NTNV 6 – Tặng Vật Ðầu Mùa

Nguyễn Văn Thà

https://ongvove.files.wordpress.com/2012/02/nguoilinhhysinh.jpg?w=586&h=251

Cái bí nhiệm của phận người không phải ở chổ con người bị ném vào giữa những hỗn mang cõi thế bụi trần và hổn mang của những vì sao, nhưng ở chổ: Từ căn nhà ngục tù của mỗi kiếp nhân sinh, chúng ta tự tạo cho mình một bản lai diện mục cứng cựa đến độ có thể đẩy lùi hư vô tính nơi mỗi người chúng ta. (André  Malraux / La Condition humaine – Phận Người)1

 

Nguyệt đến với tiền đồn Ða Rưng đã gần năm nay. Cô dã theo đoàn nữ sinh của trường GL (trường cũ của cô) ra đây uỷ lạo các chiến sĩ tiền tuyến vào dịp lễ Giáng sinh; ra rồi ở luôn. Không biết có phải mùi quế rừng Hời mỗi tối trăng thanh bay đầy thinh không đã trói chặt Nguyệt, hay là mùi thuốc súng; hoặc là khi ra tới cái tiền đồi đứng bên bờ sinh tử này, cô bỗng đã tìm được con zéro, vạch tròn đốn ngộ trong bức cuối của bộ tranh thiền tìm trâu, cái vòng hư không làm bàn đạp cho những an lạc chung thân?

Bernard khi biết Nguyệt đang ở ngoài tiền đồn như thế đã viết thư hỏi: “Tại sao? Tại sao?”  Những hình ảnh chiến sự Việt Nam chiếu hằng ngày trên truyền hình, dù chỉ là truyền hình đen trắng, đã làm cho anh chàng kinh hoảng. Anh ta là kẻ đầu tiên dùng cái chữ l’Apocalyse Viêtnamienne2 trên báo chí Pháp; cũng là người, trước đó, đầu tiên phê bình luận án  Le Rôle de la Rhétorique dans la Révolution3 của Nguyệt. Bernard rất chịu  lập luận của cô: Dân Gaulois4 là cái dân đại ngôn; chính cái lối thích dùng chữ đao to búa lớn đã góp phần gây nên những cuộc chiến tranh, những cuộc cách mạng phi nghĩa mà nước Pháp và thế giới phải gánh chịu. Và cái thói giết người không dao bằng miệng lưỡi đó Lenine đã kế thừa một cách xuất sắc mà chẳng mấy ai biết. Rồi cái gã họ Nguyễn cũng ăn phải bã của cái truyền thống tu từ đó, cọng với cái thói ngoa ngoét, lưu manh của những mụ nhà quê xứ Nghệ, đã tạo cho cái ngón tu từ chính trị mang một màu sắc đến độ tổ sư tu từ Aristoste, nếu còn sống cho tới ngày nay, chắc phải ân hận. Nguyệt thù hận với ngôn từ. Triệu triệu cái loa của đạo quân bóng tối đã tràn vào Âu châu thịnh vuợng nhưng chẳng sáng suốt gì cho lắm. Giàu có lâu ngày thì hay bị lừa. Và lắm của thì lại hay thích làm cái việc thương người… bằng miệng. Hắn – cái xã hội Âu Châu phồn thịnh ấy – muốn tỏ ra hào sảng bằng lời bởi vì Hắn không muốn mang tiếng là kẻ trọc phú. Hắn đang no nê, thôi thì la hét, biểu tình vừa cho giản gân cốt vừa cho tiêu mỡ. Và cứ thế Hắn tha hồ vấy máu người bằng những khẩu hiệu.

“Ðả đảo khẩu hiệu!”  “Hỡi những công dân Âu châu, hãy coi chừng lưới nhện của những khẩu hiệu!”  “Xin đừng giết Tự Do bằng những khẩu hiệu tự do!” Nguyệt và một số bạn bè ít ỏi khơi khơi vác những khẩu-hiệu-chống-khẩu-hiệu như thế giữa rừng biểu ngữ hừng hực phét lác trong những tháng biểu tình bạo động của điệp trùng sinh viên vào những năm đó. Rồi cũng chẳng đi tới đâu. Khẩu hiệu như bùa lú đang dẫn con người vào tuyệt lộ mà con người nào hay. Biểu ngữ như sợi dây thòng lọng muôn tầng đang siết họng, càng ngày càng chặt, một phần thân thể còn lại của dân tộcViệt. Có điều là nơi ấy vẫn còn một chút tự do để nói, thì lại ngu đến độ hầu như chẳng nói năng được gì cả; mà có nói đi nữa thì chỉ như cô gái nhà quê ỏn ẻn vài ba câu cho có, thì làm sao cự lại nổi một tên ăn cướp mà lại già mồm như một mụ hàng tôm hàng cá, và khi cần, giảo quyệt như một tay luật sư mafia. Nguyệt về nước vào năm chiến cuộc bước vào thời kỳ kinh hoàng nhất, nhưng miền Nam vào những năm ấy, trên chiến trường, người ta còn thấy được cái cơ may sống sót của Tự Do.

“Thôi Bernard ở lại, Nguyệt về. Cẩn thận với cái rhétorique, kẻo lại giết thêm một dân tộc nữa!”

Cha Nguyệt, một bác sĩ giải phẩu giỏi có tiếng ở quân y viện Cộng Hoà. Hôm Nguyệt xuống phi trường ông còn đang bận với những thương tích. Phần cô, mới bước chân xuống phi trường cô thấy máu me đã đầm đìa lắm rồi trên từng người dân Việt: trên sắc mặt binh lính thì đã đành mà cả trên từng nụ cười của những cô chiêu đãi viên hàng không mềm mại trong chiếc áo dài màu xanh thanh bình mà dân tộc cô bao đời mơ ước. Một dân tộc mà ngàn năm nô lệ giặc Tàu, trăm năm nô lệ giặc Tây chưa thể lôi họ xuống vực sâu sâu như cuộc chiến hôm nay. Nguyệt chỉ nhận được lời chào của cha cô qua điện thoại ở khu tiếp tân phi trường: “Bienvenue à la saison des bénédictions!5“. Cô không ngạc nhiên lắm vì cái lời chào mừng không giống ai như thế, vì cô đã được nghe kể hồi còn du học bên Pháp các bạn đồng song vẫn gọi đùa ông Ban là Monsieur Rimbaud6. Lúc cô ngỏ ý muốn về nước, ông Ban đồng ý ngay. Nguyệt thoạt đầu hơi ngạc nhiên, vì thường các ông bà có con đi du học chẳng mấy ai muốn con về nước làm gì trong cái thời loạn ly này, ngoại trừ những người đã dọn sẵn cỗ bàn cho các cô chiêu cậu ấm. Ôi, cái bằng cấp của Nguyệt chẳng làm được cái nước mẻ gì, cùng lắm chỉ đi dạy học, làm báo, về mà làm chi! Ở bển mà tránh làn tên mũi đạn. Sài Gòn: Hỏa tiển, và thương tích trôi về tím đỏ giòng sông con người, ken với những mảng lục bình tím ngát sự sống. Giới thạo tin đã bắt đầu bán bất động sản, thu quén của cải, dọt. “Không nhường một tấc đất cho Cộng sản!”  ” Ðừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn những gì Cộng sản làm!”  “Không gì quí hơn Ðộc Lập Tự Do.”  “Ðánh cho Mỹ cút Ngụy nhào!”  “Huế, Sài Gòn, Hà Nội, bao nhiêu năm sao vẫn thờ ơ!”  “Lại gần lại gần với nhau; ngồi gần nhau hơn; đừng bỏ tôi đi…”

Tiền đồn Ða Rưng, buổi sớm, nắng vàng bắt đầu vén dần màn sương mỏng quanh đồn và khoan thai treo trên láng cây thưa ven rừng trước mặt. Những vầng cầu vồng vẫn vương giả tuyên dương màu sắc giữa bãi chiến trường đã nát ngấu từ lâu. Mùa mưa xanh dường như đã không còn đủ sức khâu vá những vết thương. Người ta cứ ngỡ đang đứng giữa biên giới của thần tiên – quỉ sứ. Hôm nay trời trở lạnh như một thoáng thu Paris lọt về đây. Có cả nắng vàng sáng và thơm tho như những giòng mật đầu mùa. Gần Giáng Sinh rồi còn chi! Tiếng súng chỉ nổ đì đẹt như chỉ muốn gióng lên sự hiện hữu của con người. Những con giun đất bắt đầu bò ra, bò chậm thanh bình. Mấy con ốc ngo ngoe râu ngóng nắng. Lòng của Nguyệt cũng nhú lên một niềm vui như cành lan Bạch Nhược Phi sáng nay nụ đầu tiên lại bắt đầu e dè khoe hương phấn trước cửa hầm của cô. Cô nhớ lại cái đêm hôm qua, sau khi nói đủ thứ chuyện trong cái lô cốt truyền tin, Trung bỗng hỏi Nguyệt về cành lan. Cứ ngỡ anh chàng đã quên. Cái sáng sớm  ấy, Trung cùng với trung đội trinh sát đi tuần tra vòng đai tiền đồn trở về, đã ghé qua doanh trại đại đội của cô, tìm đến cửa hầm và trao cho cô cành lan:

– Ðưa cho cô cành lan trồng cho vui.

– Lan ở đâu vậy anh?

– Hm…ở ngoài vành đai.

– Rừng Tây nguyên có những thứ lan thật lạ. Không biết loại lan này tên gì.

– Thì kiếm cho nó một cái tên!

Rồi Trung, cùng với toán lính, quay về doanh trại của đại đội anh. Nguyệt không nghĩ anh chàng đưa cho Nguyệt cành lan với hậu ý rụt rè nào đó. Anh sinh và lớn lên ở Mỹ thì cái chuyện rét gái là cái chuyện họa hiếm; và trong cử chỉ lẫn giọng nói của anh không có vẻ gì nhút nhát cả. Chỉ là một hành vi cho, thế thôi.

Cành lan, có cánh chỉ còn trơ lại cuống, có cánh bầm dập, nhưng những cánh còn lại có một màu trắng tinh khiết, lốm đốm đỏ không đều như một bức tranh trừu tượng thu nhỏ, đơn giản nhưng vẽ  khéo, và hình như có cánh lem nhem cả vệt máu thật, bởi vì nơi những cánh ấy cái phối trí màu sắc không được hài hoà như những cánh khác, như một sự xúc phạm. Cô tính hỏi Trung về vệt máu, nhưng rồi nghĩ lại cũng chẳng nên hỏi mà làm gì khi chính máu từ những thân thể của những con người được tạo dựng theo hình ảnh Thượng Ðế, chẳng những chảy mà còn vọt, còn tung toé quanh cô mỗi ngày, như một sự phí phạm; và một khi Trung đã không muốn nói, thì cũng chẳng nên hỏi. Chẳng phải những ẩn ngữ, những ý tại ngôn ngoại đã làm cho cuộc sống có được những mạch ngầm thú vị đó sao? Nếu không, cuộc đời lại chẳng khác gì một màn quảng cáo. Thế mà tối hôm qua Trung gọi máy mời cô qua lô cốt truyền tin bên doanh trại đại đội A của anh nói chuyện chơi. Chuyện lạ. Lính trong doanh trại đại đội B, nơi cô ở, có nói ít nhiều về anh, nhưng cả năm nay cô chỉ thỉnh thoảng gặp anh, và chỉ gật đầu xã giao. Chắc lính ở bên doanh trại của Trung cũng bàn tán về cô. Nguyệt nghĩ không biết tại sao những người lính ấy cứ nghĩ những người như Trung, như Nguyệt có một cái gì đó khác thường, nếu không nói là phi thường, được nhỉ? Có phải vì một truyền thống cứ thích xưng tụng những anh hùng, liệt nữ, những vị thánh, mà không đặt nặng giá trị suy tư về chính cái tôi khốn khổ, vất vả khi đứng trước cõi thế, lẫn cõi trời?

–  Cô biết không chai rượu này – Trung vừa rót rượu ra ly vừa nói – tôi cứ để đây cả mấy năm, hôm nay mời cô qua đây uống một chén cho vui, biết đâu lại không còn dịp để uống.

–  Ừ, mà anh kiếm đâu ra hay vậy?

–  Con nhỏ hàng xóm bên Mỹ gởi, nhân ngày sinh nhật của tôi, cách đây đã bốn năm.

–  ……

– Thiệt tội nghiệp! Trước khi tôi qua đây con nhỏ còn bắt đầu bước chân vô đại học; sau đó lại ham mê chuyện phất cờ, giăng biểu ngữ, hô phong hoán vũ; thế mà sau đó chẳng bao lâu lại đâm đầu vào cần sa ma tuý. Mới chết cách đây mấy hôm vì chích quá đô. Trong một cái xó xỉnh nào đó ở San Francisco.

–  I’m sorry.

– Tôi thù mấy cái khẩu hiệu. Thiệt lạ đời, cái dân Mỹ văn minh như thế mà lại bị cái bọn xướng ca vô loài Woodstock7 vẽ đường chỉ lối. Chúng gào, chúng thét trong hơi khói cần sa mà người ta cứ cho chúng là những vị tiên tri thời đại mới; không nghe chúng thì chẳng khác gì dân Do Thái, theo Kinh Thánh Cựu Ước, chẳng chịu nghe lời tiên tri Giêrêmia8 không bằng. Con nhỏ ân hận vì đã thương lầm người, một babykiller9  như tôi. Tôi tính gởi trả chai rượu, nhưng cô biết đó, trước cái chiến trường có tầm mức của một ngày tận thế như ở đây thì tất cả mọi chuyện đều trở nên vụn vặt. Con người muốn xác lập cho mình một cái phận, một bến đậu. Vũ khí, vũ lực, núi rừng, vực thẳm không làm cho người ta cô đơn, nhưng cô đơn ở chổ người ta thấy mình bị hiểu lầm, bị bỏ rơi như một chiếc bè phận người bị chặt mọi dây neo bến đậu trong bể nhân sinh. Càng cô đơn thân phận của một kẻ bị bạn hiểu lầm; nhất là kẻ bị hiểu lầm ấy lại là một kẻ phải đổ mồ hôi, đổ máu ra để xác lập, để bảo vệ cái căn tính, cái trú sở của mình và của bạn. Cái tâm hồn dân Mỹ đa số đã đầy khói cần sa thì làm sao còn suy nghĩ cho có ngành có ngọn được. Cái đa số ấy không còn có ý niệm rõ ràng về thời gian, về lịch sử, về cái không gian, về cái thế giới nhân quần mình đang sống. Tôi thù những khẩu hiệu, những bài du ca cần sa của những đứa như Bob Dylan, John Lennon, Jim Hendrix, Joan Baez… đã góp phần tạo nên cái đa số đó.  Người Pháp họ có cái câu gì mà The ideas…

   – Les idées gouvernent le monde.

– Ừ, phải rồi. Nhất là vào cái thời đại nầy tư tưởng lại được diễn tả bằng những hình thái sinh động và những phương tiện truyền thông tối ưu… Xin lỗi, mời cô qua chơi mà bắt cô phải nghe những chuyện của tôi.

– Chuyện của chúng ta thì đúng hơn. Anh cứ nói.

– Chúng ta? Ừ, phải đó! Uống đi Nguyệt… Chúng ta nhiều lúc sống cũng để chỉ khâu vá, hàn gắn cái hiện sinh của mình. Nếu không như thế mình không là mình. Mấy anh em ở đây cứ nghĩ tôi là một kẻ nầy, kẻ nọ, đáng trọng, nhưng cô biết đó, tôi cũng chỉ là một kẻ ích kỷ, tôi ở đây là vì tôi, chớ có vì ai đâu… Nhưng thôi, tôi cũng chẳng phân bua mà làm gì. Mỗi người ai cũng sống bằng những kinh nghiệm, bằng cái lịch sử của mình… Cô biết không, cái cành lan tôi cho cô cách đây mấy tuần không hiểu sao lại nằm cạnh xác của một anh thượng uý Cộng sản dẫm phải mìn chết gần hàng rào doanh trại của đại đội C. Tôi cũng không biết tại sao tôi lại nhặt và đưa về cho cô một cành hoa đã bầm dập và vấy máu như thế. Cứ hiểu đó là một nghĩa cử, một tặng vật tình yêu… hay một hành vi vô nghĩa cũng chẳng sao. Tôi chỉ biết là tôi phải làm điều đó, không làm không được. Cũng như hôm nay không hiểu có cái gì đó thôi thúc tôi phải nói chuyện với cô. Một lời trối trăng chăng? … Mà này, cô đã đặt tên cho cành lan chưa?

–  Thưa anh rồi, tôi đặt cho nó là Bạch Nhược Phi.

–  Chà, cụ Khổng mà còn sống chắc cụ ấy phải khuyên son thưởng cô.

–  Mà cái nàng Bạch Nhược Phi đã nở thêm cánh nào chưa?

–  Chưa anh ạ, chỉ mới chớm nụ. Chắc cũng nay mai thôi.

–  Tuyệt, nó đã có một cái tên. Và có một ngày mai.

–  Bienvenue à la saison des bénedictions!

 

Quân xa, trọng pháo và xe tăng của quân Bắc Việt từ sau ngày ký hiệp định Paris, nườm nượp ngày đêm băng rừng Trường Sơn xuôi Nam dưới kia. Tiền đồn vẫn nằm đó như một con chốt tội nghiệp, đã tả tơi lắm rồi, nhưng không biết tại sao chưa bị gạt khỏi cuộc cờ. Quân Bắc Việt vẫn còn e dè xẻ con đường vòng loanh quanh cả mấy chục cây số để tránh đồn. Nhưng cả mấy tuần nay, máy kiểm thính cài quanh khu vực quanh tiền đồn gởi về vô số chớp đỏ và tiếng chân rầm rập ngày đêm như tiếng chân của trùng trùng đao phủ đang tiến tới pháp trường. Và kẻ sắp bị hành quyết đó lại đang bị trói tay, bị giam hãm trong một nhà tù phi nghĩa nhất; phi nghĩa ở chổ kẻ cộng sự, kẻ đã tự biến chiến luỹ mà chính mình đã dựng nên thành tử huyệt cho những người ở lại; đã bỏ đi thì chớ, thậm chí còn nhổ toẹt vào mặt những con người khốn khổ vực sâu, thế mà những con người ấy vẫn tình nguyện ở lại trong cái nhà tù đó. Ðã tan tành xác pháo. Và chắc sẽ còn tan nửa. Họ cầm chắc cái chết. Nhưng họ vẫn phải sống. Nguyệt cũng phải sống. Cô đã về nước không phải để chết.

Tiệc tàn. Trời đã khuya lắm rồi. Chỉ còn tiếng đại bác vọng về, chen giữa tiếng thẻ tre lóc cóc rao phở khuya. Một vài chiếc xe nhà binh chạy vội. Mọi người đã ra về chỉ ngoại trừ anh nhạc sĩ mà cha của Nguyệt vẫn rất mộ mến, tình nguyện nán lại để hái trái trứng cá cho Nguyệt, một thứ trái mà anh ta cho là đẹp và đầy sử thi tính, khiêm tốn mà rực rỡ, nhỏ nhắn mà bao trùm cả vận mệnh nước Việt. Anh ta thời gian gần đây, qua những bản du ca anh viết, và qua những phát biểu đăng trên những tờ báo của sinh viên, và của một số nhóm linh mục, sư sãi phản chiến, đã đòi xoá ba gạch đỏ trên lá cờ quẻ Càn và thay vào đó một trái trứng cá đỏ tươi nằm giữa cờ vì anh ta quả quyết là chính mẹ Âu Cơ đã sinh ra trăm quả trứng dưới tán cây trứng cá đó. Và anh ta còn nói là khi sinh, mẹ Âu Cơ quằn quại lâu, máu me vung vãi lên cả tán cây; cây trứng cá vốn là loài cây không quả, bỗng hiện lên vô số những trái đỏ lấm chấm như những giọt máu lâm bồn.

– Thế, thưa anh Ðỗ Công San – tên của anh nhạc sĩ – hồi tôi học chiến thuật sình lầy ở bên Mã Lai tôi thấy bên ấy cũng có cây trứng cá; xin anh giải thích giùm tại sao?” – Một ông khách dân nhà binh lên tiếng hỏi.

– Dạ thưa ông, chuyện đó thì cũng chẳng có gì khó hiểu: Ông cũng biết chuyện năm mươi con theo cha Lạc Long Quân xuống biển; biển đó là biển Ðông; cho nên cái chuyện đứa con nào đó lưu lạc qua Mã Lai và mang theo loại cây chứng kiến sự sản sinh giòng giống Âu Lạc cũng chẳng là chuyện khó hiểu.

–  ÐM, nước có mất nước cũng vì những thằng lẻo mép như thằng nầy! – Ông sĩ quan lính rằn ri kia rủa thầm.

Chỉ rủa thầm thôi, vì anh ta cũng cả nể, Trời ạ! Nhưng đa số khách khứa lại há hốc mồm nghe, kể cả ông chủ tiệc. May đêm khuya ruồi đã đi ngủ, nếu không thì có vị cũng được dăm ba con ruồi chui vào cùng lúc với những trái trứng cá mà anh nhạc sĩ đã ném vào cái miệng sững sờ của họ.

“Sao cái anh chàng này khi nói về lai lịch, cái sử thi tính của cây trứng cá lại khẳng định một cách ngon lành vậy kìa!? Người Âu châu họ rất cẩn thận khi dùng l’ Indicatif10 lúc muốn xác định ra một vấn đề gì, đã thế họ còn có l’ Conditionel11ghìm giữ ngôn ngữ họ lại, và còn được trang bị cả lô những chữ để diển tả cái chuyện có thể, có lẽ…, thế mà họ vẫn mang tiếng là những kẻ tàn hại thế giới bằng ngôn từ của họ. Chẳng phải chỉ dân châu Âu, một dân tộc châu Á như dân tộc Nhật, vốn có nhiều nét văn hoá chung với dân Việt, cái tiếp vĩ ngữ đềsồ, đarồ (có lẽ, có thể)  là câu đầu môi của họ. Có phải tính hồ đồ trong khi xử dụng tiếng Việt, nhất là động từ, đã góp phần gây nên những thảm họa cho dân tộc? Người ta dễ chạy theo những chuyện chỉ có giá trị “có thể”, những huyền thoại, những hoả mù ngôn ngữ do các tay tráo trở ngôn ngữ, nhất là khi bọn quỉ quyệt đó lại khéo vận dụng một loại ngôn ngữ hàm hồ, đa nghĩa như tiếng Việt. Les idées gouvernent le monde – Tư tưởng lèo lái thế giới. Mà tư tưởng là những chuỗi dài các từ, các chữ được nhà tư tưởng vận dụng, nhưng trong chuỗi ngôn từ, quan trọng hơn hết chính là động từ; nó đóng vai trò vận hành của tư tưởng. Bọn mánh mung dẫn con người vào mê lộ với cái lối dùng động từ lập lờ của họ. Chậc, cái rhétorique nửa mùa của cái anh nhạc sĩ nầy thật nguy hiểm!”

Cô lại cũng giống như ông nhà binh kia, chỉ rủa thầm. Sao vậy?

Ngoài ra, trước đó trong bữa tiệc, Ðỗ Công San còn hát những ca khúc cá vàng Việt Nam cho khách khứa da vàng nghe. Mọi người từ anh bồi chị bếp cho đến mấy ông lớn, bà lớn  há miệng nghe quên cả ly sâm banh sóng sánh hoàng kim. Có vị nghe đã quá, ném luôn cả ly rượu tây sủi bọt vào tường và chép miệng than trời ước được ly rượu đế chính hiệu con nai vàng cất từ những lò Nam Trung Bắc xứ Việt uống mới đậm đà tình dân tộc. Nghe ca khúc cá vàng từ ba giòng sông đất nước mà lại uống sâm banh tận đâu đâu xứ người thì thiệt không đâu vào đâu cả. Chỉ có Nguyệt vẫn thủng thỉnh  nhắp từng ngụm loại rượu mà những lần về trang trại trồng nho của bố mẹ Bernard ở Bordeaux, hai người lén xuống hầm rượu vừa nhắp vừa thưởng thức những giọt tình tí tách trong tim. Cô có lúc đã nói với Bernard: “Tây phương chỉ có hai món đáng trọng vọng đó là đàn dương cầm và sâm banh, chúng chỉ đường đến ánh sáng sự sống.”

Anh chàng nhạc sĩ đu đưa trên cành và cười lích chích với Nguyệt, như một chú khỉ con. Thỉnh thoảng anh  lại nhảy xuống vớ lấy đàn ghi ta thùng khảy khúc tứng từng tưng. Rồi anh ta nhai ngấu nghiến đôi kính cận, ca bài hạnh ngộ máu me. Anh kể rằng đất nước ngàn năm nô lệ, triệu năm da vàng mũi tẹt. Anh ước mơ đi thăm hàng hàng mộ chí. Anh thương mẹ Việt Nam, thương quá sức, và tình nguyện dìu các bà qua nghìn trùng tai biến, lại còn bê cả đất mẹ thương tích lên võng để ru. Hình như ngày xưa anh ta là kẻ sinh thiếu tháng èo uột, được mẹ ru nhiều, nên ra cái điều thích chuyện ầu ơ. Và nửa cái đất nước còn lại giống như thằng cu, cái hĩm, hình như cũng rất khoái những điệu ru của anh. Ôi, cô-bé-khăn-đỏ nam nữ  nào, dù đã lớn xác, mà  lại chẳng thích câu ru của mẹ, của bà. Bao nhiêu trái trứng cá đỏ au, mọng nước nghe tiếng anh ta hát, mê tơi, rơi ào ào vào miệng anh chàng, và chui luôn vào thùng đàn. Người ta không còn phân biệt được tiếng ca, tiếng đàn của gã là những âm thanh đớn đau của máu hay là tiếng dịu ngọt trái trăng. Nguyệt lịm người, vì bài ca diệu vợi nào mà chẳng có máu tươi và mật ngọt; cái cô Nguyệt mới hôm nào, trước mọi ngôn phái, thi phái xứ người, vẫn lạnh như vầng trăng đông chí, và, chỉ mới lúc nãy đây, giữa bữa tiệc, cô đã hằm hè với những ngôn từ ngọt lẻm của gã nhạc sĩ, thế mà bây giờ, lại run rẩy há miệng hứng lấy những trái trứng cá đỏ tươi từ miệng anh nhạc sĩ phun ra. Và khi đã bưa, cô bước đến gần và sà vào lòng gã Trương Chi tái thế đó – lúc nầy đã ngồi bệt dưới tán cây – như rơi vào vực thẳm huỷ diệt mà nào có hay.

Giữa khuya vầng trăng nhìn xuống thấy cô gái cùng tên với mình nằm co hình chữ S bên hè nhà; có con trăn dài cả hai ba thước, loại trăn núi rừng Trường Sơn, quấn quanh cổ, vừa đang siết dần, vừa âu yếm thè lưỡi liếm lên mái tóc rối rắm, lên khuôn mặt bơ phờ buồn bã của Nguyệt; không phải là cái vẻ mền mệt, hay cái nét buồn buồn dịu ngọt sau cơn tình ái, nhưng là sau một lần thất tiết.

Khi vầng trăng rằm khuya lên ngự trên thiên đỉnh, không biết gà từ đâu giữa phố thị mà gáy vang vang.

Sáng ra người ta không còn thấy Nguyệt ở trong vườn nữa; chiếc áo dạ hội màu xanh biển thái bình bị quẳng vào sọt rác lờ nhờ những trái trứng cá Âu Cơ chưa kịp tiêu bị mửa ra. Gia đình không biết cô đi đâu.

Hỡi Titan! Dưới những con mắt bất tử,

Dù các vị thần

Nhìn thấy, trong thực tại thê thiết,

Những đớn đau của loài hay chết,

Các vị ấy vẫn chẳng chùn tay.

Thế thì cái gì sẽ là cái bù lại cho cái lòng thương xót cuộc thế của ngươi?

Cắn răng chịu đựng,

Ðá tảng, kên kên, xích xiềng,

Tất cả những thứ đó, con người, dù kiêu hãnh, vẫn biết đau;

Thế mà ngươi lại không tỏ ra cái vẻ của kẻ lâm chung.

Ðớn đau quằn quại; nói ư? chỉ nói khi vắng vẻ,

Và rồi cứ ngại rằng trong khung xanh kia có kẻ nghe lén, nên ngươi đã chẳng cất tiếng thở dài

Cho tới khi trời kia không còn dội tiếng.

 

Titan hỡi, ngươi phải đấu tranh giữa đớn đau và lòng tham-sanh-uý-tử.

Trong trường hợp hai điều đó không thể giết chết ngươi, thì chúng lại xoay ra hành hạ ngươi.

Và Ông Trời bất bao dung,

Và cái Ðịnh Mệnh câm điếc tàn bạo kia.

Cái nguyên lý vận hành của Sự Ác, vì chỉ để làm trò vui, đã tạo tác

Những thứ mà Ác ta một ngày nào đó lại sẽ hủy diệt.

Nguyên lý đó đã khước từ ngươi diễm phúc được chết cho rảnh nợ:

Cái tặng vật thê thiết Vĩnh Cửu đó lại dành cho ngươi – và ngươi đã ung dung đón nhận

Tất cả Sấm Sét.

Và lời cảnh cáo của ngươi sẽ là: Ném trả vào mặt Sự Ác những hành hạ mà ngươi đã chịu trên giàn khảo hình;

Ngươi đã thấy rõ trước: Phận ngươi phải hành động như thế,

Nhưng ngươi sẽ không huênh hoang với Hắn12b.

Trong Thinh Lặng của ngươi có Lời Tuyên Án.

Trong Linh Hồn của Hắn chỉ thoáng một chút ân hận vô nghĩa,

Và sự gieo kinh hãi ác độc của Hắn, ai đó đã cố tháo gỡ mà chẳng nên cơm cháo gì

Ðến nỗi trong tay Hắn, Sấm Chớp lại vẫn run rẫy từng cơn.

 

Từ-tâm là một loại tội ác Ông Xanh đã trót phạm:

Trời đã có lúc nới tay lề luật,

Ðể chuộc lại trùng trùng khốn nạn nhân sinh;

Và còn  trang bị cho Con Người trí khôn để cho nó được mạnh mẽ.

 

Dù trên đỉnh cao kia ngươi hổn hển,

Nhưng nơi nghị lực, trong chịu đựng, và trong sự chống trả của ngươi,

Hậu thế chúng tôi đã thừa hưởng được một bài học uy dũng:

Ngươi là biểu tượng, là dấu chỉ về phần số bất phục,về sức mạnh

Cho nhân sinh khả tử chúng tôi;

Cũng giống như ngươi, Người Thế có một phần linh,

Một giòng nước khoắng bùn phát xuất từ cội nguồn tinh khiết;

Và Người Thế, một phần nào, có thể thấy trước phần số tóc tang của mình,

Sự khốn khổ, và sự phản kháng,

Và cái hiện hữu phi liên kết buồn bã của hắn.

Tinh Thần của Người Thế đã đương đầu với cái hiện tồn ấy – Và đối đầu luôn với cả mọi thứ sự dữ.

Một ý chí sắt đá, và một cơ tâm thẳm sâu,

Dù trong cay cực mà vẫn chối từ mọi đền bù thăng thưởng.

Lẫy lừng ở chỗ Người Thế dám thách đố,

Và dám biến Sự Chết thành Khải Hoàn.

(George Byron / Promotheus – Promotheus, Người-cướp-lửa-Trời12)

Cả hai tuần nay pháo của quân Bắc Việt đủ loại nện vào đồn. Những giàn trọng pháo trên những ngọn núi cao bao quanh bắn trực xạ vào; chúng gần đến độ có thể thấy khói bay từ các họng đại bác. Mấy chiếc phi cơ oanh tạc của không quân Việt Nam Cộng Hoà chẳng đủ sức, đủ số, để bịt miệng những họng súng đó; phải giảm số các phi vụ và phải tiết kiệm bom vì quân viện đã bị Mỹ cắt sát ván. Và cái chết nó như một trái lựu đạn đã giật chốt rồi; chỉ còn một tiếng nổ chuyển đời.

Khi đợt xung phong cuối cùng của quân Bắc tràn vào tiền đồn thì đồn đã tan tành, đúng là không còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào. Và tất cả đã bị thiêu rụi bởi loạt bom napal mà thiếu tá tiểu đoàn trưởng chỉ huy tiền đồn đã ra lệnh thả khi quân Cộng sản Bắc Việt tràn ngập đồn. Cái cảnh huỷ diệt của thành quách Giêruxalem mà Chúa Giêsu đã tiên báo và cái địa ngục của thi hào Dante13 vẽ ra  trong Tấn Tuồng Thần Thánh thiệt không nhằm nhòi gì so với cái cảnh tiền đồn Ða Rưng vào lúc đó. Một địa ngục đen, nát ngướu, nhầy nhụa; xác người tơi bời như một mẻ cá trích nướng ai đó đã hắt xuống cõi trần như những đồ thiu thối. Và im lặng tận cùng, cái thinh lặng nó mạnh đến nỗi có thể bóp chẹt, nhận chìm được những tiếng kèn tây xung trận và những câu xung phong hùng hổ cuối cùng “Vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, các đồng chí tiến lên!”  “……”  và cả những tiếng súng và tiếng lựu đạn ném vào các cửa hầm.

Rồi khi toán lính Bắc Việt đầu tiên xông vào hầm truyền tin cũng là hầm chỉ huy, chúng thấy một xác đàn ông cháy như một con chó thui quá lửa, hàm răng nhe ra như đang cười, nhưng cạnh cái xác cháy đó lại có thân thể một thanh nữ trần truồng và trắng như cẩm thạch trắng; cái thân thể ấy đang trong một tư thế rướn cong hình cung lên trời, hay nói đúng hơn lên trần hầm trú ẩn, như một nỗ lực cuối cùng nhằm hứng lấy những bom đạn từ trời.

 

Oslo, Giáng Sinh 2000

 

(1) Cái bí nhiệm… trích từ  La Condition humaine – Phận Người của André Malraux, văn hào, bộ trưởng bộ văn hoá  Pháp, (1901 – 1976).  Nguyễn Văn Thà dịch đoạn này.

(2) L’Apocalyse Viêtnamienne: Khải Huyền Việt Nam (Khải Huyền: Cuốn sách viết về sự huỷ diệt thế  giới – ít ra theo nghĩa đen – trong cuốn sách cùng tên trong Kinh Thánh).

(3) Le rôle…: Vai trò của tu từ trong cuộc Ðại Cách Mạng (1789). Tu Từ: Nghệ thuật  dùng ngôn từ để gây xúc động, hoặc thuyết phục người nghe, người đọc.

(4)  Gaulois: Tiếng xưa để chỉ dân Pháp.

(5)  Bienvenue…: Chào mừng (con ) về với mùa ân phước!

(6)  Rimbaud: (1854 – 1891) Thi sĩ Pháp, tác giả tập thơ La saison en enfer: Mùa Hoả Ngục, …

(7) Woodstock (festival): Ðại hội quần tụ giới trẻ, hippy, năm 1969 (15.9), kéo dài trong năm ngày, có tới 400.000 người ham dự. Chống chiến tranh (Việt Nam); cổ võ tình yêu; nhạc “mới”;  thử nghiệm tình dục kiểu mới, ma tuý, và các loại đạo xứ lạ (Ấn độ…)

(8) Babykiller: Kẻ giết trẻ thơ: Lính Mỹ bị  những người phản chiến gán cho “mỹ hiệu” này trong cuộc chiến tranh Việt Nam

(9) Tiên tri Giêrêmia: (khoảng 650 – 565 tr. CN) , tiên tri xứ Do thái. Bắt đầu được Thiên Chúa kêu gọi làm tiên tri dưới thời vua Dôxia, Dêhôiakim, Dêđêkia. Sách của tiên tri Giêrêmia phần lớn gồm những lời cảnh cáo về sự phán xét của Thiên Chúa đối với dân Do thái vì họ đã vi phạm lời giao ước với Thiên Chúa, và cũng gồm những lời hứa hẹn về một giao ước mới. Sách cũng kể lại những thống khổ của tiên tri và những lời cảnh cáo về tai họa xâm lăng của ngoại bang. Ngoài ra còn có sách thơ Ai ca, cũng của tiên tri, diễn tả những đớn đau của dân thành phố Giêruxalem phải chịu khi bị quân Canđê bao vây năm 587 tr. CN; nhưng từ những lời ai oán này, người ta thấy tiết ra một niềm tin tưởng không thể lay chuyển vào Thiên Chúa và một tâm tình thống hối thâm sâu. (Theo The American Peoples Encyclopedia và Nguyễn Thế Thuấn trong Kinh Thánh)

(10) L’ Indicatif: Xác định cách của động từ

(11) Le Conditionel: Ðiều kiện cách của động từ

(12) Hỡi Titan…: Dịch từ bài thơ Promotheus (Người Cướp Lửa Trời Promotheus) của George Byron, thi hào Anh, (1788 – 1824). Nguyễn Văn Thà dịch./ Titan: Siêu nhân trong thần thoại Hi lạp./  Promotheus: Siêu nhân đã cướp lửa của Trời Zeus, cho nhân loại, bị bắt được và bị xiềng trên núi Caucase, (theo thần thoại Hi lạp). / (12b).  “Hắn”: Nguyên  Lý Sự  Ác.

(13) Dante, Alighieri (1256 – 1321): Thi sĩ, học giả người Ý; tác giả trường ca Tấn Tuồng Thần Thánh (Divina Comedia) gồm ba phần: Hoả Ngục, Luyện Ngục, Thiên Ðàng.  Các hình ảnh ghê sợ về hoả ngục trong các bức tranh hoả ngục treo trong các nhà giáo dân Công giáo, đa số, dựa trên những hình ảnh Dante tưởng tượng trong tác phẩm kể trên. Hoả ngục, theo Kinh Thánh, không rợn rùng như người ta tưởng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close