngay tuần sau. Nhưng ông cũng đỡ áy náy chút đỉnh, vì sau khi nhận được giấy phóng thích, ông đã kiếm cách chạy ra lùm cây hẹn hò, bỏ lại chiếc búa như một lời từ biệt. Nàng có thể hiểu được một phần lý do của sự chia tay vội vã, nhưng nàng làm sao hiểu được cắc cớ của chuyến đi viễn xứ mù khơi của người tình chung?

Lòng ông Kha ray rứt, giòng thơ ông lai láng tình sầu:

Anh vẫn nghe lòng em đau thiếp

Trăn trở gã tù nhân đốn củi năm xưa

Và ở đây anh cũng thấy hạt mưa

Từ khoé mắt em

Chảy về cửa rừng chiều tím3

“Ở đây” là ở Na Uy, và tuy đang ở trong một nước nơi cực Bắc địa cầu, ông Kha vẫn thấy giòng nước mắt của người tình phương Nam vời vợi tím ngát màu chiều.

Và có lẽ ở đây, cạnh chiếc ải trông vời cố quốc này, giọt lệ trong thi ca của ông đã thực sự nhỏ xuống.

Thực ra nước mắt đã chảy giòng trong lòng ông từ lâu rồi. Khi qua được Na Uy, ông có viết thư ngay về nông trường nhưng chẳng nhận được thư trả lời; lúc có người bạn thân về Việt Nam ông cũng nhờ tìm, nhưng chỉ được biết là cô Chu Man ấy không còn ở nông trường nữa. Biết đâu ông bạn ấy muốn cho ông Kha yên bề gia thất nên đã nói khéo như vậy. Hay nàng đã về lại quê lấy chồng, chăm sóc cha mẹ già? Ông Kha đã có lúc nghĩ ngợi lan man như thế như bất cứ người tình già nào trên thế gian này.

Khi ông Nguyên Ðề và ông Kha đi dạo phố Côn Minh, họ thấy ở đó có một vài cái cao lâu Việt Nam. Ông Kha rủ ông Ðề vào làm một chầu. Vào đến bên trong, họ thấy một đám đàn ông đang đấu khẩu ồn ào bằng tiếng Việt. Nhìn cách ăn mặc, tóc tai biết ngay họ là du khách, và với lối nói năng của họ, thấy bọn họ có lẽ là dân anh chị gốc Little Saigon. “Tụi nó qua đây vừa để hút thuốc phiện người Miêu bán, vừa chơi điếm; hai thứ đó ở đây rẻ rề.” Quả đúng như lời ông Ðề, bàn đằng góc một tay đầu gấu, sau khi đưa nguyên chai Hennessy lên, tu xong, la lớn:

“Ðụ má, đêm qua, tao hên được mấy thằng Chệt dẫn vào một ổ điếm toàn các ả người Tày! Cái nàng sơn nữ của tao có cái hang Pác Pó thơm tho, hai trái đồi Các Mác nây nẩy. Ðã hết sức! Mẹ, nhậu xong  phải lạng lại câu đại bác thêm vài cú nữa trước khi chẩu về Mẽo!” Cả bọn cười hà hà.

“Nghe mà tức ói máu! Muốn dộng cho mấy cái vào mặt!” – Ông Kha bỗng giận sảng.

Chẳng lẽ ông lại muốn dạy cho cái đám trời đánh thánh đâm đó một bài học như cụ Ðặng Tiểu Bình; hay là ông, một cựu tù nhân cải tạo, mà lại theo phe nón cối bênh bác Hồ?

Oslo,  6. 2001

 

(1) Lơ xít: Bi hài kịch Le Cid của Pierre Corneille (1606 – 1684) , Pháp. Trong vở này, chuyện tình giữa hai người yêu Don Rodrigues và tiểu thư Chimène vừa diễm lệ vừa cao thượng, như các cặp Roméo – Julitettà, Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga. Ðặc biệt qua các mẩu đối thoại.

(2) Sáng nay…: Thơ của Nguyễn Văn Thà

(3) Và ở đây…: Thơ của Nguyễn Văn Cường

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close