NTNV 14 – Ông Tám

Nguyễn Văn Thà

https://image2.tin247.com/pictures/2015/06/23/ghd1435065277.jpg

 

Hình như đêm nay tóc ông Tám vừa bạc thêm. Từ bên nhà trông qua, tôi thấy ông vẫn đang lui hui bên bếp lửa ngoài trời, bếp lửa nấu bánh đêm ba mươi như mọi năm. Ông ngồi nhìn lửa, lặng lẽ như một tảng đá đen. Tối ba mươi nào ông cũng nấu một nồi bánh thật lớn và chong lửa ngồi suốt đêm ngoài trời. Ngồi một mình.

Chiều nay trong khi ăn mấy củ lang luộc, mẹ tôi có nói là đầu hôm bà vừa qua nhà ông Tám thỉnh thang thuốc.

Ðêm giao thừa năm ấy tôi uống say đến ói. Tôi loáng thoáng nghe mẹ tôi vừa cằn nhằn cho tôi uống nước khoai dong giả rượu mà tôi biết bà đã lò mò moi bên hàng, và vừa lâm râm râm đọc kinh. Ðêm ba mươi mẹ tôi đọc kinh hầu như suốt đêm, vì mẹ có nhiều người đã mất, mà mẹ lại rất hay thương, thương và nhớ rất lâu.

Một luồng gió lạnh lùa vào làm tôi rùng mình. Hình như chòm sao Liệp Hộ ngoài trời kia đang giương cung chĩa vào tôi.

***

Năm 1976, nổ ra những vụ phản động trong làng tôi. Qua kinh nghiệm đau thương ở ngoài Bắc, mẹ tôi sợ là tôi sẽ bị bắt, bởi một lẽ là tôi là kẻ có chữ, và là người duy nhất đeo kiếng. Tôi không chịu nghe lời khuyên của mẹ là nên trốn đi, vì tôi nghĩ là tôi chẳng làm gì gọi là phản động cả bởi tôi chỉ là một đứa nhát gan. Thế là ở tù. Mười 30/4. Mười 1/5. Mười 19/8. Mười 2/9… Tôi được thả ra khỏi tù vào ngày sinh HCM, bác của mấy đồng chí giam tôi. Hồi còn bé cha xứ tôi vẫn dạy là hễ ‘ai xin thì sẽ được; ai gõ cửa, cửa sẽ mở.’ Không biết chuyện tôi được thả do công ai. Do mấy cháu của HCM rộng lòng thương hay, như các cha xứ, hoặc như lời mẹ tôi, lặp lại lời mấy cha, là Chúa đã dun dủi lòng mấy ông ấy cho tôi về. Tôi không bận tâm nhiều về những chuyện đó nữa. Tôi chỉ biết tôi được ra khỏi tù hay, nói rõ hơn, ra khỏi chổ tập trung nhiều người nhất thế gian, chổ nằm nhỏ nhất, hạt cơm ít nhất, muối ít nhất, cầu tiêu hôi cũng hôi nhất, giẻ chùi đít mục nhất. Tôi thoát ra được những cái nhất thế gian đó, mừng lắm, nhưng mừng nhất vẫn là được thoát khỏi cái thế giới người tệ và hại nhất thế giới của hồi đó, của bây giờ và của mãi mãi.

Giữa giấc ngủ trưa vàng khè, chập chờn, rã rượi, tôi đã gặp được Nhàn dưới cây mận hồng đào tán lá xanh mướt trỉu những chùm trái đỏ au diêm dúa khác thường giữa một buổi trưa khô khốc, bụi bặm. Nhàn là con gái của ông Tám hàng xóm. Con nhỏ đã lớn trộng không ngờ. Ðẹp và tươi mát mạnh khoẻ như thể những cay nghiệt khốn khổ của những năm sau chiến cuộc không ảnh hưởng gì; ngoài ra Nhàn vẫn có cái vẻ thơ ngây hiếm hoi. Tôi mới được thả ra được mấy hôm, lại đang chẳng thích đi đâu. Chỉ tính qua thăm ông Tám, nhưng lại đang ngại. Nhàn nói là Nhàn sang đây mang cho tôi thang thuốc nam tẩy sơn lam chướng khí mà ông Tám mà mẹ tôi đã dặn; và “Ba mời anh qua chơi.”  Tôi nhìn cô bé, cảm ơn lẫn nghi ngại. Tôi không tin gì vào sự công hiệu của thuốc nam cho lắm, và tôi thấy có sống cũng chỉ kéo dài thêm phiền muộn trong cuộc đời trước đây vốn dĩ đã nhiều phiền muộn, và sau khi ở tù về, lại càng phiền muộn thêm, như những mái tranh mục muôn thuở giữa miền duyên hải đìu hiu gió cát.

Cảm ơn ông Tám và cô Nhàn. Rảnh, cô ngồi chơi, tôi nói. Em bận ra ngoài trụ sở xã vì các ảnh trên đang chờ, Nhàn nói. Tuy tôi là người sinh ra và lớn lên ở miền Trung, nhưng tôi lại rất yêu cái âm điệu trong sáng, dịu dàng của tiếng Nam, nhất là khi được một người đàn bà, và là một người đàn bà đẹp nói. Nhưng khi nghe cái từ ngữ mấy ảnh trên, dù phát ra từ môi một cô gái phải nói là khá xinh như Nhàn, tôi bỗng đâm ghét cái tiếng miền Nam ghê gớm, và dĩ nhiên tôi ghét lây người phát âm ra nó. Chỉ đợi Nhàn ra khỏi ngõ, tôi quăng ngay thang thuốc vào trong lò trấu dâm ngay. Tôi dục, vì tôi lúc này tuy yếu đuối lắm, nhưng vẫn còn đủ sức để phẫn nộ. Nhưng nghĩ cũng vô lý, thuốc là thuốc của ông Tám kiếm cho tôi, và Nhàn chỉ người đưa qua thôi, sao tôi lại vứt đi như vậy?  Vả lại chính Nhàn mới là kẻ phát âm cái tiếng mấy ảnh trên chứ đâu phải ông Tám. Ðúng là giận cá chém thớt, chém một lượt hai thớt.

Tôi mường tượng bóng dáng nhơn nhơn của Nhàn đang đi trên con đường trải đất đỏ nhão nhoẹt, đến trụ sở xã hoe hoét màu đỏ như một mụ điếm già hết thời về quê câu khách. “Mấy ảnh trên đang chờ.”   “Ð. M.   mấy ảnh! Tao đã biết mấy ảnh ra sao rồi; thằng nào cũng như thằng nấy.”

Mẹ tôi, đang ngồi nhặt sạn gạo ở trong nhà, nghe mùi thuốc cháy, hỏi vọng ra:

– Từ ơi, mi đốt cấy chi nghe mà thơm rứa? Coi chừng củi lửa! Tháng này gió bấc thổi mạnh.

– Không có chi đâu mẹ, con quăng vô lò mấy cái cọng ngãi cứu cho thơm thôi mà mẹ…

– Mi bệnh hoạn như rứa cũng phải kiếm cái chi uống chớ, chẳng lẽ nằm đó chờ chết. Hôm qua tau mới qua nhà ông Tám kể bịnh của mi, ông nói ông sẽ kiếm cách giúp, nhưng ông lại nói có lẽ cái bịnh của mi phải dùng thuốc tây mới mau lành.

– Không sao đâu mẹ.

– Tết nhất mi cũng nên qua thăm ông Tám một chút! Hồi mi còn ở trong tù, (chưa bao giờ nghe mẹ tôi dùng chữ cải tạo,) ông Tám giúp cho nhà mình nhiều lắm.

Tôi khi không nổi xùng:

– Gia đình mình? Bộ có con trong đó nữa sao?

– Có, Từ à! Mấy hủ ruốc kho sả, mấy lon gô thịt mấy bận Tết mẹ gởi nhờ người ta đưa lên cho con là của nhà ông Tám gởi cho con, chớ ai vô đó. Con Nhàn nó đưa qua cho mẹ mà. Hồi nãy mẹ nghe như có tiếng ai như tiếng con Nhàn?

– Ừ, con Nhàn.

– Mà nó đi qua có chuyện chi rứa?

– Nó đưa qua cho con thang thuốc ông Tám hốt cho con.

– Cái nhà thiệt hiền đức. Mà mi sắc chưa sao mà nghe mùi thuốc cháy?

– Chưa, con quăng mấy nhánh ngãi cứu cho thơm bếp mà mẹ!

– Thiệt hồi con đi tù, tau mỗi lần bệnh cũng nhờ của ông Tám. Nhà thiệt hiền đức.

Cũng may mẹ tôi không dài dòng kể thêm những công đức của hai cha con ông Tám. Tôi cảm thấy khó chịu một cách phi lý khi nghe chuyện công đức người này người nọ dù công đức ấy là của ông Tám. Những ngày còn bị ở trong trại tù người ta bị mang ơn nhiều không kể xiết, và người ta phải thi đua lao động để dâng lên, để tạ ơn các bác, các chú. Nhưng ở trong trại tù cái mặt của bác và cái cục đường hay lẫn lộn nhau lắm. Nhiều khi chỉ để chiếm cục đường mà người ta bày đặt ra hô hào nhiều chuyện trời bể1. Ngay cả chuyện ở tù cũng là do lòng thương của trên. Tôi mắc cái chứng nghi ngờ mọi công đức bất cứ từ đâu.

***

Hông tôi lại quặn đau từng hồi. Người bắt đầu vã mồ hôi. Tôi thấy vô số những vòng tròn bay quanh; như đang bị chôn trong bể bọt xà bông khó chịu. Có con kiến lại đang chạy lân rân trong ống quần, chưa kịp đập, đã chích một phát ngay hạ bộ. Nửa giận nửa buồn cười. Chắc chú tưởng có gì béo bở trong đó. Tôi giơ tay đập ngay chổ không nên đập. Ðau nhăn mặt. Mở mắt ra, tôi đã thấy Nhàn đứng đó tủm tỉm, tay bưng một lon gô:

– Ba em nói, thang này sẵn lửa củi ba sắc luôn cho anh cho tiện. Ba nói anh cứ uống thuốc tạm thuốc nam. Bệnh anh phải chữa bằng thuốc tây mới mau khỏi.

– Ừ, hôm qua thăm bác, bác cũng nói như vậy.

– Nghe ba em nói hình như anh sắc thuốc bị cháy thì phải.

– Sao ông Tám biết hay vậy?

– Thì gió bấc mà; bữa nào bên này bà nấu khoai cháy ở nhà em đều biết hết – Nhàn vừa nói vừa cười rúc rích.

Tôi cúi đầu không nói.

– Anh Hai à, Tết  nhứt mà sao anh lại rầu rỉ quá vậy!

– Tui có rầu rỉ gì đâu! Cho tôi gởi lời cảm ơn ông Tám nhiều, và cảm ơn cả cô nữa.

– Ðể em vô trong bếp lấy cái ly rót cho anh uống luôn.

– Thôi Nhàn cứ ngồi chơi, tôi uống ngay từ trong lon gô này cũng được.

– Nhàn nghe bà nói, hồi anh chưa đi cải tạo anh thích uống nước trà và bao giờ cũng uống trong một cái tách thiệt đẹp mà.

– Hồi trước khác; bây giờ khác mà cô.

***

Hồi còn đi học, dù học xa, mỗi cuối tuần, tôi cũng cố đạp xe về quê. Tôi thèm đêm khuya miền quê, sao tỏ ngời, trăng vàng đượm, tiếng mõ lốc cốc nhịp theo lời kinh siêu hình dẻo quánh và ngọt ngào, thơm tho như những dòng mạch nha đang chín tới. Nhưng tôi không bao giờ nghe ông Tám tụng kinh, hay đọc kinh dù cuộc sống của ông, dáng dấp của ông trông giống như một vị ẩn tu. Vào những đêm gió nam thổi nhẹ, tôi nghe mùi trà sen thoang thoảng bay trong không gian, từ nhà ông, rất khuya. Ðôi khi tôi cũng được ông mời uống trà trong hai cái tách men trắng như ngọc, hoa văn xanh đơn giản màu chuối nõn, hình như là đồ sứ Limoges2. Thấy tôi thích ông cho tôi một cái, tôi ngại. Tôi không thích số chẵn, anh lấy bớt cho tôi một cái, ông nói.

Hồi ấy tôi thấy ông Tám không làm gì nhiều; chỉ quanh quẩn chăm sóc mảnh vườn và vào rừng kiếm thuốc nam. Chẳng thấy ông giao thiệp với ai ngoại trừ với những người đến mua thuốc.

Khoảng hai năm sau ngày ông Tám tới làng, lại thấy xuất ông Tám đưa một bé gái về nuôi, lúc ấy cô bé chỉ mới khoảng ba bốn tuổi gì đó. Cô bé trắng trẻo, khác với đám con nít ở làng quê rất nhiều. Con nhỏ cũng ít đi đâu và đôi lúc nói chêm đôi tiếng gì không phải là tiếng Việt, ai cũng bảo hình như nó nói tiếng Miên, tiếng Chàm gì đó. Cô bé thỉnh thoảng cũng qua nhà tôi chơi. Tôi và mẹ  tôi không ai bảo ai, chẳng tò mò hỏi gì về mẹ con nhỏ, hay bất cứ những gì có liên quan tới gốc gác của cô bé, vì hình như chúng tôi sợ ông Tám, và thoáng thấy có một cái gì đó không thường nơi ông.

Vào độ ấy ông Tám khoảng tuổi bốn mươi; ông không có cái vẻ thần bí, lập dị của những ông đạo, ngoại trừ lúc nào đầu ông cũng đội một cái mũ len, cũng không có vẻ gì quan cách. Hình như ông có của chìm, vì chẳng thấy ông lam lũ gì nhiều, ngoài chuyện hốt thuốc và chỉ lấy tiền cho có lệ. Nước da ông đen tai tái. Dáng ông cao lớn, chững chạc, tuy hơi khom, mặt có những nét gẫy, thô như một chiếc mặt nạ làm bằng vỏ cây, nhưng đôi môi lại đỏ ướt, và hơi dày. Ông ít nói và chẳng mấy khi cười. Dân trong làng tự nhiên nể và sợ ông, nhưng có vẻ hơi thắc mắc khi không thấy ông đi nhà thờ, đi chùa gì cả, tuy rằng chùa nhà thờ có đủ, trong cái làng nhỏ bé của tôi. Chuông, mõ thi nhau.

Nhà, ông tự thiết kế lấy, khá khang trang; cột gỗ săng đá; vách ván dầu lông; mái lợp bằng những thanh tre rạo, chẻ đôi, sơn xanh, ghép sấp ngửa như ngói âm dương. Chung quanh trồng toàn mai tứ qúi và cây thuốc. Nhà chẳng mấy khi mở cửa; ông chỉ tiếp khách – đúng hơn các người bệnh – ở trong căn chái phía đông. Căn chái phía tây có lẽ là phòng của Nhàn thì phải, vì đôi khi thấy cô bé mở cửa sổ vén màn nhìn sang nhà tôi, nhìn bâng quơ, hay nói vói với mẹ tôi. Nhàn cũng thỉnh thoảng qua nhà tôi, thường thì đưa hộp quẹt qua cho mẹ tôi mượn, hoặc đi qua xin mận và cũng đôi khi qua để nhổ tóc ngứa cho bà. Tôi thấy Nhàn vẫn hay chơi với các đứa trẻ hàng xóm: Chơi ô làng hoặc nhảy dây, có khi còn dám cỡi bò. Những khi thấy Nhàn cỡi bò như thế, ông Tám chỉ đứng nhìn có vẻ vui và không nói gì. Nhàn là một đứa trẻ phát triển bình thường bên người cha có vẻ không bình thường dưới con mắt chưa chắc gì là bình thường của tôi và của bàng dân thiên hạ. Nhàn sống như những đứa trẻ khác, chỉ có khác là Nhàn không phải đi chăn bò, hay đi hái rau cho heo ăn, những công việc mà hầu như không một đứa trẻ nào ở đây tránh khỏi.

 

Hồi đó tuy nhà nghèo nhưng tôi cũng đău được hai cái tú tài và bắt đầu đọc được sách ngoại ngữ. Thỉnh thoảng tôi qua nhà ông Tám chơi, nói về sách này sách nọ mà tôi đã đọc được. Ông Tám chỉ cười và thỉnh thoảng chỉ nói chêm một vài câu, những câu hóm hỉnh nhưng cũng đầy minh trí của một người có học, học cao nữa là đằng khác, làm tôi phải há miệng ngạc nhiên. “Phe quốc gia thiệt là sang, cả nước còn chiến tranh như thế mà sinh viên và các tu sĩ vẫn được hoãn dịch để chuẩn bị cho một tương lai hậu chiến. Vậy mà có một tay ký giả Tây cả gan nói cái dân Việt là một dân tộc hiếu chiến; đền đài miếu mạo chẳng có, chỉ có chiến tranh. Belliqueux3 sao được mà belliqueux!”  Nói xong ông nhìn tôi như thể ân hận vì nói hơi nhiều. Tôi thấy ông như một nồi nước sôi đang đậy kín vung, loại vung của thứ nồi áp suất. Tôi không thấy ông trưng bày sách vở gì ngoài mấy cuốn sách thuốc. Tôi là một học sinh, sau đó là sinh viên, được hoãn dịch vì lý do học vấn, một gã thanh niên vô tâm trong một đất nước đang có chiến tranh tàn khốc. Ðúng là sống nhàn bên đào mận và chỉ thao thức chuyện nước non một chút khi trong làng có anh nọ anh kia đi lính phương xa bị tử trận, may đưa được xác về nghĩa địa quê chôn.

Mỗi lần trong làng có ai chết trận, đều thấy ông đi phúng điếu. Chỉ có những dịp như thế – ngoại trừ những lúc đi thăm bệnh nhân – ông mới đến thăm các người trong làng. Nhiều người, kể các chị quả phụ, lại đâm ra thắc mắc tiền ông làm thuốc nam quanh năm chẳng được bao nhiêu, lại chẳng thấy ông làm việc gì khác, nhưng không biết sao ông lại sống thảnh thơi như thế và lại còn có tiền để phúng điếu, và phúng điếu rất hậu hĩnh. Có kẻ nghĩ rằng có lẽ ông Tám được hưởng gia tài của tổ tiên cha mẹ để lại, có kẻ lại ngờ rằng ông được của, vì ông hay đi vô rừng, đi dọc bờ biển kiếm thuốc nam, biết đâu chừng ông được của Chiêm của Hời, nhưng không ai dám hỏi ông. Tuy ông có cái tên rất bình dân, nhưng ông vẫn có cái xa cách của một kẻ thi ân, cái uy nghiêm của một bức tượng thánh. Sợ, nên người ta không dám tự tiện đến gần, nói chi đến chuyện hỏi han.

 

Qua định cư được Pháp vài tháng, lãnh được mấy ngàn trợ cấp tôi vội vã  dục Nhàn gởi quà về cho ông Tám, không gì ông cũng đã chi cho tôi ba cây vàng cho chuyến đi, Nhàn chỉ ừ hử cho có chuyện, đôi lúc lại nói ba Tám chẳng cần gấp đâu. (Nhàn lúc này đã là vợ. Nhờ duyên số, dĩ nhiên, và cũng nhờ những mũi thuốc cô nàng chích cho tôi – cô nàng hồi ấy là y tá thứ thiệt  mà tôi nào biết –  những mũi thuốc nhờ  mấy ảnh trên kiếm. Giở  mông chích riết, rồi thương luôn, thương mạnh nữa mới kỳ!  Và khi tôi đang viết những dòng chữ này, nàng đang đẩy thằng Chín, con của chúng tôi đi chợ.)

Ðộ ấy tôi lại hay tò mò vào thư viện đại học Sorbonne tìm đọc các luận án của các sinh viên Việt Nam để xem thời trước họ đã học hành viết lách như thế nào mà lại lừng lẫy như báo chí từng ca tụng. Tình cờ tôi đọc được một luận án có tựa đề Le Viêtnamien avant la Colonisation francaise (Con người Việt  nam trước thời kỳ thuộc địa Pháp) . Ðây là một đề tài mà từ ngày phải ở tù tôi nghĩ là cần phải viết, cần lắm. Tác giả là một sinh viên tên Nguyen Thanh Tam, lại có cả cái hình nhỏ ở bìa sau, khuôn mặt như ông Tám. Tôi sững người; các mục đồng ngày xưa khi nhìn thấy Chúa Hài Ðồng cũng chỉ sững sờ đến thế là cùng. Tôi luýnh quýnh thuyết phục người quản thủ thư viện cho tôi mượn cuốn sách rồi vội vã đón tắc xi – thường tôi chỉ đạp xe đạp hoặc đi xe buýt – về nhà ngay. Nhàn đi đâu đó với con, vẫn chưa về. Tôi vừa đi đi lại lại trong phòng như gà mắc đẻ, vừa căng mắt nhìn vào mẩu hình. Ðích thị là ông Tám. Ðường đường là một vị tiến sĩ mà lại đội cái mũ len dị hợm. Hay ba Tám lại thích bắt chước André Gide4, tác giả cuốn Khung Cửa Hẹp.

Chỉ cần nghe tiếng chuông cửa là tôi ào ngay ra cửa; nhưng tới hai ba bận: Khi thì bà đầm già hỏi có con mèo cái màu này màu nọ chạy qua đây không, khi thì thằng nhỏ bên cạnh hỏi TV nhà ông có hình không, sao TV nhà tui bấm hoài không ra hình… Lần cuối, một tên Tây trắng trẻo sạch sẽ ở lầu ba chui đầu vào, ngang ngược đua cái bao vỏ mì tôm: “Có phải cái bao mì tôm này là do mầy xả ở cầu thang phải không, vì ở đây chỉ có mày là dân ăn loại mì này!” Thằng này đúng là dân kỳ thị thứ thiệt: Hiện nay thiếu giống gì mấy thằng nhãi mũi lõ nhai mì tôm nhãn hiệu me xừ Lee như nhai sô cô la ngoài đường. Ðang bực bội vì khi không lại vướng phải cái thằng khỉ gió này, tôi thoáng thấy, sau cái lưng gồ ghề của nó, Nhàn đang đẩy thằng Chín về, với hai thùng mì tôm treo tòng teng nơi xe, la ơi ới:

– Anh ra giúp đưa đồ vào cho em. Gì mà đứng thộn ra vậy!?

Tôi quên béng chuyện bị oan, đẩy cái thằng hộ pháp qua một bên, vọt ra ngoài, la lớn:

– Nhàn ơi, anh có cái này hay lắm!

– Bộ trúng độc đắc hả?

– Nếu mà đúng như anh đoán, thì còn hơn cả độc đắc!

– Nói gì mà hồi hộp vậy!?

Tôi chạy ngay vào nhà đưa cuốn sách cho Nhàn xem, giữa trời tuyết đổ, bất kể lời dặn dò của bà quản thủ thư viện là phải giữ cho cẩn thận vì thư viện đại học chỉ còn vài bản. Và chưa chi tôi đã bật khóc:

– Nhàn ơi, có cái luận án này mà người viết sao giống như ba em y đúc, có đội cả cái mũ len đen.

Nhàn nghiêm sắc mặt – các vị chủ khảo khi xuớng danh chỉ nghiêm sắc mặt thế là cùng –  nói:

– Thì ba Tám chứ ai vào đó. Em biết từ lâu rồi!

Tôi vừa hét vừa  giơ tay ra như muốn tát vào mặt cô vợ cưng của tôi :

– Thiệt hả! Mà sao em lại không nói cho anh biết !?

Cô nàng vẫn điềm nhiên lại còn cười tủm tỉm:

– Em đã hứa với ba Tám là sẽ không tiết lộ tung tích về ba, nhưng ba em biết chắc thế nào anh cũng sẽ biết, vì anh là con người… thích sưu tầm đồ cổ. Chính anh đã có lần tâm sự với ba em là nếu anh qua Tây được anh sẽ bỏ công nghiên cứu những tác phẩm, những luận án của các sinh viên Việt Nam du học bên Tây thời thuộc địa, để biết đâu sẽ tìm ra câu giải đáp cho cuộc chiến tranh phi lý Quốc – Cộng.

Tôi khóc ròng như mỗi lần nhìn đỉnh Mont Blanc5 chất ngất. Và Nhàn cùng khóc. Thằng Chín cũng khóc. Rồi nàng đưa ống tay chùi nước mắt, quệt mũi, và cười, cười còn tươi gấp trăm lần tôi tỏ tình với chị :

– Em còn có món đồ cổ cho anh….

Ngày  tháng  năm

Các vị giám khảo đã chấm đậu luận án của mình với summa cum laude6. Mừng. Cô đơn tràn về. Hay là mình đi Les Alpes7. Sao lại vậy?

Ngày… tháng… năm…

Lên cao mình thấy lòng cô đơn chi lạ. Các cha trong dòng muốn mình trở về dòng để khao tân khoa. Mình lại thích đến một nơi vắng vẻ. Cha tu viện trưởng chấp thuận. Ai bảo tu viện là nơi anh tỉnh nhất. Trái lại thì có. Chỉ có trời đất mới vô ngôn.

Ngày… tháng… năm…

Trèo lên được đỉnh núi khá cao sau nhà mát. Mặt trời. Nhìn mặt trời. Quê nhà mình hướng ấy. Mình khóc nức nữ?. Không có ai ở đây để chia sẻ sự thành công của mình.  Mình có biết mặt mũi cha mẹ mình ra sao đâu! Năm đói. Ông cha xứ nghĩa phụ của mình cũng mất từ lâu. Con Lài, con Lý, hay vô quét nhà xứ, giờ chắc chồng con cả rồi. Có chăng chỉ còn tu viện mà mình đã sống cả tuổi thanh xuân, với tiếng kinh ra rả như tiếng ve cuối hạ; với nghi lễ, tư tưởng, ngay cả áo dòng, rập khuôn Tây phương.

Ngày…  tháng…  năm…

Có con nhỏ sinh viên Việt Nam nào đó, không hiểu sao, biết mình lên đây, lại gọi điện thoại cho mình. “Mời anh về tham dự buổi đón tiếp cụ HCM do tổng hội sinh viên tổ chức. Tờ L’ Idée Contemporaine8 hôm qua có bài phân tích luận án của anh. Cái anh ký giả đó còn bạo miệng: ‘Giá mà người Pháp được đọc tác phẩm này sớm hơn, biết đâu sẽ không có cuộc tái chiếm Ðông Dương. Người Pháp không biết rằng người Việt yêu nước rất mù quáng. HCM là một tay phù thủy và ông ta đang có đầy đủ lửa củi để nấu một vạc bouillabaisse9 kinh khủng’  Thôi, thôi, cho tôi xin:  Âu châu văn hoá lẫy lừng thế kia mà cứ choảng nhau lia lịa từ xưa đến nay. Khói lửa thế chiến chưa tàn trên đất Âu Châu. Bọn người Âu là chúa tham lam mà lại là sư bốc phét, cứ đọc mấy lời hịch của Napoléon cũng đủ rõ. Nói chi cho xa: Mới đây cái anh Churchill, và cả De Gaule lẫn cái anh Hitler, mồm mép như nhau. Chỉ khác một bên thì cứ la hét om sòm, còn một bên lại ra vẻ ta đây là con nhà quan.  Mình chẳng qua chỉ là một kẻ góp nhặt dông dài, cùng lắm như một kẻ sưu tầm đồ cổ, sợ mất, thế thôi, chứ làm gì mà ghê vậy! Tuy nhiên thằng này có lý khi hắn linh cảm về một nồi bouillabaisse như thế.

Ngày… tháng… năm…

Ậy, ậy, cái ông chủ tịch nước VNDCCH vỗ vai mình, lại còn, vừa mân mê cái cúc áo dòng của mình, vừa nói với mình một câu mà tới giờ này, mỗi lần nhớ lại, còn muốn ói. Người đâu mà xạo đến thế là cùng. Ấy vậy mấy anh, mấy ẻm sinh viên xem ra cảm động lắm lắm. Sẽ có khối đứa lao đầu vào hang cọp vì những lời như thế. Bố TÐT không trật đàng nào. Cụ khi không lại còn khen cái luận án của mình nữa chứ. Thật như Ðức Chúa Trời thông biết mọi sự. Chắc bố NMT đã mớm cho cụ chứ gì.

Cũng thiệt lạ mấy cái anh Tây khoa bảng: Một đằng chính mấy ổng chấm điểm cao bản luận án của mình, một đàng cứ bô bô: “Viêtnam, c’est HCM”, bởi vì nếu đem những mẫu người Việt Nam chính thống mà mình đưa ra trong luận án ra đối chiếu, chẳng thấy cái ông này có chút gì là Việt Nam cả. Hay tại họ uống rượu vang nhiều quá. Có cả mấy cô người Việt đến chào mừng lãnh tụ. Mình thấy các bạn trẻ hí hửng chào đón HCM, mà thương; mình thấy lão đang xách cổ bao chàng thanh niên thiếu nữ như các bạn ấy, vứt vào vạc dầu sôi, hay nói theo chữ nghĩa cái thằng ký giả George Flaubert, vào cái nồi bouillabaisse terrible.

Ngày 14 tháng Tám

Cha bề trên kêu về để mừng lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, bổn mạng của dòng, mình xin nán lại Paris để nghe con nhỏ Nguyễn Thị Phương Nam trình luận án tiến sĩ nông học về những giống lúa nước Việt Nam. Cha bề trên tu viện F., trước khi đi tu là một nhà dinh dưỡng học, ông chịu ngay. Ổng thả một câu thòng thiệt nhức nhối: “Trước khi có cái xác để  Madame về trời, Madame cũng phải ăn chớ!” Ðúng quá chớ còn gì nữa.

Hôm đó mình không thấy được Ðức Mẹ Maria –  chắc là chẳng bao giờ thấy – mà có thấy đi nữa chắc gì đã đẹp đẽ, thiết tha như một công chúa Tiên Dung Phương Nam đang đứng trong giảng đường, thao thao về cây lúa Hùng Vương. Nghe sông Hồng mênh mông. Lại chùi nước mắt. Quái, kỳ này sao mình lại hay mủi lòng thế! Hồi ở trong tu viện có lúc nào mình khóc đâu. Hay tiếng kinh rền rỉ suốt ngày, rồi sách vở này nọ đã tha hoá mình? Mình nhìn con nhỏ đăm đăm. Thổ nhưỡng, khí hậu, độ Ph… bắt đầu như nước đổ lá môn. Con nhỏ trình bày xong luận án lúc nào không hay. Ðang khát nước, làm nhớ tới trái cam Bố Hạ mà một bà theo chồng qua Pháp tình cờ biếu mình hôm xin lễ bằng an cho xứ nhà, mình giơ tay hỏi: “Thế cô có bao giờ nghĩ đến một milieux politique 10cho cây trồng không? Chắc cô cũng biết là dân vùng Caucase đã nhổ bật rễ những vườn đào, mà người Tàu đã có lúc cho người cỡi thiên lý mã sang mua về tiến các vị vua chúa Trung Hoa, để trồng khoai lang tây? Tôi nghĩ là với chiều hướng chính trị trong cuộc chiến hiện tại, cô có nghĩ rằng giống cam Bố Hạ của Việt Nam cũng sắp bị bị tuyệt chủng như thế?” Mấy anh Tây đành chịu mang tiếng bất lịch sự đồng loạt quay lại nhìn tôi. Tôi thấy trong mắt của Phương Nam hai vì sao dữ tợn.

Ngày…  tháng…  năm…

Mình vẫn còn thích nấn ná lại Paris ăn ít bữa tiết canh vịt và đọc thơ tình. Ai bảo máu không ngon. Ðọc thơ tình giữa Paris mới thú, càng thú hơn khi đọc trong thư viện đại học cạnh các em. Ðọc thơ, cũng như ăn nhậu, chắc cũng phải có năm sáu điều kiện gì đó, phải không cụ Tản Ðà. Tạm thời vứt mẹ cái áo dòng đọc cái tình thư cho tiện. Mấy thằng CTT, và TBL làm thơ tới quá chớ. Mình ngờ ngợ bóng dáng của Prévert11 trong thơ mấy đứa hơi nhiều. Cũng hay, chớ có sao đâu! ‘Thế bồ đang đọc Prévert à, thối thấy mẹ!’- Con nhỏ có đầy đủ lễ bộ của con đầm trong thơ CTT, vừa phán, vừa cạ cạ núm vú vào lưng, không biết thiệt hay giả.  “Ê, coi chừng cái miệng của mầy, mầy nên biết mầy đang nói chuyện với Monsieur Abbé12 đó nghe chưa!” Mình  quay lại thấy hai vì vệt sóng nhỏ trong mắt người em tóc nâu. Démons et merveilles.

Ngày… tháng… năm…

Les Sables Mouvants

Démons et merveilles

Vents et marées

Au loin déjà la mer s’en retirée

Démons et merveilles

Vents et marées

Et toi

Comme une algue doucement carressée par le vent

Dans les sables du lit tu remues en rêvant

Demons et merveilles

Vents et marées

Au loin déjà la mer s’est retirée

Mais dans tes yeux sont restées

Démons et merveilles

Vents et marées

Deux petites vagues pour me noyer.

(Hình như bài này một bài thơ tình của J. Prevert, tôi đã đọc đâu đó. Khi đọc bài này tôi thắc mắc:  Chép thơ tình vào nhật ký thì chẳng có gì lạ, dù người chép là một linh mục Nguyen Thanh Tam, tuy nhiên tôi vẫn thắc mắc tại sao “cụ” Tám lại không ghi một bài thơ tình bằng tiếng Việt, mà thơ tình hay trong văn chương Việt thì chẳng thiếu; bởi vì một khi ông đã dành tới một phần tư luận án để nói về ngôn ngữ và văn chương dân tộc Việt, hẳn ông phải yêu tiếng Việt lắm.  Tôi cũng thấy ông có gạch hai chữ  deux petites vagues (hai vệt sóng nhỏ) và ghi deux méchantes étoiles ( hai vì sao dữ dằn) thế vào, nhưng ông lại xoá và ghi lại  deux petites vagues như cũ.)

Tạm dịch:

Cát Lún

Liêu trai, kỳ diệu

Gió và thủy triều

Nước đã ròng lắm

Liêu trai, kỳ diệu

Gió và thuỷ triều

Và em

Như cọng rêu gió ngàn ve vuốt

Êm êm

Em lơi lã mơ trên cồn

Nước đã ròng lắm

Nhưng trong đôi mắt em khép hờ

Hai vệt sóng còn nằm lại

Liêu trai, kỳ diệu

Gió và thuỷ triều

Hai vệt sóng nhỏ nhận chìm

Anh.

Ngày…  tháng…  năm…

Ngày mai mình xuống Marseilles về quê, về miền Nam. Mấy bố TÐT, NMT đã về, về miền Bắc, mình cũng về chứ. Sắp đi mình mới thấy yêu cái đất nước Pháp này và đặc biệt cái tu viện đã cho mình cơ hội thấy được mình. Một tháng trên biển, một tháng cho tâm tư.

(Mấy trang sau nữa bỏ trống, rồi tới trang gần chót tôi thấy có một phong thư đựng tấm bưu thiếp chụp khuôn viên  đại học Sorbonne với mấy cây phong thu vàng và phần sau chỉ thấy ghi địa chỉ của người nhận ,nhờ chuyển cho Nguyen Thanh Tam, và mấy sợi tóc nâu.

Trang sau nữa lại là một phiếu thư viện có hình vẽ, bằng bút mực xanh lá cây, chân dung một người đàn bà, tóc thề, mắt mơ màng và dưới khoé mắt là những hạt lúa thật được gắn vào, trông như những giọt nước mắt đang rơi. Có dòng chữ: Biết bao giờ gặp lại cùng một giòng sông! Mặt bìa sau có nhãn hiệu của nhà sản xuất văn phòng phẩm Gérard et Fils, Paris.)

(Cuốn hai: Bìa hơi sặc sỡ, có dòng chữ “Nhật Ký” in khá bay bướm và “Hãng giấy Ðồng Nai, Biên Hoà.” )

Ngày…  tháng…  năm…

Thiệt tiếc hết sức, cái tập nhật ký mình ghi trên tàu không biết mất đi đâu. Chắc mấy người dọn phòng quẳng lộn vào thùng rác mất rồi. Thôi cũng không sao. Chiến tranh đang nuốt dần những suy tư xanh thẳm ấy.

Ngày…  tháng… năm…

Tiếng chó sủa dữ dội đằng vườn trái hồng, tiếp giáp với mé rừng. Mình mở cửa đi ra. Quái có ai bỏ bao bì gì dưới gốc hồng mình hay đái trộm về đêm. “Ủa, sao lại gạo không vậy nè!” Mình thấy có bóng người thấp thoáng ngoài hàng rào. Có cả tiếng thì thào, tiếng sắt chạm vào nhau. Mình chợt hiểu. Cách đây một tháng có ông đại tá tỉnh trưởng đến thăm nhà dòng và nói chuyện khá lâu với cha tu viện trưởng và cha quản lý. Hôm đó mình tính qua phòng cha bề trên mượn số báo L’Express13, tình cờ nghe ba vị nói chuyện gì có vẻ trầm trọng lắm. Mình không gõ cửa, bỏ về phòng. Nghe đâu lõm bỏm mấy tiếng: Việt cộng, sống còn, tiếp tế…

Ngày…  tháng…  năm…

Tổ cha cái thằng JJS, thằng này hồi ở Sorbonne là chúa hồ đồ, học thì nhác mà cứ thích làm lãnh tụ, lại chưa hề đến Việt Nam mà cứ la toáng lên nào là đế quốc, tư bản, giải phóng, thuộc địa mới… Làm như cái nước Pháp nhà anh nhân từ lắm. Chẳng qua không ăn được, đạp cho đổ. Lại còn được cả cái lão Sartre phụ hoạ, nổi đình nổi đám bên đó. Merde. Thôi về ấp con nhỏ Simonne cho dân Annam này nhờ. Mẹ cái chữ nghĩa trong cuốn L’Être et Le Néant14 của nó lúc nhúc âm binh. Chẳng có cao kiến cái con mẹ gì tác phẩm của hắn. Cái tụi sinh viên bắt đầu giàu lên, rững mỡ. Mà rỡng mỡ đọc sách của trự, hiểu sao nổi. Chỉ cần đọc cái tựa đề thôi cũng đủ chất để huênh hoang. Và không gì huyênh hoang bằng những cuộc biểu tình thời thượng. Mẹ cha nó, cái mốt phản chiến quả là thích hợp với cái tính khoe mẽ của mấy anh dòng dõi gà trống; chơ’ còn gì nữa! Phải viết mấy bài vạch cái rỡm đời của bè lũ. Cái thằng Sartre cứ ỏng a ỏng ẹo là con người bị gắn vào cổ cái ách tự do, và con người phải xoay xở hay nói như ngôn từ của hắn là con người phải tự xác lập cho mình một bản thể. Thì miền Nam cũng như miền Bắc, hiểu như một cộng thể, đều thi nhau xác lập cho mình một bản thể. Sống chết mặc chúng nó. Cớ sao hắn lại tước đoạt khỏi miền Nam cái tự do mà ông đã dùng không biết bao nhiêu giấy mực để hô hào – dù hắn chỉ làm công việc vẽ rắn thêm chân đã có từ đời nào trong thần thoại và triết học Hy lạp. Mi không nhìn ra là cuộc chiến tranh này là một cuộc chiến tranh này là cuộc chiến giữa Karl Mark và Socrates giữa Moscow và Athène sao? Hút thuốc mù trời, cà phê cà pháo tối ngày, trí óc có bình thường đâu nữa mà suy nghĩ cho có ngành có ngọn. Viết lách sau này của chả chắc khác gì khói thuốc là bao. Mình nghi ngờ mọi suy nghĩ của những người hút thuốc. Những phát ngôn của hắn lại có sức công phá bằng cả ngàn tấn bom, thế mới chết. Thiệt rầu cho cái đất nước mình. Ai bảo nước không có vận. Ôi, vận nước và khói thuốc lá!

 Ngày…  tháng…  năm…

Về nước cả mấy tháng rồi mà vẫn chưa thích hợp với khí hậu. Bức bối cả mình. Trời thì nóng quá, mà thức ăn chỉ có cơm và mấy con cá trích. Tháng đầu thấy cha bề trên còn bưng vào phòng cho mình mấy ly nước cam giao thời. Nay hết rồi. Cũng đúng thôi. Cha là cha của trăm người. Ai biểu đi Tây về chi cho khổ. Trong dòng ai cũng kính phục đức độ của ngài. Nhưng mình thoáng thấy có cái đuôi cáo lòi sau lớp áo dòng. Ðôi mắt của ngài cũng có hai vì sao sắc cạnh. Mình sợ những đôi mắt như thế.

Chắc là phải viết vài bài gởi cho mấy cha giáo bên đại học Louvain, nhờ mấy vị tìm nơi đăng. Mấy tay khoa bảng Hà nội đang múa mép như gậy đánh vườn hoang ở bên ấy, sao trí thức miền Nam trùm chăn kỹ quá vậy, hay là đang làm dáng trí thức, đang cố kiếm cho mình một địa vị? Bộ không biết rằng khi cái gã Lénine tước đoạt được nước Nga thì mọi cái đỏm đáng, đều bị chôn vùi tàn nhẫn giữa rừng tuyết giá Tây Bá Lợi Á, kể cả chữ Danh to tày đình.

Ngày…  tháng…  năm…

Cả hai bên tổn thất nhân mạng nặng nề. Lúc nào cũng nghe súng xa gần dội về. Mấy bài viết của mình đã được tờ L’ Esprit15 đăng. Nhưng giá được tờ Le Monde15 hay Le Figaro15 đăng thì vẫn hay hơn. Nhưng rồi nghĩ lại, dù bài mình có xuất hiện trên những tờ ấy nữa thì cũng chẳng ăn thua gì. Khung cảnh huỷ diệt có chiều kích thế giới trong sách Khải Huyền16 đang xảy ra trên nước nhỏ bé của tôi. Chữ nghĩa của một ký lục quèn có nghĩa lý gì trước đạo quân Bóng Tối.

Ngày…  tháng…  năm…

Hôm nay nhận được bức thư của con nhỏ Edith. Bày đặt uớp dầu thơm Chanel số 5, vạn dặm tới đây còn thơm. Bố đưa thư chắc thế nào cũng có dấu hỏi, cha bề trên chắc lại đặt cái dấu hỏi to hơn, nhưng biết đâu ngài lại mỉm cười thông cảm. Ngài còn đẹp trai hơn mình nhiều, cũng du học Sorbonne như mình, thế nào mà chẳng có em tán. Có điều ngài cáo hơn mình nhiều Con nhỏ viết là nó đang ở trong ban tổ chức biểu tình phản chiến; và sinh viên cùng công chúng, hàng trăm ngàn người, đang rầm rộ xuống đường ở Paris. Nó có đọc bài viết của cái “ông Tây” nào đó trên tờ L’ Esprit, mà nó đoán đó là bút hiệu của mình. ‘Cái lối viết như đập vào mặt những tên đội đủ thứ lốt, thiên hạ chỉ có mình anh. Cứ đối chiếu mấy bài báo viết cho tờ Universitas cũng đủ biết.’ Phải công nhận con nhỏ thông minh. Nhưng đến lúc mình thấy cần đề phòng con nhỏ này. Phải viết thư xỉ vả cái tính hồ đồ (?) của con nhỏ mới được!!!

Nhớ hôm về chơi trang trại gia đình nó ở Bordeaux, có bữa khi hai đứa đang đi dạo ngoài vườn nho, chính nó à lát xô ôm hôn mình, may mình không làm tới, nếu không bây giờ chắc lại là có chuyện… Nghe nói mấy anh Cộng sản thích sưu tầm các hành vi bê bối của các linh mục để hạ thủ khi cần. Bữa đó ông già lại nhờ mình ban phép lành cho bữa ăn, mình bảo là phép lành mình bỏ lại trong nhà thờ rồi. Ông già cười ha hả. Cái dân Tây vùng này đây cũng ngang tàng như dân Quảng.

 

Ngày…  tháng…  năm…

Hôm qua mình có hỏi cha quản lý vụ mấy bao gạo dưới gốc cây hồng đêm nọ. Cha chỉ cười. Phải làm như thế để sống còn. Hay là các vị cố tình ủng hộ. Bên Âu châu người ta bắt đầu nói về một nền thần học giải phóng. Ðã đến lúc không nên tuyệt đối tin vào các linh mục Công giáo như là những chiến sĩ tiên phong chống lại chủ thuyết mà Công giáo hay gọi bằng cái tên ‘chủ nghĩa tam vô’. Bên Paris, đã có mấy tay linh mục Việt Nam trẻ mon men đi đêm với nhóm “Việt kiều yêu nước”. Lại còn tổ chức hội thảo, cố vặn óc để tìm ra những nét tương đồng của chủ nghĩa Cộng sản với những giá trị Kitô giáo. Ða số tu sĩ trong dòng biết việc tiếp tế nhưng họ hoặc đồng ý với các vị bề trên, hoặc vì đức vâng lời đành im lặng, nhưng có vài thầy tỏ ra không hài lòng. Nhất là mấy tập sinh mình đang dạy Triết.

Ngày…  tháng…  năm…

Cha bề trên nhất kêu mình lên, ngỏ ý muốn giao cho mình làm bề trên nhà tập. Mình trả lời ngay là mình không nhận nếu nhà dòng còn tiếp tế cho phía bên kia như thế. Bởi vì khi làm cha tập sư, tương đương với bề trên ba trong dòng, mình có một trách nhiệm trong hành vi tiếp tế lén lút như thế. Cha ấy và cha bề trên nhì cha quản lý đồng ý chuyện tiếp tế nửa tháng hai tạ gạo cho phe bên kia, và nghe đâu có sự thoả thuận ngầm với đại tá tỉnh trưởng tiểu khu, vì lý do sống còn của nhà dòng. Mình trả lời là chính nhà dòng với những cơ ngơi đồ sộ đã trói tay các vị. Nhớ lúc nói chuyện tản mạn với các tập sinh, mình đã nói với các tập sinh là cơ ngơi của nhà dòng gần giống như Tử Cấm thành Bắc Kinh, mà mình đã có dịp đi thăm trước khi về nước. Không phải chỉ có mình suy nghĩ như vậy, chính cha bề trên cũ, đã già, mỗi lần bó buộc phải đi trên nền gạch bông xa hoa của nhà dòng, ngài đã phải chạy cho nhanh để khỏi phải dẫm lâu trên nền đá hoa xa hoa. ‘Nếu cần cứ giải tán nhà dòng!’ Gớm, mình nói như đang nói chuyện với các giáo sư của mình ở Paris!  Cha bề trên đỏ mặt không nói gì.

Ngày…  tháng…  năm…

Hôm nay cha bề trên lại kêu mình vào; và vừa cười ngài vừa đưa cho mình mấy mẩu báo có đăng mấy bài thơ tình mình gởi đăng trên mấy tờ Ðất của tổng hội sinh viên Việt Nam ở Pháp. Ai đó không biết đã gởi kèm trong thư gởi cho cha bề trên và nhờ chuyển cho mình. Biết mình là tác giả, lại còn biết mình đang ở trong cái tu viện heo hút nữa mới tài. Mình gật đầu cảm ơn cha và chẳng lấy làm xấu hổ. Mẹ, mấy tên đầu bò, hễ cứ có anh anh em em nhất định cho đó là thơ tình lãng mạn! Hay là mấy tay Vixi bắt đầu tức hộc máu vì những bài báo của mình gởi đăng bên ấy. Con nhỏ Edith cả gan gán cho mình là réactionnaire17. Ừ, cứ giỡn với lửa đi! Cả cơ ngơi sản xuất rượu vang của bố mày, và cả mày là kẻ đang được tự do khua môi múa mép bên trời tây kia, đều đang nhờ những đứa phản động như Monsieur Abbé này đó con ạ!

Ngày…  tháng…  năm…

Anh chàng Paul Mambasa, đang làm giám mục ở bên Phi Châu, viết thơ bày tỏ lo ngại cho đất nước của hắn vì cái ông tổng thống của xứ nó, một thi sĩ có tiếng quốc tế, đang bắt đầu thử xây dựng xã hội chủ nghĩa theo mô thức Phi châu. Nó hỏi ý kiến mình xem phải làm gì đây. Hành động ngay, lên tiếng ngay, không kẻo lại muộn. Merde18, người chứ phải cứt à, sao mấy bố đè cổ người ta ra mà thí nghiệm như vậy! Hắn còn khoe có một bà goá già bên Ý, má nuôi của hắn, hứa là khi mất sẽ cho nó một triệu đô la để… xây nhà thờ. Hắn nói là hắn chịu cái câu ca dao Việt Nam mà mình dã dịch cho nó nghe: Dù xây chín bậc phù đồ … Hắn nói với số tiền ấy hắn xây được cả mấy chục cái nhà thờ nguy nga, thôi thì chia bớt cho mầy một cái để mày xài chơi. Hắn còn bồi thêm: “Chưa chắc tao đã xây nhà thờ; cái xứ sở của tao cò biết bao người còn đói rã họng ra, biết bao trẻ dốt nát mù chữ. Ai bảo bà ta tin cái thằng con dân cày chính cống Mambasa này thì rán mà chịu!”

Ngày… tháng…  năm…

Anh chàng Linh, trong suốt giờ dạy Triết của mình hôm qua, có vẻ bồn chồn, khó hiểu. Khi mình đã lượt qua các hệ phái vô thần trong triết học Tây phương xong, chú ta bặm miệng hỏi: “Vậy Cha có tin Chúa không?”  “Có ngu mới không tin vào Thượng đế. Tuy nhiên tôi không tin vào những cái gọi là tín điều về Chúa như giáo hội Công giáo bắt chúng ta phải tin. Nó như những sợi dây siết cổ giáo hội Công giáo.”  “Như vậy, Cha không thể ở trong nhà dòng này được nữa!”  “Tại sao không, chính nhà dòng là nơi cho chúng ta cái môi trường tốt nhất để tìm thấy bản ngã đích thực của mình. Chúa chỉ hiển lộ trong những kẻ đã phủi sạch khỏi lòng mình những kiến thức, kể cả kiến thức triết học kinh viện mà Giáo hội Công giáo rất hãnh diện.”

Ngày…  tháng…  năm…

Mình đã nói những điều ghê gớm. Không hiểu tại sao mình lại nói như thế. Biết đâu công trình học hỏi mười một năm bên trời Âu chỉ dùng được một lần đó với mấy tập sinh chiều hôm ấy.

Ngày… tháng… năm…

Vẫn không thấy cha bề trên nói gì. Ngài vẫn nhã nhặn, nhiều lúc hơi quá, như thường lệ. Ngài lại tận tay đưa cho mình mấy bức thư tẩm nước hoa, dù đây không phải là công việc của ngài. Và cuời nụ cười kẻ cả. Trong Kinh Thánh không thấy diễn tả kiểu cười của bọn giả hình Pharisiêu. Nếu có, chắc phải y hệt như cái cười của cha bề trên hôm đó. Hồi ngài còn làm giám đốc đệ tử viện, ngài đã bày trò kiểm duyệt thư các chú, dù các chú ấy có khi đã mười tám, đôi mươi. Lại còn chia các đệ tử thành đoàn, đội. Và còn có buổi kiểm thảo xây dựng (trong chúa Ki tô) mỗi tối thứ bảy cho toàn trường;  còn đoàn, tháng họp một lần vào chiều thứ năm,  và  đội thì vào thứ tư.  Y như Cộng sản. Mình nghe cha Hồng, bạn cùng lớp, hiện đang làm giám đốc đệ tử viện, kể lại: “Tao chúa ghét mấy cái trò khỉ đó. Ai cũng có nhu cầu được tôn trọng.” Vong thân cùng mình!

Ngày… tháng… năm…

Cha bề trên hôm nay gọi mình lên và giao cho mình và thầy Micae lên ÐL tìm đất lập nhà con. Một cha xứ  ở ÐL đã kiếm dùm. Chỉ lên xem lần chót, trước khi ký khế ước và giao kèo. Ðây là một đồn điền của một người Pháp muốn bỏ về nước. “Cha biết rành tiếng Pháp nên thương lượng với ông Tây dễ hơn.”  Ngài cũng nói là ngài muốn cử mình tạm làm bề trên đầu tiên cho nhà con đó. Mình hơi giật mình. Thương lượng còn được, nhưng tại sao lại sai mình làm bề trên. Mình chắc chắn là chẳng đủ thánh thiện để làm một vị bề trên đúng nghĩa. Vả lại vùng đó là một vùng mất an ninh.

 

Báo Ðức Mẹ Lộ Ðức, ngày tháng năm: Theo tin tức từ nhà dòng mẹ  PT thì trong một chuyến đi để mua đất lập dòng ở ÐL, thầy An Tôn Lê Chính Trực đã bị bọn Fulro, cũng có thể là Cộng sản, bắn chết; may cha Nguyễn Thanh Tâm chạy thoát được, nhưng bị lạc, mãi ba ngày sau mới trở lại được nhà dòng. Chúng đã cướp chiếc Honda và một số tiền lớn nhà dòng dùng để mua đồn điền của người Pháp, ông George Daniélou.

 

Báo Dân Ta, mục Từ Thành đến Tỉnh, Tám Chui phụ trách:  Mẹ mìn tái xuất giang hồ . Ngày tháng năm .Hôm qua, có một người đã dụ dỗ bắt đi một bé gái mồ côi, hai tuổi, trong khi bé đang chơi với các trẻ khác trong sân. Bé có nút ruồi nâu to bằng hạt bắp. Theo như xơ giám đốc, đã biết bi bô đôi ba tiếng Pháp. Mẹ của cháu đã đưa cháu từ Pháp về và nhờ các dì giao đứa con lại cho cha của cháu, trước đây đã du học ở Pháp, nuôi, bởi bà muốn cho con của mình được sống và lớn lên trong một đất nước đang tạo nên những thiên hùng ca. Và phần bà, bà cũng đang bận góp phần vào giai đoạn lịch sử này, bà không thể cáng đáng chuyện nuôi con được. (Nguyên văn lời của xơ giám đốc đã nói với Tám Chui này, chơ tui mần chi mà nói được những lời hay ho quá cỡ thợ mộc như vậy!) Các xơ chưa kịp thực thi ý định thì sự việc xảy ra.

Tạp Chí Ngược Dòng: Cụ Nguyễn Hữu Ðạo, một thời từng là cố vấn về vấn đề đối ngoại cho chính phủ nước VNDCCH, nhưng vì những bài phân tích trong tờ Nhân Loại của nhóm Làm Người, về những ấu trỉ của chính phủ trong quan hệ với Trung Hoa và cụ thể là với Thủ tướng Chu Ân Lai vào thập niên 50, ông đã bị trù dập tơi tả trong suốt 30 năm trời. Khi thì phải sống trong chuồng trâu, khi thì tá túc trong miếu hoang, chỉ vài năm mới đây được ở trong một cái chái che cạnh một trường làng nọ. Ấy là nói nơi ở, còn cái ăn, cụ đã phải đào trộm khoai của hợp tác xã, câu cá trộm, hoặc có người thương cho – chuyện này hiếm. Ấy vậy mà cụ sao lại có tới ba vạn đồng. Có lẽ chờ khi được phục hồi, in sách, làm báo, của cụ, dĩ nhiên. Ấy vậy khi đọc được tập kịch thơ Thanh Tâm Thị Kính của Hữu Lam, một người tới nay chưa hề có thơ đăng, cụ sướng quá, đưa ngay cả gói tiền dành dụm cả mấy chục năm trời để bạn in thơ, vì “Thơ của nó ghê gớm quá!” – Cụ nói như vậy. Hữu Lam cảm ơn tấm lòng kẻ sĩ chính thống của cụ, nhưng không lấy: “Cụ tâm cảm được thơ của con như thế là con không sợ cô đơn rồi. Còn tiền, con cảm ơn cụ lắm, nhưng con không nhận đâu, bởi con sẽ có tiền để in mà, in cả thơ con lẫn thơ cụ, biết đâu chừng cụ nhỉ?”

Có kẻ thạo chuyện trong đám nhà văn Kinh Bắc nghe chuyện, bĩu môi: “Cái lão Hữu Lam này sẽ đưa mấy xấp đơn thuốc nam của lão để trả tiền nhà in chắc!”

 

Bergen, 4 . 00

 

(1) Chuyện trời bể: Vào những dịp sinh nhật HCM… trại cải tạo phải lao động thêm ngày chủ nhật; ví du,ï một toán khoảng 40 người cuốc thi đua với các toán khác, có khi cuốc cả mẫu đất, để dâng lên bác, và để tranh giải từ 1 tới 2 ký đường táng.

(2) Limorges: Nơi làm đồ sứ nổi tiếng của Pháp. Ðặc biệt đồ sứ men trắng.

(3) Belliqueux: hiếu chiến .

(4) André Gide (1869 -1851), văn sĩ Pháp, tác giả Khung cửa hẹp, Những người làm bạc giả..

(5) Mont Blanc, rặng núi giữa Pháp và Ý, với đỉnh núi cao nhất châu Âu 4810m.

(6) Summa cum laude: tối ưu với lời khen ngợi.

(7) Les Alpes : Dãy núi lớn nhất và dài nhất châu Âu, 1200km, trải dài từ Nizza – Savona tới Wien – Marburg, rặng Mont Blanc nằm trong dãy núi này.

(8) L’ Idée Contemporaine: tư tưởng hiện đại

(9) Bouillabaisse: Món cá hầm tạp pí lú của Pháp/ Teribble: kinh khủng.

(10) Milieux politique: môi trường chính trị.

(11) Jacque Prévert (1900 – 1977) Thi sĩ Pháp.

(12) Monsieur Abbé: tiếng người Pháp tôn xưng các tu viện trưởng dòng nam, hoặc linh mục coi xứ.

(13) L’Express: tốc hành

(14) L’Être et le Néant. Hưũ Thể và Vô thể, tác phẩm triết học chính của triết gia Jean Paul Sartre.

(15) L’Esprit: Tinh thần/ Le Monde: thế giới/ Le Figaro: tên riêng

(16) Khải Huyền: Cuốn sách cối cùng của Kinh Thánh, nói về sự hủy diệt thế giới – ít ra theo nghĩa đen.

(17) Réactionnaire: phản động.

(18) Merde!: Ðồ cứt đái!: Tiếng chửi thề của Pháp.

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close