BTT 21 – Những thư tín mà Phái bộ nhận được: Tổng kết và xếp loại các ý kiến

B. NHỮNG THƯ TÍN MÀ PHÁI BỘ NHẬN ĐƯỢC

149. Quy tắc 13 của Quy tắc về thủ tục và kế hoạch làm việc như sau:

“Phái bộ sẽ tìm kiếm bằng chứng thực tế Phái bộ sẽ thu thập thông tin, những cuộc điều tra tiến hành tại chỗ, nhận kiến nghị và nghe nhân chứng.”

150. Quy chiếu vào quy tắc này, Phái bộ trong 4 dịp khác nhau, thông qua Trưởng phái bộ, thông báo cho báo chí, mời tất cả những người quan tâm đến gặp Phái bộ để làm chứng hoặc trình thư khiếu nại. Các tuyên bố này đã được ban hành vào tháng 10.1963, trước khi Phái bộ rời New York ngày 24.10, để đến Việt Nam. Khi Phái bộ đến Sài Gòn đến ngày 26.10 và ngày 29.10, các công bố ngày 17.10 và ngày 26.10, như đã đề cập ở trên, đã được in lại trong Báo chí Việt Nam.

151. Phái bộ nhận được tổng cộng 116 thư từ cá nhân, các nhóm và các tổ chức phi chính phủ. Trong số những thư này, 49 thư Phái bộ nhận được trong khi ở Việt Nam, tất cả dường như từ các công dân của Quốc gia này. 67 thư còn lại Phái bộ nhận được tại Trụ sở LHQ ở New York; chỉ có 24 người trong thư này do các công dân Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam. 43 thư khác nhận được từ New York từ các cá nhân và tổ chức ở các Quốc gia sau: 16 từ Hoa Kỳ, 6 từ Ấn Độ, 5 từ Nhật Bản, 3 từ Bỉ, 3 từ Tích Lan, và 1 từ Vương quốc Anh, Úc, Canada, Tiệp Khắc, Pháp, Đức, Malaysia, Nepal, Tân Tây Lan và Venezuela.

152. Trên 12 thư nhận được ở Việt Nam không thấy ghi tên và địa chỉ. Trong số những người khiếu nại này, 5 người nêu rõ lý do vì sao họ không cho biết tên và địa chỉ của họ là vì họ “sợ Chính phủ trả đũa “; còn 7 người kia không đưa ra lý do. Tên và địa chỉ cũng không có trên thư nhận được tại Trụ sở Chính phủ LHQ. Chữ ký trong những thư nhận được ở Việt Nam không đọc được.

153. Trong số các thư nhận được từ Việt Nam từ những người cư trú tại Huế có 3 yêu cầu của các người khiếu nại muốn gặp Phái bộ. Cả các người khiếu nại này đều đã được các phái đoàn của Phân đoàn Phái bộ ghé thăm khi đến Huế. Trong một trong những thông tin nhận được ở Việt Nam, người khiếu nại nói rằng ông ta muốn gặp Phân đoàn Phái bộ và đã đi đến khách sạn Majestic, nhưng ông ta đã bị ngăn cản không cho liên lạc với các thành viên của Phái bộ. Trong 2 thư khác, cũng nhận được ở Việt Nam, các người khiếu nại đã nhấn mạnh về “những khó khăn trong việc liên lạc với Phái bộ”.

154. Trong số 116 thư nhận được, có khoảng 54 thư chứa không ít thì nhiều chi tiết hoặc cáo buộc hoặc phủ nhận chuyện xử tệ, hoặc ngược đãi đối với Cộng đồng Phật giáo ở Việt Nam.

155. Phái bộ đều lưu ý Chính phủ VNCH tất cả những cáo buộc này.

Những cáo buộc xử tệ chỉ liên quan tới về các sự kiện trước ngày 8.5.1963

156. Khoảng 14 thư chứa đựng người cáo buộc liên quan đến các sự kiện trước ngày 8.5.1963. Trong những thư này, các khía cạnh chính của sự xử tệ và bức hại các Phật tử có những nét đại cương như sau:

(a) Việc ưu đãi người Công giáo và sự xử tệ đối với người Phật tử rõ ràng có trong luật pháp, chủ yếu trong Dụ số 10 ban hành 1950 (không bao giờ bị huỷ bỏ một cách chính thức) theo đó Cộng đồng Phật giáo phải được chính quyền cho phép mới được tổ chức các buổi lễ công cộng, trong khi Giáo hội Công giáo không bị lệ thuộc vào Dụ số 10 này và được được hưởng tự do đầy đủ trong mọi sinh hoạt của mình. Ngày lễ Công giáo được công nhận chính thức nhiều hơn các ngày lễ Phật giáo. Hôn nhân và các chủ đề về gia đình, trong việc lập luật, đã bị lệ thuộc định hướng Công giáo, mà trong một số mặt, trái phong tục và tín ngưỡng Phật giáo.

(b) Trên thực tế, sự xử tệ với Phật tử đã mang nhiều hình thức: người Công giáo được bổ nhiệm vào tất cả các văn phòng công cộng quan trọng; các phương tiện giúp đỡ các loại đã được phát cho Giáo hội Công giáo để Giáo hội này mua đất, và trái lại các Phật tử lại bị từ chối; hàng cứu trợ được phân phối ưu tiên cho người Công giáo và thông qua các cơ quan Công giáo.

(c) Về các hành vi thờ phượng, các thư kể trên ghi rằng các nghi lễ Công giáo được cử hành lộng lẫy, cờ Vatican được trưng bày rộng rãi, và tất cả các nhân viên Chính phủ, ngay cả những người không phải là người Công giáo, buộc phải tham dự; ngược lại, các lễ lạc Phật giáo ở những nơi công cộng phải chịu mọi hình thức hạn chế và quấy rối, và Chính phủ năm 1957 đã một lần cố nhằm loại bỏ Lễ Phật đản khỏi danh sách các ngày lễ chính thức. Một số thành phần, bao gồm cả đội quân Công giáo tư nhân, với sự hỗ trợ ngầm của Chính phủ đã phá hoại các thánh địa hay di sản Phật giáo. Mặc dù thực sự đã có nhiều ngôi chùa đã được xây mới hoặc xây dựng lại từ năm 1954, chẳng qua là do lòng rộng rãi của các tín đồ Phật giáo và không phải do bất kỳ khoản tài trợ đáng kể nào của Chính phủ. Tổng thống Diệm đã đóng góp một phần nhỏ vào việc xây dựng Chùa Xá Lợi, chủ yếu, dựa theo một số lời cáo buộc, là Chính phủ làm thế là vì muốn giữ được cái vẻ không thiên vị so với các nhà thờ Công giáo, vì một nhà nguyện trong Dinh Tổng thống, đã được dựng lên với chi phí cao.

(d) Từ tháng 10.1960, chủ yếu là ở các tỉnh Quảng Ngãi, Phú Yên và Bình Định ở miền Trung Việt Nam, các viên chức Chính quyền địa phương đã cố gắng bắt buộc một số tín đồ Phật giáo cải đạo làm người Công giáo hoặc bằng cách đe dọa là họ sẽ bị được gửi đến các trại cải huấn và bị buộc phải lao động khổ sai như là những người bị nghi ngờ là Cộng sản, hoặc trong thời gian bị giam trong các trại đó bằng lời hứa là sẽ được phóng thích sớm nếu họ theo đạo Công giáo, hoặc bị đe doạ gia đình họ sẽ bị bức hại. Một số Phật tử chống lại những nỗ lực này của Chính phủ, thì bị buộc trả lại thẻ căn cước cho chính quyền, và một số đã được lệnh di chuyển đến các khu vực khác. Những người khác bị bắt cóc, bị bắt và tra tấn, và một người ở tỉnh Quảng Ngãi được cho là đã bị chôn sống. Sau khi một số nhà lãnh đạo Phật giáo bị bắt, người ta không còn nghe tăm hơi gì về các vị. Một thầy tăng đã phản đối mạnh mẽ cuộc đàn áp loại này, ở tỉnh Phú Yên, người ta cho là đã bị giết. Một thư khác cho biết rằng, do hậu quả của cuộc bức hại như vậy, 208.000 người đã bị cải đạo sang đạo Công giáo từ năm 1956 đến năm 1963. Thư này còn nhắc lại rằng năm 1954, chỉ có 450.000 người Công giáo ở Việt Nam.

Những cáo buộc liên quan đến các sự kiện từ ngày 6-8.5.1963 tại Huế

157. Các sự kiện từ ngày 6-8.5.1963 tại Huế được đề cập đến trong 6 thư, trong đó có 3 thư với những cáo buộc đầy chi tiết.

158. Tất cả các thư liên quan đến sắc lệnh từ Tổng thống, số 9195 vào ngày 6.5.1963 là nguyên nhân chính của những náo loạn công cộng, nhưng trong khi một số thư lại ghi rằng sắc lệnh cấm treo tất cả cờ tôn giáo và các giáo hiệu, những thư khác chỉ đề cập đến việc cấm treo cờ Phật giáo. Đã có các nghi ngờ – ví dụ như sắc lệnh bắt nguồn từ một chính sách có dự tính trước của Chính phủ, hoặc liệu đó là kết quả của một hành động hấp tấp có lẽ vì vài ngày trước khi người đứng đầu Cộng đồng Phật giáo bị cáo buộc là đã từ chối gửi lời chúc mừng tới Tổng Giám mục Ngô Đình Thục vào dịp kỷ niệm ngày thụ phong giám mục của TGM. Trong một thư khác có ghi rằng vào ngày 7.5, ông Tỉnh trưởng đã công bố công khai rằng sắc lệnh sẽ bị hủy bỏ.

159. Tất cả các thư liên tục ghi rằng trong buổi rước buổi sáng ngày 8.5, một số tấm áp phích đã được trưng ra với nội dung tố cáo những cấm đoán đối với Phật giáo và rằng Thích Trí Quang, Chủ tịch Giáo hội Phật giáo Huế, đã có một bài phát biểu được ghi âm đề cập đến những tấm áp phích như là một hình thức bày những nguyện vọng chính đáng.

160. Các thư trùng hợp nhau trong các tường thuật của họ về hầu hết các sự kiện tiếp theo: Chính phủ từ chối cho phép phát thanh về các buổi lễ buổi sáng, mặc dù như một chương trình phát thanh như thế là chuyên thường mỗi năm vào dịp này. Khi quyết định đó được thông báo, vào buổi tối, đám đông lớn đã tập trung sẵn ở phía trước của đài phát thanh, và họ đã trở nên lưỡng lự và không chịu giải tán. Cảnh sát phun nước vòi rồng vào đám đông; có súng máy bắn và lựu đạn nổ; có xe bọc sắt. 2 thư ghi rằng những chiếc xe bọc thép chạy đâm xuyên qua đám đông và nghiền nát các xác đã ngả xuống. Trong một thư có ghi là BS Lê Khắc Quyến của Bệnh viện Huế, sau đó đã bị tống giam vì đã từ chối ký giấy chứng thương do chính quyền đã soạn sẵn; và rằng Chính phủ đã gian dối tuyên bố rằng các vết thương của nạn nhân là do một bom làm bằng nhựa dẻo, loại bom Việt Cộng sử dụng.

Các cáo buộc liên quan đến khoảng thời gian giữa tháng 5 và tháng 6 năm 1963

161. Khoảng 10 thư có những cáo buộc cụ thể liên quan đến các sự kiện sau ngày 8.5.1963. Những cáo buộc này có thể được tóm tắt như sau:

(a) Trong giai đoạn tiếp theo sau ngày 8.5.1963 đến ngày ký Thông cáo chung vào ngày 16.6.1963

Người ta cho rằng rất nhiều vụ tưởng niệm các nạn nhân của các sự kiện ngày 8.5 cũng như các cuộc phản đối của các nhà sư tại Saigòn, Huế và các địa phương khác đã bị cảnh sát và lực lượng có trang bị vũ khí đàn áp nghiêm trọng; rằng một vài chùa đã bị vây bằng dây thép gai; rằng quần chúng đã bị ngăn không cho đến lễ Phật trong các chùa gần nhà; và một số các chức sắc Phật giáo đã bị bắt vì đã hỗ trợ Năm Nguyện Vọng của Phật giáo được đưa ra vào ngày 10.5.1963. Các nhà lãnh đạo Phật giáo được cho là đã cố gắng hết sức để kìm hãm các tín đồ trong các cuộc biểu tình.

(b) Từ ngày ký Thông cáo chung ngày 16.6.1963 đến ngày 20.8.1963

Theo hầu hết các thư, Chính phủ và chính quyền địa phương đã không thực hiện được những điều khoản khác nhau của Thông cáo chung. Có lời cáo buộc đó là do một chiến dịch của các nhân viên mật vụ của Chính phủ đưa ra nhằm thuyết phục dân chúng rằng Phong trào phản đối của Phật giáo, là do Cộng sản xúi dục; rằng các dân tộc ở các địa phương khác nhau đã bị buộc chấp nhận những các sắc lệnh về Phật giáo; rằng một số điều khoản của Dụ số 10 vẫn tiếp tục được áp dụng đối với Phật giáo; rằng chỉ được phép treo cờ Phật giáo ở trong các tòa nhà thuộc Giáo hội Phật giáo chứ không phải ở những nơi khác; rằng Chính phủ đã tăng cường sự công nhận cho tông phái Cổ Sơn Môn, là một tông phái không được các tông các phái khác coi là đại diện cho Phật giáo chính thống; rằng các giới hạn tùy tiện mà các viên chức Chính phủ đã đặt ra bởi về việc đi đứng của các nhà sư; rằng mặc dù có lời hứa của Ủy ban Liên Bộ, một số Phật tử đã bị bắt vì ủng hộ Năm Nguyện Vọng vẫn chưa được thả ra (một người viết rằng có 30 Phật tử bị giam giữ tính đến giữa tháng 7.1963, dựa trên một cuộc kiểm tra ngẫu nhiên 100 ngôi nhà và chùa); rằng, trước khi được thả ra, những người bị bắt buộc phải ký tên vào một số giấy tờ do chính quyền soạn sẵn. Một số thư nhấn mạnh rằng phong trào Thanh niên Cộng hòa đã không ủng hộ mạnh mẽ việc ký kết Thông cáo chung, và lệnh bí mật từ Dinh Tổng Thống đã bị người ta cho rằng đã đưa ra chỉ thị cho những viên chức địa phương phải tạm thời nhượng bộ các yêu cầu của Phật giáo và chuẩn bị một cuộc tấn công mới chống Phật giáo. Để trả lời một số lá thư phản đối từ các nhà lãnh đạo Phật giáo, người ta được biết rằng Chính phủ chỉ đơn thuần chối bỏ cáo mọi cáo buộc. Ngày 17.7.1963, một cuộc biểu tình đầy ôn hoà của các nhà sư trước chùa Xá Lợi ở Sài Gòn đã bị lực lượng Chính phủ đàn áp dữ dội và nhiều nhiều thầy tăng, ni cô và trẻ em đã bị bắt.

(c) Các cuộc bố ráp vào các chùa ngày 20.8.1963 và những biến cố sau đó

Người ta cáo buộc rằng hầu hết các nhà lãnh đạo Phật giáo, ngoại trừ Thích Trí Quang, đều bị bắt trong những cuộc bố ráp này hoặc ngay sau đó. Một số thư cho biết có ít nhất 2 nhà sư Phật giáo đã bị giết trong những cuộc bố ráp vào các chùa ở Sài Gòn và 2 chùa ở Huế. Theo hầu hết các thư, một số các nhà lãnh đạo Phật giáo đã bị bắt, đã bị đánh đập hoặc bị tra tấn. Một số nhà sư lớn tuổi, như Thích Tịnh Khiết, đã được thả ra, nhưng bị tập trung vào ngôi chùa nhất định và chịu sự giám sát của các nhân viên mật vụ Chính phủ. Các nhà sư khác được thả, nhưng bị từ chối không được trở lại các ngôi chùa của họ và khó có thể tìm được nơi trú ẩn vì kể từ khi những người sẵn sàng cho họ cư trú sợ bị Chính phủ trả thù. Hầu hết các thư đều cáo buộc rằng các nhà sư bị bắt đã được thay thế bởi cát nhân viên mật vụ Chính phủ cải trang thành các nhà sư và rằng, ngay sau những cuộc bố ráp đó, hội đồng quản trị của Phật giáo Thuần túy, một tổ chức rối đã được thành lập bởi Chính phủ để lừa dối người dân. Dựa theo những thư, trong suốt cuộc bố ráp, các đồ thờ phượng, bàn ghế và các đồ đoàn khác đã bị tiêu hủy rất nhiều. Sự thiệt hại này đã được sửa chữa nhanh chóng vào những ngày đầu Tháng Chín khi các ngôi chùa đã được mở lại dưới ban lãnh đạo nhà chùa mới được Chính phủ tài trợ.

162. Các cuộc biểu tình ôn hoà của sinh viên học sinh bắt đầu vào Tháng Bảy và lớn mạnh vào Tháng Tám đã bị đàn áp tàn nhẫn. Một thư nói rằng một tổng số khoảng 3.000 sinh viên học sinh, bao gồm cả nam lẫn nữ, đã bị bắt; thư khác ước lượng con số sinh viên học sinh bị bắt ở Sài Gòn là khoảng 1.000. Một số thư cáo buộc rằng các sinh viên học sinh bị đánh đập, bị tra tấn và các điều kiện sống trong tù và các khu dành cho tù nhân trong bệnh viện thì rất tồi tệ. Trong một thư, người viết cáo buộc rằng, khi Phái bộ đến Việt Nam, khoảng 2.000 sinh viên vẫn còn giam trong tù hay các trại. Theo một thư khác, sinh viên học sinh Công giáo mà được các linh mục Công giáo can thiệp, đã được phóng thích mà không gặp khó khăn gì và bị ép phải hợp tác với cảnh sát.

163. Những cáo buộc liên quan đến việc bắt giữ một cách tùy tiện hoặc việc các nhà lãnh đạo Phật giáo, nhà sư hay sinh viên biến mất được nêu ra trong 6 thư.

164. Một số thư cảnh báo Phái bộ coi chừng các phương tiện khác nhau, mà những người viết cho là Chính phủ sử dụng để che giấu sự thật: cảnh sát giám sát các khu cư trú của Phái bộ, làm khó dễ các nhân chứng đến gặp; thay thế cho các nhà sư chính gốc trong chùa bằng các nhân viên mật vụ của Chính phủ là những kẻ đã được trả tiền để đưa ra lời khai giả dối; việc các tổ chức Phật giáo bù nhìn gửi các kiến nghị ủng hộ Chính phủ. Người ta cáo buộc rằng, sau khi Phái bộ đến Việt Nam, cuộc bức hại Phật giáo vẫn tiếp tục, mặc dù có thể khó phát hiện; ví dụ, sinh viên học sinh đã bị bắt cóc hoặc bị bắt vào ban đêm, hoặc bị lén lút bắt.

Các cáo buộc liên quan đến các lý do của những cuộc bắt bớ

165. Phái bộ tìm thấy những phát biểu trong 9 lá thư liên quan đến những lý do được cho là đã gây ra cuộc bức hại Cộng đồng Phật giáo. Trong 5 lá thư này, các tác giả cáo buộc rằng những cuộc bức hại như vậy là kết quả của một chính sách có chủ ý của Chính phủ. Chính sách này được đưa ra trong một lá thư viết rằng mục tiêu của chính sách này là cải đạo phần lớn dân số Phật giáo sang Công giáo vì lý do chỉ có Công giáo mới có thể thể cho con người một Đức tin đủ mạnh để chống lại một cách thành công việc tuyên truyền học thuyết Cộng sản.

166. Trong 4 thư khác, thì các cuộc đàn áp được xem, một cách thiết yếu, như là những hành động của các thành phần chống Phật giáo trong dân chúng hoặc bởi chính quyền địa phương, và Chính quyền trung ương chịu trách nhiệm về việc không chú ý đến những bất bình của Phật giáo vì không cương quyết đủ trong các can thiệp của mình để giải quyết các vấn đề hoặc không thể kiểm soát được chính quyền địa phương.

Các thư phủ định chuyện có việc xử tệ và ngược đãi đối với Cộng đồng Phật giáo

167. Các tác giả của 12 thư khác phủ nhận chuyện Cộng đồng Phật giáo đã từng là nạn nhân của sự xử tệ và của sự bức hại từ phía Chính phủ. Điều này được nhấn mạnh trong 4 thư viết rằng dưới thời Chính phủ Ngô Đình Diệm cộng đồng Phật giáo đã lớn mạnh hơn và nhiều ngôi chùa đã được xây mới hoặc được sửa chữa với sự trợ giúp tài chính của Chính quyền. Có sự tự do tôn giáo và tự do sự truyền bá đạo pháp. Một thư thừa nhận rằng Phật giáo đôi khi cũng không được hoàn toàn tự do vì Miền Nam phải khẩn thiết đấu tranh chống lại Việt Cộng. Cái được gọi là Phong trào phản kháng Phật giáo thực ra được tổ chức bởi một số lượng nhỏ các kẻ phiêu lưu chính trị nằm trong Cộng đồng Phật giáo với sự giúp đỡ của người nước ngoài nào đó. Họ đã dấn thân vào các hoạt động cực đoan, đầu độc tâm trí quần chúng và tổ chức các cuộc biểu tình hầu lật đổ Chính phủ. Trong 2 thư có viết rằng một sự hiểu lầm nhỏ, hoặc một mâu thuẫn nhỏ giữa các nhóm thiểu số trong Chính phủ một mặt, và mặt kia Cộng đồng Phật giáo đã bị những kẻ bên ngoài khai thác cho những mục tiêu chính trị. Năm Nguyện Vọng đã được đáp ứng theo các điều khoản của Hiến pháp hoặc được Chính phủ chuẩn nhận cách đây rất lâu. Dù sao đi nữa, cái gọi là Vấn đề Phật giáo bây giờ đã được giải quyết ổn thoả,và tín đồ Phật giáo hoàn toàn tự do thờ phượng và truyền bá đạo pháp.

168. Phái bộ không có phương tiện hay thời gian để xác minh các cáo buộc chi tiết trong các thư này. Tuy nhiên, Phái bộ đã tính dùng nội dung của các thư mà Phái bộ nhận được để lập danh sách các nhân chứng về sau, và trong việc soạn ra một số câu hỏi mà Phái bộ đặt ra cho các viên chức chính phủ và nhân chứng trong các cuộc phỏng vấn có liên quan đến những nơi khác trong BTT này.

169. Phái bộ ghi nhận tên các nhà sư, các nhà lãnh đạo và sinh viên học sinh Phật giáo đã bị bắt, bị bắt cóc hoặc bị giết. Sau đóPphái bộ có thể phỏng vấn Thích Trí Tụ, Thích Quảng Liên, Thích Tâm Giác và Thích Thiện Minh, những người mà trong một số thư đã cho biết rằng đã bị giết. Phái bộ cũng phỏng vấn một sinh viên, kẻ mà, theo một số thông tin, đã biến mất.

170. Khi đến Sài Gòn, Phái bộ nhận được một lá thư của một ni cô bày tỏ mối quan tâm sâu sắc của mình về cuộc bức hại các Phật tử. Ni cô nói rằng khi đề cập đến Phật giáo, ni cô rất buồn khi biết rằng Phật giáo đang gặp pháp nạn, rằng các nhà sư, ni cô và những thịên nam tín nữ đang ở trong tù hoặc bị trục xuất. Ni cô đã đau khổ rất nhiều bởi vì ni cô không thể thực hiện ước nguyện tự thiêu để cầu nguyện cho Phật giáo, bởi vì Ủy ban liên phái Phật giáo đã không cho phép cô tuẫn tiết và bởi vì, hiện tại, cô đã mất tất cả mọi tự do. Ni cô phàn nàn về chuyện con trai của ni cô, một viên chức chính phủ, đang đứng ở một vị thế đối nghịch với bà và với Phật giáo. Phái bộ đã có thể phỏng vấn người viết thư và xác minh tính xác thực của lá thư của ni cô. Tuy nhiên, ni cô giải thích rằng toàn thể vấn đề là do sự hiểu lầm giữa ni cô và đứa con trai, và rằng anh ta đã xác nhận với ni cô rằng anh sẽ thay đổi thái độ của mình đối với vụ đó và sẽ không nói bất cứ điều gì có thể làm cho ni cô buồn lòng liên quan tới đời sống đạo của ni cô.

171. Phái bộ cũng có thể xác minh chữ ký của một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, người đã gửi một số thư đến Phái bộ và sau đó được phỏng vấn.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close