NTNV 4 – Vườn Mai Sau

Nguyễn Văn Thà

Bilderesultat for vườn ổi

Thầy Ðược có hai chuyện mà đi chỗ nào ông cũng khoe, đó là cô con gái đầu đôi tám xinh đẹp và vườn ổi xá lị.

Ông còn khoe thêm nhiều chuyện nữa, ví dụ, ông có bà vợ trắng trẻo và cô con gái lai Tây; hoặc vườn ổi xá lị quý lấy giống của một bà đầm, vợ chủ đồn điền cao su Long Khánh đưa từ Madagascar sang, vì ông đã chữa cho bà lành bệnh viêm gan ác tính đến bác sĩ nhà thương Tây cũng phải bó tay; hoặc ông đã từng làm y tá kháng chiến chống Tây, bộ đội bị mấy cái bệnh thổ tả, kiết lỵ, thương hàn, sốt rét ngã nước ông chữa cái một, lại còn chữa cho cả gia đình tướng Giáp. Xứ An Bình, nơi ông định cư từ những ngày đầu mới thành lập, là một ấp dinh điền nằm giữa rừng thiêng nước độc, và dân ở đó làm thì có, ăn thì không, cho nên hay bị những chứng bệnh hiểm nghèo kể trên.

…Dù có ghét cái tính phét lác của ông, nhưng người ta vẫn cần ông, nhất là khi số người bệnh nhờ ông mà lành khá nhiều. Những người lớn tuổi vẫn đàng hoàng gọi ông là “thầy” Ðược; đám trung niên, tuổi trẻ lại chịu khó thêm cái từ “láo” vào danh xưng đó, cộng với một chuỗi cười hề hề khi ngắn khi dài tuỳ theo cái trọng lượng đạo đức mà bọn họ ngầm gán cho chính mình.

Thực ra, ông Ðược thường chỉ nói chuyện trời bể những dịp ông đi chữa bệnh; vừa chờ cho nước sôi sát trùng ống và kim chích, hoặc vừa cưa ống thuốc, vừa nói. Thường thì ai cũng cười, kể cả bệnh nhân. Chích xong, lấy tiền, ông về ngay, bởi ông bận đi chữa những nhà khác, ở ngay trong ấp An Bình hoặc ở những ấp kế cận; hay ông phải về chăm sóc vườn ổi xá lị.

Ông lại thích tìm tòi những loại thuốc Tây mới để trị bệnh ngày càng hiệu quả hơn. Cho nên, những dịp Trực về thăm gia đình, ông hay mời lên nhà chơi, đọc dùm toa thuốc toàn chữ Tây; ông hỏi kỹ công dụng và liều lượng. Khi về Trực được ông đích thân ra vườn hái cho mấy trái ổi xá lị to hơn những nắm oản độ lượng nhất của thầy tăng, và no tròn, và bóng mỡ. “Biếu ông bà của chú ăn cho vui.” , tuy rằng bố mẹ Trực lúc đó răng cộ chỉ còn đôi chiếc, cơm còn phải nuốt trộng nói chi ổi.

Và đôi mắt long lanh, nụ cười long lanh của cô Hoa sau làn lá ổi biếc.

Ðộ rày cặp vú của cô Hoa căng, nây nẩy, trội hơn hẳn những cặp vú trái cau, quả quýt của những cô gái trong cái ấp An Bình triền miên thiếu ăn. Thân hình cô Hoa cao ráo, khoảng thước bảy chớ không ít, và với một cặp vú như thế, cô quả đúng như những lời khoe của thầy Ðược. Vào thời ấy, giữa một nơi thôn dã lem luốc như cái xứ An Bình, lai Tây với cái nghĩa cao ráo, da trắng, mũi dọc dừa thì ngon lành rồi; nhưng đôi vú quá khổ, quá Tây của cô Hoa thì người ta lại không ưa, bởi chúng bao hàm một cái vẻ đĩ thoã . Mà đĩ thoã trong một cái xứ đạo nhà quê thì thiệt là phiền, bởi người ta dùng nhiều thì giờ, quá nhiều thì giờ để bình phẩm, để hướng dẫn người khác (ý nói các cô) sống cho có đức hạnh. Ðức hạnh đây có nghĩa là làm sao đừng làm xốn con mắt các bà già trầu, đừng làm gì để cho cái bọn con trai nảy ra cái tà ý rờ rẫm, đôi khi chỉ rờ rẫm được bằng miệng. Tội phúc luẩn quẩn chỉ có thế.

Nhưng đôi vú của cô Hoa làm sao cho chúng xẹp lại được?

Cô Hoa hay đến chơi rồi ở lại ngủ với chị Tâm của Trực; nhất là những hôm bố mẹ Trực đi thăm cháu ngoài tỉnh. Chị Hoa được phép ông Ðược cho đi chơi rồi ngủ lại đêm như thế là vì gia đình của bố mẹ Trực được kể là một gia đình đạo hạnh, chính ông Ðược đã nói như vậy. Tuy người đời chung chung đánh giá ông thấp (vì cái thói thực ra nói trạng nhiều hơn là nói dối của ông), nhưng ông lại là người biết chăm lo chuyện nết na cho cô con gái (chỉ cho chơi với chị Tâm), và lo cả chuyện tương lai ăn trắng mặc trơn cho con mình, (cô Hoa là người con gái duy nhất trong ấp được đi học trường trung học.) Ông Ðược chịu khó đưa đón con gái mình đi học trường tỉnh cách ấp An Bình cả mươi cây số. Cô học đến lớp đệ tứ. Và sau đó qua một khoá y tá cấp tốc, cô đường hoàng trở thành một cô y tá trẻ làm trong trạm xá y tế của ấp. Trạm xá có một tủ thuốc trị các bệnh thông thường khá tốt, khá đầy đủ, vì toàn là thuốc Mỹ viện trợ theo kế hoạch xây dựng nông thôn, cho nên, tuy chỉ là một y tá được huấn luyện cấp tốc, cô được kể là người thầy thuốc khá mát tay.

Và cô có cái nhan sắc Tây lai.

Ông thầy Ðược có đủ lý do để khinh thường bọn thanh niên vai u thịt bắp trong làng.

Thực ra ở trạm xá cô không phải làm gì nhiều; cô có nhiều thời giờ rảnh để đọc tiểu thuyết diễm tình, từ tiểu thuyết của Nghiêm Lệ Quân, Lê Xuyên, Quỳnh Dao cho tới Mai Thảo, Nhã Ca. Trái với lời giảng của cha xứ. Lời của cha thì lượm lặt lời của những tiên sanh tận đâu bên trời Tây, nhưng ý thì cũng đại khái như các cụ An Nam ngày xưa: “Ðàn ông chớ đọc Phan Trần. Ðàn bà chớ kể Thuý Vân Thuý Kiều.” Một số cuốn cô mua những dịp lên tỉnh lãnh lương, lãnh thuốc, một số cô mượn nhà Trực.

Những đêm cô Hoa đến chơi ngủ lại với chị Tâm, hai cô cứ cười rúc rích cả đêm trước hiên; vào buồng vẫn còn cười.

Có đêm, như một đêm tháng Ba giáp mùa mưa Bảy Mươi Lăm, không khí oi nồng râm rấp, hai cô khuya khoắt rủ nhau đi tắm, và cười xì xào chi đó. Tiếng nước xối nghe rào rạt trên bụi lá từ bi được dùng như màn vây che nơi tắm rửa của chị Tâm. Cái mùi hương của bụi cây thuốc từ bi quyện với mùi đất khô tạo nên cái mùi ngầy ngật, rậm rật. Và ngoài song cửa, một bầu trời đêm đen, sạch sẽ, rộng rãi ôm ấp, chất chứa bao nhiêu niềm dâng hiến. Thinh không nhấp nhánh mời gọi tựa vai, mời gọi má ấp môi kề, ngả vào lòng trời bình yên vô lượng nhung đen. Trời đêm vẫn dàn trải ra đó cho người thế thụ hưởng, như một chị giang hồ nhân hậu vô ngôn, hay một nữ tình nhân Ả rập dấu mặt sau lớp khăn trùm, nhưng làn vải nào ngăn nổi ý yêu đương từ đôi mắt trinh nữ xuyên thấu Càn Khôn. Lại tiếng nước dội. Tiếng nước không còn nghe lanh canh như trước nữa; lá như đã no thoả nguồn sinh, đất như đã thấm nhuần mưa móc ân sủng. Sột soạt xiêm y. Sột soạt lá. “Mình đi ngủ Hoa hè!”  “Ngủ chi được mà ngủ! Ðêm bức bối như ri!”  “Lạ hỉ, tắm rồi mà vẫn không ngủ được, hay là mi tơ tưởng chuyện chi?” Tiếng thụi vào vai nhau: “Bậy nà!” Và tiếng dép lép nhép đi qua nhà bếp chổ Trực đang nằm võng, tới trước cửa nhà trước, rồi vào buồng chị Tâm. “Trời nóng như ri, thằng Trực chắc chẳng ngủ được. Mai nó hết phép rồi. Về với đơn vị đóng đâu ngoài sông Thạch Hãn…”  “Hả, chị nói sao!?”

 

Hôm nay là ngày kỷ niệm thuyền của nhóm anh Dung được tàu Na Uy vớt, ngày mà anh em đều gọi là ngày lễ Phục sinh của riêng họ, bởi vì nếu không có tàu vớt đúng lúc, thì chỉ cần khoảng nửa tiếng sau thuyền đã gặp phải cơn bão dữ dội Suzan. Hú vía, cho nên mỗi năm anh em trong thuyền, cùng bầu đàn thê tử, đều hẹn nhau, trước đi kính viếng vị thuyền trưởng đã cứu tử, sau đó kéo nhau về họp mặt tại nhà một người đi cùng chuyến. Toàn là dân cùng xứ đạo An Bình. Trực, tuy đã tỵ nạn qua Na Uy trước họ đã lâu, từ năm bảy mươi lăm, cũng được mời tham dự. Ðủ thứ kỷ niệm để nói. Có những chuyện, những nhân vật còn ở quê nhà, cũ kỹ đã mấy chục niên. Hôm nay là phiên gia đình anh Dung đứng ra tổ chức buổi họp mặt; vả lại, năm nay, anh mới đi Việt Nam về, bà con lại càng nóng lòng đến nhà anh, vì đây là dịp tốt để hỏi chuyện quê nhà; nhiều chuyện để hỏi, nhiều người để nhớ.

Có anh ngồi đằng góc vừa nốc bia vừa hỏi:

– Ông thầy Ðược láo nay còn sống không, anh Dung?

– Ông ta mới chết năm ngoái. Ði chích thuốc rong, bị cái tụi ở ngoài Căn Cứ Năm, Căn Cứ Sáu đập chết bỏ ngoài lộ. Thiệt tội cho ổng! Hồi trẻ tụi mình cứ nhạo cười ổng, nhưng cũng nhờ ổng mà ông già tui mới thoát khỏi cái bệnh thương hàn nhập lý.

Một vài tiếng xầm xì của các bà: “Ai thiệt là ác đức!”  “Hay cũng tại cái tính nói phét của ổng chơ gì!”  “Nghĩa tử là nghĩa tận, đừng có nói như vậy, tội vong linh người đã khuất.”

Rồi anh Dung, vỗ tay ra hiệu cho mọi người im lặng, đoạn lễ phép nói với Trực:

– Thôi, mọi thứ đã sẵn sàng, xin Cha làm dấu ban phép lành, rồi chúng ta vừa dùng bữa vừa nói chuyện, phải không cha?

Trực chưa kịp đáp lời, một bà nhìn cha Trực cười sung sướng hãnh diện:

– Ý Chúa thiệt là nhiệm mầu! Cha, trước đi lính làm sĩ quan, tưởng qua bên này làm ông này bà nọ, ai ngờ cha lại được Chúa gọi theo chân Chúa. Chúng con láng giềng cũng được thơm lây.

Trực chậm rãi trả lời:

–  Nhiều lúc những cái điều trọng đại là do tình cờ mà thôi, bà ạ! Những ngày đầu chân ướt chân ráo qua Na Uy tôi tình cờ được một ông cha bản xứ đạo đức thánh thiện hết sức giúp đỡ; gần đèn thì sáng, đâm ra tôi thích làm linh mục. Giá mà tôi lại được một bà đầm nào đó bảo lãnh, mà bà lại có con gái đẹp, biết đâu chừng bây giờ tôi cũng con cái đầy đàn như ai. Một bầy con lai.

Người đàn bà vừa nguýt cha Trực vừa cười:

– Cha cứ nói rứa!

Bỗng có một anh, trước là dân chài lưới vai u thịt bắp dân An Bình, hỏi lớn:

– Còn cô y tá Hoa giờ ra sao rồi, có gia đình gì chưa, anh Dung?

– Chà, tới giờ này chú mày vợ con đã đùm đề mà còn nhớ tới cô ta à…!?

– Tầm bậy nà!

– Thì cô ấy cũng còn sống lây lất qua ngày với thằng con trai hoang đẻ sau hồi loạn lạc Bảy Lăm mấy tháng! Hồi tui về, thấy cô ta mở quán cà phê dưới vườn ổi xá lị, đêm có chăng đèn chăng đóm coi cũng được đại đi! Khách khứa khá đông. Toàn tụi thanh niên đàn ông như tụi mình.

– Chà, tụi nó lại mê cái bộ vó của cô ấy chơ gì!

– Cái thằng nói bậy nói bạ. Có Cha đây mà mi thiệt là…

Trực sượng sùng:

– … Không sao! … Thôi, chúng ta bắt đầu đi… nhưng làm phép xong… tôi bận, tôi xin kiếu…

– Ủa, cha nói là cha sẽ ở đây chơi với chúng con lâu mà! Con có đưa máy về quay cảnh làng xóm của mình. Từ nhà thờ, đài Ðức Mẹ, đến cái chợ chồm hổm, quán cà phê dưới vườn ổi xá lị cô Hoa…

–  Nhưng, xin lỗi, tôi phải về…

Và cha Trực ra về. Vội vã khác thường như phải đi làm phép xức dầu thánh cho ai đó đang độ lâm chung.

 

Bergen, 8. 10. 01

 

(1) Oản: Xôi hoặc bánh khảo được nén chặt vào khuôn, đóng thành khối nhỏ hình nón cụt để cúng. (Theo Thích Thanh Từ). Nhân đây tôi cũng xin mạo muội lý giải câu “Thằng Bờm có cái quạt mo… Phú ông xin đổi nắm xôi Bờm cười.” Người Quảng Bình hay gọi vú đàn bà con gái là nắm xôi, ví dụ, “Chà, nắm xôi con nớ to hè!”. Khi hiểu nắm xôi của phú ông chính là cặp nhủ hoa của bà Ba, bà Bốn của ông phú hộ, mà thằng Bờm lâu nay thèm nhỏ rãi, thì mới lý giải hợp lý, mới diễn tả được cái ý sảng khoái bùng vỡ ra ở câu kết của bài ca dao trứ danh.

(2) Cây thuốc từ bi: Tên một loài cây thuốc thân thảo, mọc thành bụi cao, dùng để làm lá xông, hoặc giã vắt nước uống chống đau bụng. Mọc rất mạnh kể cả vào mùa khô. Lá toả mùi thuốc bắc, nhất là vào những đêm oi bức.

(3) Làm dấu ban phép lành: Người Công giáo hay làm dấu thánh giá, hoặc cả làm dấu thánh giá và đọc một kinh ngắn, trước khi dùng bữa. Trường hợp có linh mục hiện diện, linh mục ban phép lành cho bữa ăn.

(4) Làm phép xức dầu: Còn gọi là bí tích xức dầu thánh cho người tín hữu Công giáo hấp hối; có thể bao gồm cả việc xưng tội để làm hoà với Chúa, và lãnh Mình Thánh Chúa (bánh bột mì không ủ men, mà người Công giáo tin là có chúa Giêsu trong đó). Tất cả để cho đương sự được an ổn tinh thần, sẵn sàng mà gặp Chúa mà người Công giáo tin là  người Cha nhân từ nhưng cũng là vị Thẩm phán công minh.

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close