BTT 23 – Các Phụ lục; Phụ lục XV: quan trọng với Dụ số 10 với điều thứ 44: Chế độ đặc biệt dành cho các Hội Truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô, các Hoa Kiều Lý Sự Hội, sẽ được ấn định sau; Hành động của LHQ với BTT: Không cứu xét nữa (vì Chính phủ Ngô Đình Diệm không còn tồn tại)

PHỤ LỤC I

Dự thảo Nghị quyết do Chí Lợi và Costa Rica đệ trình
(Xem tài liệu A / L.425 và Add.1).

PHỤ LỤC II

Các điều lệ và chương trình công tác của Phái bộ.

1. Trưởng Phái bộ do Chủ tịch Đại hội đồng LHQ bổ nhiệm, Phái bộ sẽ bầu tại cuộc họp đầu tiên một báo cáo viên trong số các thành viên.
2. Nếu Trưởng Phái bộ vắng mặt tại cuộc họp, báo cáo viên sẽ chủ trì.
3. Tổng Thư ký LHQ sẽ chỉ định một Thư ký trưởng và sẽ cung cấp số nhân viên theo yêu cầu của Phái bộ.
4. TKT sẽ thông báo cho các thành viên của Phái bộ bất kỳ vấn đề nào cần đưa ra trước Phái bộ để xem xét.
5. TKT hoặc người đại diện của TKT có thể đưa ra các tuyên bố bằng miệng cũng như bằng văn bản cho Phái bộ.
6. TKT chịu trách nhiệm về tất cả các dàn xếp cần thiết cho các cuộc họp của Phái bộ.

Số đại biểu quy định, quyền của Trưởng phái bộ, sự bỏ phiếu

7. Số đa số của các thành viên của Phái bộ tạo thành số đại biểu quy định.
8. Trưởng phái bộ công bố khai mạc và kết thúc hội nghị Phái bộ, sẽ chỉ đạo việc thảo luận, đảm bảo tuân thủ các điều lệ này, có quyền nói, đặt câu hỏi và thông báo các quyết định. Bị ràng buộc bởi những điều lệ này, Trưởng phái bộ sẽ kiểm soát những tiến trình thực hiện công tác của Phái bộ và sự giữ gìn trật tự trong các cuộc họp
9. Mỗi thành viên của Phái bộ sẽ có một phiếu.
10. Những quyết định của Phái bộ sẽ được quyết định bởi đa số các số thành viên có mặt và bỏ phiếu. Để đạt được sự hiệu lực của các điều lệ này, thì cụm từ “các thành viên có mặt và bỏ phiếu” có nghĩa là các thành viên bỏ một phiếu khẳng định hay là phủ nhận. Những thành viên bỏ phiếu trắng sẽ không được coi là đã bỏ phiếu.
11. Thành viên của Phái bộ có quyền yêu cầu ghi vào sổ bộ lời giải thích về phiếu bầu của mình trong bàn tường trình chung kết của Phái bộ.

Những điều khoản có liên quan tới cuộc điều tra của Phái đo12.Phái bộ là một bộ phận đi tìm kiếm những dữ kiện tại chỗ (ad hoc) và đã được thành lập để xác định những dữ kiện về tình hình liên quan tới những cáo buộc vi phạm nhân quyền bởi Chính phủ VNCH đối với Phật Tử.
13. Phái bộ sẽ tìm kiếm bằng chứng thực tế. Phái bộ sẽ thu thập thông tin, tiến hành những cuộc điều tra tại chỗ, nhận đơn khiếu nại và nghe nhân chứng. Phái bộ phải luôn luôn cho thấy sự vô tư của Phái bộ.

Sự thu thập thông tin 14.

Phái bộ trong khi thu thập thông tin phải tự cập nhật thông tin về:
a) Các diều khoản pháp luật và các quy định hiện hành tại nước VNCH;
(b) Các bài viết và các bài báo trong báo chí;
(c) Các hoạt động của các tổ chức quan tâm đến việc tuân thủ nhân quyền.

Điều tra tại chỗ

15. hái bộ sẽ tiến hành những cuộc kiểm chứng hoặc điều tra tại chỗ.
16. Hành trình thăm viếng sẽ được xây dựng trên căn bản của một cuộc khảo sát chi tiết về các khu vực và các cuộc xô xát mà từ đó nảy sinh ra những khiếu nại trình lên Phái bộ.

Đơn khiếu nại

17. Phái bộ sẽ nhận được đơn yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc hiệp hội.
18. Phái bộ sẽ tiến hành xem xét riêng rẻ các đơn khiếu nại và một khi nhận được những chấp nhận đơn khiếu nại thì sẽ dành cho các nguyên đơn một cuộc điều tra sơ bộ. Các đơn khiếu nại phải nêu rõ ngày, địa điểm và sự kiện mà các cáo buộc rõ ràng có liên quan.

Nghe nhân chứng

19. Phái bộ sẽ quyết định nhân chứng nào mà Phái bộ muốn đưa ra những bằng chứng. Nhân chứng như vậy có thể bao gồm những người bị hạn chế tự do và Phái bộ sẽ sắp xếp để nghe những người đang nằm trong những hoàn cảnh mà Phái bộ cho là cần thiết phải điều tra.
20. Mỗi nhân chứng trước khi làm chứng sẽ phải tuyên thệ.

Các lời tuyên bố

21.Các tuyên bố hoặc bình luận cho báo chí phải nghiêm chỉnh tránh, trừ những phát biểu, bình luận mà thành viên Phái bộ hoàn toàn đồng ý. Còn các tuyên bố lấy tư cách là Phái bộ thì phải do chính Trưởng phái bộ hay phát ngôn viên được Trưởng phái bộ chỉ định.

PHỤ LỤC III

Bản tuyên bố của Trưởng phái bộ trước khi Phái bộ ra đi

Phái bộ tìm kiếm sự thực của LHQ sẽ rời New York và đến Nam Việt Nam vào Thứ Hai, 21.11.1963

Phái bộ là một bộ phận tìm hiểu sự thực tại chổ, và các thành viên của Phái bộ đã được Chủ tịch Đại hội LHQ bổ nhiệm, theo lời mời của Chính phủ VNCH để xác định những dữ kiện của tình hình liên quan tới những lời cáo buộc về những vi phạm Nhân Quyền bởi Chính phủ VNCH đối với Phật gíao.

Phái bộ sẽ tiến hành sự kiểm tra tại chỗ thể theo quyết định của Đại hội đồng và sẽ nhận được đơn khiếu nại từ các cá nhân, nhóm và hiệp hội. Phái bộ sẽ luôn luôn giữ thái độ vô tư trong khi tìm kiếm bằng chứng.

Phái bộ sẽ tường trình với Đại hội đồng thuộc khoá hiện tại.

Với tư cách là Trưởng phái bộ, đại diện cho Phái bộ và thay mặt cho tôi, tôi kêu gọi tất cả các bên liên quan, cá nhân, các nhóm, các hiệp hội và tổ chức ghìm lại bất cứ cuộc biểu tình nào dưới bất kỳ hình thức nào khi Phái bộ bộ đến Nam Việt Nam, và trong thời gian Phái bộ lưu lại ở Đất Nước này, tôi hy vọng các phương tiện truyền thông thông tin nói chung. Tôi hi vọng rất nhiều các cơ quan truyền thông nói chung, và đặc biệt ở Việt Nam sẽ hợp tác trong việc loan đi lời kêu gọi nhân danh cho Phái đoàn LHQ này.

PHỤ LỤC IV

Bản tuyên bố của Trưởng phái bộ khi Phái bộ đến phi trường Sài Gòn

Như quý vị đã biết: chúng tôi đến đây như một “bộ phận tìm kiếm sự thật” của LHQ để xác minh những dữ kiện về tình hình liên quan đến những cáo buộc Chính phủ VNCH vi phạm nhân quyền đối với Cộng đồng Phật giáo ở Nước này.

Phái bộ được thành lập bởi Đại hội đồng LHQ, và các thành viên của Phái bộ được tuyển chọn bởi Chủ tịch Đại hội đồng dựa trên thẩm quyền của Đại hội đồng, sau lời mời của Chính phủ VNCH.

Phái bộ sẽ thực hiện các cuộc điều tra tại chỗ phù hợp với quyết định của Đại hội đồng. Phái bộ sẽ tiếp nhận khiếu nại của các cá nhân, nhóm và hiệp hội và sẽ tường trình cho Đại hội đồng LHQ càng sớm càng tốt trong khoá hiện tại.

Ngay trước khi Phái bộ lên đường từ New York, tôi, với tư cách là Trưởng phái bộ, đã kêu gọi tất cả các bên liên quan, cá nhân, những nhóm, các hiệp hội và các tổ chức hợp tác với Phái bộ và đặc biệt kêu gọi kiềm chế bất kỳ các cuộc biểu tình nào trong thời gian Phái bộ lưu lại Việt Nam. Trước tiên, tôi lặp lại điều này một lần nữa.

Tôi cam đoan rằng toàn thể Phái bộ luôn luôn giữ thái độ vô tư trong việc tìm kiếm những dữ kiện đích thực của tình hình hiện nay. Đó là trách nhiệm duy nhất của chúng tôi đối với cho Đại hội đồng.

Chúng tôi hoàn toàn ý thức tầm quan trọng của sự khách quan tuyệt đối của chúng tôi trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chúng tôi đang ở đây với tâm trí rộng mở tiếp nhận sự thật và tự xác định là chúng tôi đến đây là để tường trình về những dữ kiện xác thực.

Việc Đại hội đồng LHQ chấp nhận lời mời của Chính phủ VNCH và gởi Phái bộ đến đây cho thấy mối quan tâm của nhiều Quốc gia trên thế giới có đại diện trong LHQ về phúc lợi của mỗi người dân của Đất Nước này và cũng vì lợi ích của tất cả mọi cộng đồng nói chung. Vì thế, một khi là đại diện LHQ, chúng tôi hy vọng mỗi vị đại diện trong Phái bộ này sẽ hợp tác với LHQ. Tôi muốn nói rõ rằng Phái bộ chỉ quan tâm đến khía cạnh nhân đạo trong tình hình đang xảy ra ở nước này và Phái bộ dự định bắt đầu công việc của mình ngay lập tức.

 

 

PHỤ LỤC V

Chương trình dự định của cuộc thăm viếng của Phái bộ

THỨ NĂM, 24.10

12.25 Tới phi trường Tân Sơn Nhất. Các đại diện của Ban bí thư Bộ Ngoại giao tiếp đón Phái bộ.

Khởi hành tới Trung tâm Sài Gòn (Khách Sạn Majestic)

11g00. Thăm xã giao ngoại giao Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
11g30. Thăm xã giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ
15.g00. Họp nghe hướng dẫn về Phật giáo ở Việt Nam

17g.00. Yết kiến Tổng thống VNCH

20g00. Bữa tối do Bộ trưởng Bộ Nội vụ khoản đãi
THỨ 6 25.10

9g00. Hội kiến PTT Nguyễn Văn Thơ

10g00. Hội kiến Cố vấn chính trị cho Tổng thống, Ô. Ngô Đình Nhu

15.30. Gặp gỡ Tổng hội Phật giáo Việt Nam (Chùa Xá Lợi, 83, Bà Huyện Thanh Quan)
17.30. Gặp gỡ Hàng giáo phẩm Phật giáo và Ủy ban đoàn kết Phật giáo (Chùa Ấn Quang, đường Vạn Hạnh)

19.00. Gặp gỡ với Ủy ban Cổ Sơn Môn (Chùa Giác Lâm, 15 đường Lê Đại Hành nối dài)
Chiều tối nghỉ ngơi

THỨ BẢY, 26.10

7g00. Lễ Quốc Khánh (Xem Quân đội diễn hành)

CHỦ NHẬT, 27.10

8g00. Xe khởi hành đi Vũng Tàu.

10g00. Thăm Chùa Mới (Mói) và những danh thắng trong vùng

12g30. Ăn trưa do Tỉnh trưởng chiêu đãi

16g00. Đi xe trở lại Sài Gòn

18g00. Dùng bữa tối do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chiêu đãi

THỨ HAI, 28.10

7g00. Khởi hành đi Đà Lạt bằng máy bay đặc biệt

9g00. Lễ khánh thành Trung tâm nguyên tử lực Đà lạt

15g00. Nghe thuyết trình về tình hình chung và về Phật giáo

17g00. Viếng một ngôi chùa và tiếp xúc với Phật tử.

20g00. Dùng bữa tối do Thị trưởng Đà Lạt chiêu đãi

THỨ BA, 29.10

Thăm Đập Đa Nhim và các danh thắng

THỨ TƯ, 30.10

8g30. Khởi hành đi Huế bằng máy bay đặc biệt

11g.30. Thăm xã giao Đại biểu Chính phủ

15g00. Nghe thuyết trình về tình hình chung và về tình hình Phật giáo.

17g30. Viếng Chùa Từ Đàm và tiếp xúc với các Phật tử

20g00. Dùng tối do Đại biểu Chính phủ khoản đãi

THỨ NĂM, 31.10
Buổi sáng, thăm Thành Nội và các danh thắng (Chùa Thiên Mụ, Đền Khổng Tử, Lăng Tự Đức và Lăng Minh Mạng)

Buổi tối “Nhàn du trên Sông Hương”

THỨ SÁU, 1.11
8g00. Khởi hành đi Phan Rang bằng máy bay đặc biệt

10g00. Nghe thuyết trình về về tình hình chung và về Phật giáo

12g00. Trưa. Đi Phan Thiết bằng máy bay. Dùng bữa trưa do Tỉnh trưởng khoản đãi

15g00. Thăm một ngôi chùa và tiếp xúc với các Phật tử

17.30. Trở lại Sài Gòn

Tối: Tuỳ nghi

THỨ BẢY, 2.10

8.00. Khởi hành đi Ba Xuyên và Vĩnh Bình bằng máy bay đặc biệt

9.00. Nghe thuyết trình về tình hình chung và về tình hình Phật giáo

12g30. Dùng bữa trưa do Tỉnh trưởng Ba Xuyên khoản đãi. Tiếp xúc với các nhà sư và Phật tử gốc Khmer

17g00 Trở về Sài Gòn

21g00 Buổi tối giải trí tại Quán Anh Vũ

CHỦ NHẬT, 3.11

Nghỉ ngơi

THỨ 2, 4.11
8g00. Thăm Ấp Chiến lược Củ Chi bằng xe

11g00. Trở về Sài Gòn

16g00. Yết kiến kiếu biệt Tổng thống VNCH

20g00. Khởi hành trở lại New York (lễ nghi tương tự như lần đến)

 

PHỤ LỤC VI

Thông cáo do Phái bộ ban hành ngày 26.10.1963

Phái đoàn LHQ Tìm kiếm Sự thật về các vi phạm nhân quyền của Chính phủ Việt Nam đối với Cộng đồng Phật giáo đã trú ngụ tại khách sạn Majestic ở Sài Gòn. Phái bộ mời tất cả những người quan tâm gặp Phái bộ để làm chứng và phái bộ cũng sẽ nhận các đơn khiếu nại. Những người mong muốn làm chứng trước với Phái bộ, xin tiếp xúc với Thư ký chính của Phái bộ, tại Khách sạn Majestic, Phòng 104, Tel. 23711.

PHỤ LỤC VII

Công hàm ngày 27.10.1963 của Trưởng phái bộ gởi cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao yêu cầu Bộ chuyển danh sách nhân chứng

Phái bộ của Phái bộ LHQ Tìm kiếm Sự thật xin gởi lời chào đến Ngoại trưởng và xin được gửi Ngài Ngoại trưởng, kèm theo đây, một danh sách các nhân chứng mà Phái bộ muốn phỏng vấn.

Phái bộ hy vọng rằng Chính phủ Việt Nam sẽ hợp tác với Phái bộ trong vấn đề này và sẽ có những thu xếp cần thiết để đưa các nhân chứng ra trước Phái bộ.
DANH SÁCH CÁC NHÂN CHỨNG
Các thành viên của Uỷ ban Liên bộ
Nguyễn Đình Thuần (Bộ trưởng Phủ Tổng thống)

Bùi ​​Văn Lương (Bộ trưởng Bộ Nội vụ)

Các thành viên của phái đoàn Phật giáo
Thiền sư Thích Thiện Minh (Trưởng Phái đoàn)
Thích Tâm Châu (Thành viên của Phái đoàn)
Thích Thiện Hoa (Thành viên của Phái đoàn)
Thích Huyền Quang (Thư ký của Phái đoàn)
Thích Đức Nghiệp (Trợ lý cho Thư ký của Phái đoàn)

Các nhân chứng Phật giáo khác:

1.Thượng toạ Mật Nguyện (Chủ tịch Giáo hội Tăng già Miền Trung)

2. Thượng toạ Thiện Siêu (Chủ tịch Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên)

3. Hoà Thượng Đặng Văn Các

4. Thích Trí Thủ

5. Thích Quảng Liên

6. Thích Pháp Tri

7. Thích Tâm Giác

8. Krich Tang Thai

9. Ông Mai Thọ Truyền

10. Diệu Huệ (ni cô)

11. Diệu Không (ni cô)

12. Tướng Phạm Xuân Chiểu (Chánh Văn phòng Quân đội)

13. Ông Trần Văn Đỗ (nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nếu có mặt tại Việt Nam)
14. Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp
15. BS Phan Huy Quát (nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Giáo dục Quốc gia)
16. Ông Lê Quang Luật (nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Tuyên truyền)
17. Ông Nguyễn Thái (nguyên Tổng cục trưởng Báo chí)

18. Nguyễn Văn Bình (Tổng giám mục Công giáo, địa phận Sài Gòn)
19. Ông Trần Quốc Bửu (Chủ tịch Tổng Liên đoàn Công nhân Công giáo)
20. Ông Tôn Thất Nghiệp (Chủ tịch tổng hội sinh viên, Thư ký, Giáo hội Phật Giáo Sài Gòn)
21. Ông Hồ Hữu Tường (Nhà văn và Giáo sư)
22. Giáo sư Phạm Biểu Tâm (Khoa trưởng Đại học Y khoa Sài Gòn)
23. Ông Nguyễn Xuân Chữ (Nhà báo)
24. Cha mẹ của cô gái bị bắn chết trong các cuộc biểu tình vào ngày 25.8
15. Những nhân viên của những luật sư hoặc hiệp hội luật sư tại Sài 16. Các nhân viên của Văn phòng Công đoàn Sài Gòn (nếu có)
17. Ủy ban đòi phóng thích các nhà sư

Huế

1. Thích Tịnh Khiết (Lãnh đạo tối cao Phật giáo, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam)
2. Phan Đình Bính (Lãnh lụ sinh viên Phật giáo Huế, Thư ký Hội sinh viên Phật Giáo Huế)
3. Thích Đôn Hậu (Chủ tịch Ủy ban Lễ kỷ niệm cho các Lễ hội Phật giáo ngày 6.5.1963)
4. Cha Cao Văn Luận (Viện trưởng Công giáo, Đại học Huế)
5. Bùi Tường Huân (Khoa trưởng Luật Khoa, Đại học Huế)
6. BS Lê Khắc Quyến

Danh sách phụ 1

1.Thích Quảng Độ
2. May Thay Con o Trong (?)
3. Thích Hộ Giác
4. Thích Giác Đức
5. Thích Thế Tịnh
6. Thạch Thiện Thắng
7. Thích Pham Quang Thanh

8. Thích Lien Phu (?)
9. Thích Chánh Lạc
10. Nguyễn Thị Lợi (ni cô)
11. Diệu Cát (ni cô)
12. Mu Tang Bich (?) (ni cô)

Danh sách phụ 2

1.Nguyễn Hữu Đống

2. Nghiêm Xuân Thiện

3. Đỗ Nhuận

 

PHỤ LỤC VIII

Công hàm ngày 27.10.1963 của Trưởng phái bộ gởi cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao yêu cầu bộ chuyển danh sách nhân chứng

A

Xin gởi lời chào đến Ngoại trưởng và xin được gửi Ngài Ngoại trưởng, kèm theo đây, một danh sách các nhân chứng mà Phái bộ muốn phỏng vấn.

Phái bộ xin bày tỏ lòng biết ơn trong trường hợp Phái bộ nhận được những lời bình luận và giải thích từ Chính phủ về những lời cáo buộc sau đây.
Danh sách những cáo buộc 1
Có những lời cáo buộc rằng:

  1. Một thầy tăng ở Chùa Xá Lợi đang cố gắng chống cự, thì bị từ ban công ném 6 m ( 20 ft) xuống vườn dưới.
  2. Lính có trang bị vũ khí đã chống trả lại các sư sãi ngoài Chùa Xá Lợi bằng hơi cay và súng bắn.
  3. Binh sĩ bố ráp đã mang đi trái tim đã thành than của Thích Quảng Đức, người đã tự thiêu vì đạo
  4. Lính tráng đã gây thương tích cho hàng trăm nhà sư và ni cô trước khi giải họ đến nhà tù vào ngày sự vụ xảy ra.
  5. Một số người được đưa đến bệnh viện ở Huế, họ bị trúng hơi cay nặng.
  6. Vào ngày 21. 8, Quân đội đập phá đồ đạc trong chùa
  7. Sau vụ xô xát tháng 5, thì vào ngày 3. 6, các ngôi chùa Huế bị cúp nước.
  8. Giám đốc Đài phát thanh ở Huế đã từ chối phát thanh một cuốn băng lễ Phật giáo.
  9. Chính phủ đã hạn chế quyền sở hữu đất đai đối với các nhà sư Phật giáo, chứ còn người Công giáo, thì không.
  10. Chính phủ miễn thuế lâm sản và thuế nông nghiệp cho người Công giáo
  11. Chính phủ đã không giúp hàng giáo phẩm Phật giáo các phương tiện xây dựng các rạp, các cổng chào, vv, trong khi đó người Công giáo lại được cung cấp các phương tiện như vậy.
  12. Chính phủ công nhận 6 ngày lễ của Công giáo trong khi chỉ công nhận 1 lễ Phật giáo.
  13. Đã xảy các trường hợp lặp đi lặp lại nhiều lần các cá nhân đang được các viên chức Chính phủ chỉ thị và khuyết khích gây rối loạn trong các lễ Phật giáo, trộm cắp đồ cúng trong các nơi thờ phượng Phật giáo và xúc phạm các linh địa Phật giáo. Các gia đình Phật giáo cảm thấy phải dỡ các bàn thờ trong gia đình từ vị trí cao trọng theo truyền thống và giấu vào một góc khuất nhà để tránh những kẻ đâm thuê chém mướn do Chính phủ xúi dục.
  14. Vào ngày 16.9.1963, Chính phủ áp đặt các nhà lãnh đạo (người của chính phủ) để lãnh đạo cộng đồng Phật giáo.
  15. Ông Phan Đình Bính, Thư ký của Hiệp hội Sinh viên Phật giáo Huế, bị bắt và tra tấn đến độ sau đó không còn nhận ra ông ta là ai.
  16. Ông Tôn Thất Nghiệp, Thư ký Hiệp hội Sinh viên Phật giáo Sài Gòn, cũng bị bắt vào ngày 4.6.1963 và vẫn đang ở trong tù.

Ngày 31.10.1963
B

Trưởng Phái bộ LHQ Tìm Sự thật gởi lời chào đến Ngài Ngoại trưởng và xin gởi kèm theo đây một danh sách các cáo buộc liên quan đến những mắc mứu giữa Chính phủ VNCH và Cộng đồng Phật giáo.

Có những cáo buộc rằng:
1. Vào ngày Lễ Giáng sinh, đài phát thanh Sài Gòn phát thanh các chương trình gồm Thánh lễ Công giáo, các bài thánh ca trong khi đó thì hoàn toàn không biết đến lễ Phật đản-

2. Những người lính và sĩ quan Phật giáo bị đổi đến các vị trí quân sự xa xôi, hẻo lánh và các sĩ quan nào muốn được thăng cấp phải cải đạo theo Công giáo.

3. Những gia đình nghèo khổ Phật giáo bị thuyết phục theo đạo Công giáo thì sẽ được tiền, gạo hoặc việc làm.

4. Các dinh điền được thành lập, thì toàn là Công giáo ở; Phật tử được khuyến khích định cư ở những dinh điền đó và bị thuyết phục theo đạo Công giáo. Trong trường hợp từ chối không theo, họ sẽ bị đe dọa đủ thứ.

5. Các ấp chiến lược được hình thành ở nông thôn; dân chúng đã phải tháo dỡ nhà cửa và phá hủy chùa của họ rồi di chuyển vào các ấp ấy. Bên trong ấp chỉ có nhà riêng được xây dựng, nhưng không có chùa. Nếu các nhà sư Phật giáo từ chối tháo dỡ ngôi chùa của họ và di chuyển vào các ấp chiến lược, họ bị nghi ngờ là “không quan tâm đến cuộc đấu tranh chống Cộng sản”.

 

PHỤ LỤC IX

Bản ghi nhớ ngày 28.10.1963 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao gởi cho Phái bộ

Do hậu quả của những mối quan hệ mà các giới thẩm quyền Việt Nam đã có ở những mức độ khác nhau với Phái bộ LHQ kể từ khi đến Việt Nam, chúng tôi thấy rằng cần làm rõ một số điểm nhất định liên quan đến tính chất và mục đích của Phái bộ, và thủ tục mà Phái bộ sẽ tuân theo hầu hoàn thành nhiệm vụ mà Phái bộ đã được ủy thác.

Để tránh những diễn dịch không chính xác hoặc thiên vị của báo chí hoặc dư luận ​​công chúng quốc tế và địa phương liên quan đến vai trò của Phái bộ tại Việt Nam, Phái bộ được gợi ý rằng các tuyên bố và các tài liệu phát sinh từ Phái bộ bất cứ lúc nào cũng phải liên quan tới lời mời của Chính phủ VNCH. Lời mời này của Chính phủ VNCH đã được Đại sứ Bửu Hội gởi, thông qua Chủ tịch Đại hội đồng và Tổng Thư ký LHQ, mời thăm Việt Nam và tự xem xét tình trạng thực sự về những mắc mứu giữa Chính phủ và Cộng đồng Phật giáo Việt Nam. Như thế tính chất và và mục đích của chuyến viếng thăm của Phái bộ đã được xác định rõ ràng.

Với khung làm việc đã được giới hạn như thế, giống như Ngoại trưởng 5đã cẩn trọng khẳng định lại khi Phái bộ thăm viếng ông vào ngày 24.10, Chính phủ VNCH sẽ đứng ra lo liệu để bảo đảm cho Phái bộ mọi phương tiện phù hợp với tình trạng chiến tranh đang hiện hữu ở Việt Nam để Phái bộ có thể thực hiện nhiệm vụ của mình một cách toàn diện và khách quan và thiện toàn ở mức có thể.

Đặc biệt, Chính phủ VNCH sẽ không phản đối chuyện Phái bộ tiếp nhận bằng chứng và khiếu nại của cá nhân, tổ chức hoặc liên hệ với những người có khả năng cung cấp thông tin hữu ích về vấn đề trong quan hệ giữa Chính phủ và cộng đồng Phật giáo, bao gồm cả Phật tử, cho dù là các nhà sư hay tín đồ, những người bị bắt giam vì bị kết án âm mưu chống lại Nhà nước. Chuyện dễ dãi như thế là chuyện ngoại lệ đối với các quy tắc thông thường của thủ tục tư pháp. Phái bộ không thể không ghi nhớ rằng Nước VNCH không thể cung cấp bằng chứng tốt hơn về thiện chí và sự tin tưởng của mình ở chỗ cho phép Phái bộ được hoàn toàn tự do thâu thập thông tin bằng mọi phương tiện có thể. Mong muốn duy nhất của Chính phủ là được thấy rằng sự thật về cáo buộc đàn áp Phật tử được đưa ra ánh sáng.

Tuy nhiên, Chính phủ VNCH được hướng dẫn bởi cùng một tinh thần trọng công lý và tuân thủ với các nguyên tắc cố cựu của luật pháp, tin rằng các cáo buộc và những chứng từ mà Phái bộ nhận được phải là những lời chứng nếu cho là đúng đắn, phải được so lại với các dữ kiện và bằng chứng mà Chính phủ VNCH có quyền trình bày. Do đó, để Chính phủ VNCH có thể thông báo cho Phái bộ về mức độ xác thực của các cáo buộc trong các chứng từ và khiếu nại mà Phái bộ nhận được, các bằng cớ và các khiếu nại như vậy phải được truyền đạt cho Chính phủ. Nếu không, những lời cáo buộc hoặc chứng từ này sẽ không có hiệu lực nào.

Phái bộ đã thuyết phục Chính phủ VNCH rằng các thủ tục đưa ra ở trên là phù hợp với mong muốn của Phái bộ muốn Phái bộ được khách quan, vô tư và có thêm lợi thế trong việc ngăn chặn phản ứng hoặc sự nhầm lẫn trong dư luận quần chúng là điều có thể làm suy giảm uy tín của LHQ.

 

PHỤ LỤC X
Cuộc họp được tổ chức vào ngày 28.10.1963 giữa Trưởng phái bộ và Bộ trưởng bộ Ngoại giao

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Tôi muốn cảm ơn Trưởng phái bộ đã đến đây để gặp tôi. Như tôi đã nói với Tổng thống trong cuộc họp đầu tiên của chúng tôi, Chính phủ Việt Nam mong muốn cung cấp cho Phái bộ tất cả các phương tiện dễ dãi. Đối với mong muốn của Phái bộ muốn tiếp nhận những người khiếu nại, trước tiên tôi muốn cung cấp cho Trưởng phái bộ một phụ lục sau đây (xem phụ lục IX). Tôi sẽ trao cho Ngài vào cuối cuộc họp, nhưng tôi muốn Ngài có một bản dịch tóm tắt của phụ lục trước khi chúng ta bắt đầu cuộc thảo luận của chúng ta.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Chính tôi và thay mặt cho Phái bộ, chúng tôi đánh giá cao sự hợp tác của Chính phủ Ngài đã dành cho chúng tôi. Chúng tôi đã hy vọng rằng chúng tôi sẽ nhận được sự hợp tác như vậy trước khi khởi hành và bây giờ chúng tôi thấy rằng điều đó đã thành hiện thực. Chúng tôi hy vọng rằng sự hợp tác như thế sẽ tiếp tục và chúng tôi muốn cảm ơn Ngài vì điều đó. Tôi muốn Ngài giải thích rõ ý nghĩa của câu “những bằng chứng và khiếu nại như vậy nên được truyền đạt cho Chính phủ”.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Chúng tôi muốn biết có những lời buộc tội và lời khai nào đối với chúng tôi, và chúng tôi yêu cầu Quý Ngài truyền đạt những dữ kiện này cho chúng tôi để chúng tôi có thể cho Quý Ngài biết, từ quan điểm của chúng tôi, chúng tôi xem những tuyên bố này có chính xác hay không. Chúng tôi sẽ để cho Quý Ngài gặp những người này, nhưng chúng tôi muốn Phái bộ nói với chúng tôi về lời khai của họ để chúng tôi có thể nói với Phái bộ những gì chúng tôi nghĩ về vấn đề này. Phái bộ được tự do để điều tra những điều này một mình, nhưng Phái bộ không nên chỉ đánh giá một mình liệu những lời khai có được là đúng hay sai. Phái bộ tự mình khó có thể xác minh những sự kiện này. Phái bộ nên đưa ra một danh sách các cáo buộc. Hoặc Chính phủ sẽ chấp nhận hoặc không, và trong trường hợp này, chúng tôi có quyền trình bày quan điểm riêng của mình và bằng chứng từ vị trí phía chúng tôi. Phái bộ sau đó sẽ được tự do để đánh giá các bằng chứng một cách công bằng. Nếu có bất kỳ lời tố giác nào trong số những lời tố giác đó không được trình bày cho chúng tôi, chúng tôi có quyền từ chối tính đúng đắn của các lời tố cáo đó. Chúng tôi có khả năng cung cấp bằng chứng.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Tôi cảm ơn Ngài rất nhiều vì đã đưa ra vấn đề này, bởi vì điều này sẽ mang lại hiểu biết nhiều hơn giữa Phái bộ và Chính phủ VNCH. Tôi sẽ xem xét bản ghi nhớ của VNCH. Tôi sẽ xem xét các ghi nhớ đã được trao cho tôi và sau khi tham vấn với Phái bộ, tôi sẽ cho Phái bộ những đảm bảo cần thiết để làm sáng tỏ tình hình này nếu có điều nào cần làm sáng tỏ. Nhưng bây giờ tôi muốn nói một vài lời với tư cách Trương phái bộ: Điểm đầu tiên trong phụ lục này nhắc đến việc đề cập về các lời tuyên bố do Phái bộ đưa ra về chuyện Phái bộ đã đến với Việt Nam theo lời mời của Chính phủ Việt Nam. Đây có phải là điều đã được nêu trong đoạn I?

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Đúng vậy. Phái bộ là một Phái bộ tìm hiểu sự thực được Chính phủ mời và chúng tôi không muốn ​​công chúng xem đó như một ủy ban điều tra LHQ tự gửi tới. Do đó, tôi cần chỉ ra rằng có 2 đề nghị trước LHQ: một đề nghị của Liên bang Xô muốn đưa vấn đề này vào trong các điều khoản tham chiếu của Ủy ban Quốc tế Giám sát và Kiểm soát Đình chiến tại Việt Nam và một của Costa Rica và các nước Tây phương yêu cầu lập một Phái bộ điều tra của LHQ. Cả 2 đề nghị này đã bị rút lại vì Việt Nam đã đưa ra giải pháp dung hoà bằng cách mời một phái bộ đến tự mình thâu thập tin tức về tình hình tại chỗ.

Vì vậy, chúng tôi muốn tuyên bố rõ ràng rằng đây là một Phái bộ tìm kiếm sự thật được Chủ tịch Đại hội đồng sai đi do lời mời của Chính phủ VNCH hầu người dân sẽ hiểu một cách chính xác sứ vụ của Phái bộ là gì. Bản thân Tổng thống đã nói điều này.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Dĩ nhiên, tôi sẽ đưa cho Ngài một câu hỏi cuối cùng, sau cuộc gặp với Phái bộ. Dẫu sao đi nữa tôi sẽ đưa ra ý kiến ​​của riêng tôi bây giờ, với tư cách là Trưởng phái bộ. Phái bộ này là một Phái bộ tìm kiếm sự thực đã theo lời mời của Chính phủ đến Việt Nam để xác định các dữ kiện về những mắc mứu giữa Chính phủ Việt Nam và Cộng đồng Phật giáo, về những cáo buộc vi phạm nhân quyền bởi Chính phủ Việt Nam.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Điểm mấu chốt mà chúng ta đang tranh luận ở đây đó là Phái bộ là một bộ phận tìm kiếm sự thật chứ không phải là mộtt bộ phận điều tra. Chúng tôi muốn nói rõ rằng Phái bộ có mặt ở đây là theo lời mời của chúng tôi, chứ không phải do LHQ áp đặt. Điều này rất quan trọng: người ta phải hiểu là có sự thoả thuận của cả 2 bên về vấn đề này và rằng hành động đó không phải là một hành động thực hiện đơn phương.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Chúng tôi cũng hiểu là chúng tôi đến đây là theo lời mời của Chính phủ Việt Nam và chúng tôi chưa bao giờ tự coi mình là một Phái đoàn do LHQ áp đặt cho Chính phủ Việt Nam cả.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Rõ ràng là như vậy. Đó là tất cả những gì được ghi trong mục đầu tiên trong bản ghi nhớ.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Không cần phải nhấn mạnh vào điều này. Sự thật là như vậy. Nhưng điểm mà Ngài nêu ra là Chính phủ muốn rằng Phái bộ trong bất cứ cuộc họp báo nào, quốc tế cũng như tại đây, nói rằng Phái bộ đến đây là theo lời mời của Chính phủ Việt Nam. Thưa đúng vậy không?

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Vâng, đúng như vậy.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Về vấn đề này, tôi muốn xác tín với Ngài rằng Phái bộ chỉ họp báo 3 lần. Lần thứ nhất, khi chúng tôi tuyên bố trước khi khởi hành; trong bản tuyên bố đó, chúng tôi đã nói rằng Phái bộ sẽ tới Việt Nam theo lời mời của Chính phủ. Lời công bố thứ 2, khi chúng tôi đến phi trường ở Sài Gòn, tôi đã nói rõ ràng rằng chúng tôi đã có mặt tại đây là theo lời mời của Chính phủ. Lần tuyên bố thứ 3 là khi chúng tôi mời các nhân chứng và người khiếu nại. Mục đích của lần tuyên bố cuối này là chỉ để nói với quần chúng Trụ sở chính đóng ở nơi nào và chúng tôi sẵn sàng nhận các khiếu nại và sẵn sàng nghe các chứng từ đích thân từ nhân chứng hay bằng thư. Chúng tôi đã cung cấp cho họ tên của khách sạn cũng như số điện thoại của chúng tôi. Lời tuyên bố này đã được thực hiện sau lời tuyên bố khác, trong đó sự Chính phủ mời Phái bộ đến đây đã được đề cập đến, nhờ vậy chúng tôi đã cho rằng mọi người đều biết rằng chúng tôi ở đây là trên căn bản đó. Bản chất của bản tuyên bố không buộc phải nói ra chuyện mời bởi vì chúng tôi muốn bản tuyên bố càng ngắn gọn càng tốt.

Sau đó tôi được nghe nói rằng một số tờ báo muốn làm rõ điều này. Tôi đã nói rằng kể từ khi tuyên bố này được đưa ra, thì bản tuyên bố không thể thay đổi được nữa, nhưng nếu họ muốn đề cập đến nó trong bản thông báo hoặc bài xã luận của họ, thì tôi thấy không có gì trở ngại. Nhưng bây giờ khi điều này đã dẫn đến một số khó khăn nào đó. Tôi muốn bảo đảm với Ngài rằng trong bất kỳ tuyên bố được đưa ra từ giờ về sau, cho dù có cần thiết hay không, như trong trường hợp vừa rồi, thì chúng tôi cũng sẽ đề cập đến chuyện Chính phủ VNCH mời Phái bộ.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Xin cảm ơn Trưởng phái bộ. Tôi phải nêu ra như thế là vì lời tuyên bố thứ 3 mà tôi đã đề cập đến trong bản ghi nhớ. Tôi đồng ý với Trưởng phái bộ về 2 lời tuyên bố đầu tiên, nhưng trong lời tuyên bố thứ 3 không thấy nói gì về sự Chính phủ mời và đó là lý do tại sao tôi nêu ra điểm này. Với lời cam kết vững chắc của Trưởng phái bộ, tôi có thể nói rằng Chính phủ Việt Nam hài lòng rằng điểm này đã được đáp ứng.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Tôi không đến đây để tranh luận với Chính phủ Việt Nam, nhưng tìm sự hợp tác của Chính phủ và tôi không hề có ý định muốn áp đặt gì cả. Tôi rất vui mừng là Ngài đã hài lòng với sự làm sáng tỏ này. Tôi có thể gọi điểm này là một sự làm sáng tỏ mặc dầu tôi có thể giải thích thêm rằng là sự kiện này có thể hiểu được mà không cần phải làm sáng tỏ.

Liên quan đến vấn đề nêu ra ở đoạn 2 của bản ghi nhớ, một số cáo buộc đã được đưa ra khi sự thắc mắc về tình hình ở Việt Nam được đưa ra cho chương trình nghị sự của Đại hội đồng để thảo luận. Một số cáo buộc đã được đưa ra khi vấn đề này đang được thảo luận trong Đại hội đồng. Những cáo buộc từ những nguồn pha tạp được xếp vào loại thứ 3. Một số cáo buộc có thể được xếp vào loại thứ 4 sau khi chúng tôi nghe các nhân chứng và người khiếu nại. Trong cuộc họp của chúng tôi với giới thẩm quyền của Chính phủ Việt Nam, một số trong những cáo buộc này đã được trả lời, và quan điểm của Chính phủ về những điều này đã rõ ràng. Một số cáo buộc đã được giải đáp khi chúng tôi nghe các buổi thuyết trình của các các cơ quan Chính phủ. Phần còn lại là phần có thể có từ các cuộc phỏng vấn của chúng tôi với những người khác nhau. Khi chúng tôi đã hoàn thành các cuộc phỏng vấn và kiểm tra của các kẻ khiếu nại và nghe các nhân chứng, tôi sẽ đệ trình một danh sách tất cả các cáo buộc chống lại Chính phủ Việt Nam, nhưng tất nhiên giấu nguồn của những cáo buộc này, các lời tố cáo cũng vậy. Tôi sẽ yêu cầu sự hợp tác của Chính phủ Việt Nam để xem thái độ và quan điểm của Chính phủ như thế nào đối với mỗi lời tố cáo này. Chính phủ có quyền biết những gì Chính phủ bị cáo buộc và chúng tôi với tư các là Phái bộ đi tìm sự thật không thể tìm thấy sự thật nếu chúng tôi không biết tất cả các quan điểm. Vì thời gian của chúng tôi sắp cạn, tôi sẽ cố gắng đưa ra những cáo buộc này nếu không hoàn toàn, thì ít ra từng phần ngay khi chúng tôi sẵn sàng để đệ trình, và Chính phủ sẽ cho chúng tôi câu trả lời. Không có kết luận nào của Phái bộ về tình hình này cho đến khi Chính phủ Việt Nam đã đưa ra quan điểm về các cáo buộc này. Trên thực tế, tôi sẽ tự làm danh sách những lời tố cáo, và Ngài sẽ nhận được buổi chiều nay hoặc sáng ngày mai một danh sách những cáo buộc mà tôi đã có thể chuẩn bị. Tôi muốn quan điểm của Ngài đối về những cáo buộc này.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Tôi rất vui về những gì Ngài vừa nói vì đó là điều chúng tôi mong muốn. Tôi hoàn toàn thỏa mãn về câu trả lời của Trưởng phái bộ.
TRƯỞNG PHÁI BỘ: Trong cuộc họp đầu tiên của chúng tôi với Ngài, Ngài đã cam kết hợp tác hoàn toàn và đáp lại, tôi cam kết sẽ có thái độ khách quan tuyệt đối ngay cả khi Ngài không giữ lời hứa. Nói thì nói vậy thôi chứ tôi không bao giờ nghĩ Ngài lẽ thất hứa đâu. Về điểm này, tôi muốn đích thân nói chuyện với Ngài.
BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Tôi trung thành với lời hứa mà tôi đã đưa ra trong cuộc họp đầu tiên của chúng ta.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Tất cả các điểm trong bản ghi nhớ đã được Ngài hứa như thế chứ?

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Đúng vậy. Bây giờ tôi muốn tiếp tục với một số vấn đề khác.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Tôi xin yêu cầu Ngài phải chấp nhận những gì tôi đã nói như lời giải thích cho câu trả lời của chúng tôi. Tôi sẽ gửi một ghi chú ngắn cho Ngài về chủ đề này, nhưng những gì tôi nói bây giờ nên được coi là một lời giải thích của ghi chú đó.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Tôi chấp nhận. Bây giờ chúng ta đã hoàn thành những điểm mà tôi coi là những nguyên tắc của hành động. Bây giờ chúng ta nên đi đến các phương thức làm việc. Có vẻ cho đến bây giờ chúng ta đang thỏa thuận với nhau. Phái bộ đã đến để tìm ra nếu có những bằng chứng về cuộc bức hại các Phật tử. Nếu không có bức hại nào, thì vấn đề coi như đã được giải quyết xong. Nếu có những bức hại, chúng tôi sẽ rất vui khi biết là một khi có như thế, thì chúng tôi có thể sửa chữa. Chúng tôi sẽ chấp nhận sửa chữa. Tôi cũng mong mong Ngài biết cho rằng Chính phủ đã cho phép Phái bộ đến thăm những người đang ở trong tù. Rất ít chính phủ trên thế giới sẽ cho phép bất kỳ phái bộ ngoại quốc nào đến thăm những kẻ tạo phản nào đang chờ xét xử. Tôi muốn cho Phái bộ biết rằng Phái bộ hoàn toàn tự do thăm bất kỳ người nào – tu sĩ hay tín đồ – là những người vẫn còn đang bị giam giữ vì những cáo buộc có âm mưu chống lại Chính phủ. Đây là một ngoại lệ rất đặc biệt.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Mục đích của Phái bộ là tìm ra sự thật. Cá nhân tôi tôi đồng ý với những gì Ngài đã nói và tôi sẽ gửi cho Ngài bản xác nhận sự thỏa thuận này sau khi tôi rời khỏi đây và thông báo cho Phái bộ về việc tôi đã không phản đối thủ tục này. Điều này có nghĩa là với tư cách là Trưởng phái bộ, tôi chấp nhận điều này, nhưng tôi phải xác nhận điều này với các Thành viên của Phái bộ.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Còn đối với những nhân chứng, chúng tôi chấp nhận tất cả mọi người nếu họ ở Việt Nam hay ở Sài Gòn – tu sĩ hoặc tín đồ – những người xó dính líu tới Vấn đề Phật giáo. Chúng tôi không có phản đối chuyện Phái bộ tiếp nhân chứng của cộng đồng Phật giáo, tu sĩ hay tín đồ. Trong số những người này, có 2 loại: những người vẫn còn trong tù và những người có tự do. Đối với những người đang ở trong tù, chúng tôi đảm bảo với Phái bộ rằng chúng tôi sẽ sắp xếp cho Phái bộ gặp họ. Đối với những người có tự do, chúng tôi sẽ thay mặt cho Phái bộ yêu cầu gặp Quý Ngài, nhưng chúng tôi sẽ để họ quyết định muốn gặp Phái bộ hay không. Nếu họ không muốn làm gặp, chúng tôi không thể bắt buộc họ. Phải tự họ muốn.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Về vấn đề này, tôi xin cảm ơn Ngài vì sự hợp tác của Ngài trong việc sắp xếp và cung cấp cho Phái bộ những người đang ở trong tù. Đối với các loại người khác, chúng tôi sẽ rất vui nếu chúng tôi được nghe họ nói rằng họ không có gì để nói với chúng tôi hoặc không muốn trả lời bất kỳ câu hỏi của chúng tôi.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Tôi chỉ nói phòng hờ vậy thôi; đương sự phải đồng ý mới được. Chúng tôi không thể ép họ. Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để Quý Ngài có thể nghe họ nói.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Vâng, tôi không yêu cầu Chính phủ áp đặt bất cứ điều gì cho bất cứ ai, tương tự như chúng tôi không muốn áp đặt bất cứ điều gì lên Chính phủ. Vì vậy, khi họ được Chính phủ giúp sẵn sàng cho chúng tôi hỏi xem họ có điều gì để nói hoặc liệu họ có muốn trả lời bất kỳ câu hỏi nào của chúng tôi hay không. Nếu họ nói với chúng tôi rằng họ không có điều gì để phát biểu hoặc họ không muốn trả lời các câu hỏi của chúng tôi, chúng tôi sẽ vui lòng mà ghi nhận rằng chuyện này là hoàn toàn do thái độ của họ.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Nếu người dân không muốn đến, chúng tôi không thể bắt họ đến. Chúng tôi sẽ mời họ giùm Quý Ngài và hy vọng rằng họ sẽ đến, nhưng nếu họ không đến thì chúng tôi không thể làm được gì hơn. Đối với những người ở trong tù, chúng tôi có thể đưa họ đến cho Quý Ngài gặp. Đối với những người tự do, họ có thể trả lời, hoặc đến để nói với Quý Ngài rằng họ không muốn trả lời, hoặc họ sẽ cho Quý Ngài biết rằng họ sẽ không đến bởi vì họ không có gì để nói. Tôi chấp nhận lập trường của Trưởng phái bộ về điều này: rằng những người không muốn đến sẽ viết thư cho Phái bộ để nói với Phái bộ rằng họ sẽ không đến.
TRƯỞNG PHÁI BỘ: Tôi đồng ý rằng không nên ép buộc họ. Chúng tôi sẽ nghe lời khai của những người chấp nhận, và chúng tôi sẽ ghi chú thái độ của những người đến gặp chúng tôi mà lại nói với chúng tôi rằng họ không muốn nói bất cứ điều gì. Một số có thể nói rằng họ sẽ không đến. Tôi sẽ đến gặp họ để nghe những gì họ đưa ra hoặc nếu không có gì để nói. Nhưng trong mọi trường hợp thì sẽ không có sự áp đặt nào.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Tôi chấp nhận điều này. Tôi chỉ muốn làm sáng tỏ những trường hợp những người không muốn đến. Quý Ngài có chấp nhận nguyên tắc rằng họ nên được tự do?

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Sẽ không có áp đặt.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Chính phủ sẵn sàng hỗ trợ Quý Ngài trong việc gặp tất cả những người có quan hệ với Vấn đề Phật giáo. Nhưng tôi thấy trong danh sách rất nhiều người không có liên quan gì đến vấn đề này, nhưng là những người chống đối chế độ về mặt chính trị. Tại sao Phái bộ muốn gặp những người này là những người không mắc mứu gì đến Vấn đề Phật giáo cả?

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Chúng tôi có được những tên đó từ các ấn phẩm có chứa những cáo buộc và những tên và nguồn thông tin có liên quan với tình hình Phật giáo. Chúng tôi không biết những cáo buộc này là chính xác hay không, nhưng công việc của chúng tôi là xác minh điều này ngay tại chỗ. Đó là lý do tại sao tôi nghĩ rằng nếu chúng tôi đưa ra danh sách này và Chính phủ cho chúng tôi biết rằng những người này không liên quan gì đến vấn đề tôn giáo, nhưng lại rất quan trọng, thì chúng tôi sẽ tuyên bố đó là quan điểm của Chính phủ Việt Nam. Bằng cách thăm hỏi những người này và phỏng vấn họ, chúng tôi sẽ tìm hiểu xem họ có liên quan đến Vấn đề Phật giáo hay vấn đề khác hay không. Đó sẽ là quan điểm của phía bên kia. Đó là lý do tại sao chúng ta đặt tên cho những người đó. những người trong danh sách.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Về điểm này, tôi phải đưa ra một câu trả lời rõ ràng. Đối với chúng tôi đây là một vấn đề về nguyên tắc liên quan đến chủ quyền của chúng tôi. Chúng tôi không e ngại về vấn đề này, về những gì các đối thủ chính trị của chúng tôi có thể nói với Quý Ngài. Họ đã nói mọi điều họ phải nói bao nhiêu tháng nay, và nhờ báo chí nước ngoài và báo chí Mỹ nói riêng, mọi thứ đã được tuyên bố với thế giới về chế độ của chúng tôi. Vu oan giá hoạ, tố cáo, nói dối, tin đồn, vu khống, và những thứ đại loại như vậy, đã được họ đưa ra hầu chống lại chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi không có gì mà sợ nữa vì chúng tôi thấy rằng họ không thể nói thêm điều gì nữa. Nhưng đối với chúng tôi đó là một vấn đề mang tính nguyên tắc. Chính phủ không thể yêu cầu các đối thủ chính trị của mình làm chứng trước mặt Quý Ngài bởi vì làm như thế thì chủ quyền của chúng tôi sẽ bị xâm phạm. Phái bộ đã đến để tìm ra sự thật về Vấn đề Phật giáo. Chính phủ Việt Nam rất rõ ràng về vấn đề này. Ở đâu có sự chống đối chế độ từ một người không liên quan gì đến Vấn đề Phật giáo, thì chúng tôi không muốn yêu cầu họ đến gặp Phái bộ.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Chúng tôi cũng có một nguyên tắc đó là tôn trọng chủ quyền của Quý Ngài. Như tôi đã giải thích trước, trong việc tìm kiếm sự thật thì về phần chúng tôi, theo nguyên tắc, chúng tôi cũng có lời yêu cầu gởi đến Ngài, và chúng tôi quyết tâm yêu cầu với tất cả sức mạnh của sự yêu cầu và với tất cả những nỗ lực trong cương vị của chúng tôi, để chúng tôi có thể gặp những người này và nói chuyện với họ. Nhưng nếu Ngài, như Ngài đã nói, gắn chuyện yêu cầu này vào nguyên tắc chủ quyền, và Ngài, dựa vào các cân nhắc chính trị sâu sắc mà Ngài có quyền có, Ngài không ở trong vị thế để chấp nhận yêu cầu của chúng tôi, trong trường hợp đó, câu trả lời cho bản ghi nhận những yêu cầu chúng tôi có thể nói lên thái độ của Ngài đã biểu thị cho chúng tôi, thì chúng tôi sẽ không khăng khăng đòi nữa bởi vì chúng ta đã đồng ý về nguyên tắc không áp đặt. Có một điều tôi muốn làm rõ thêm quanh chuyện này. Tôi muốn nói rõ là mặc dù chúng tôi đã nghe một vài lời khiêu khích của một số ký giả về mội số lời cáo buộc, nhưng tôi, tự thân tôi, thật không may, vì biết rất rõ Báo chí là gì trong thế giới hiện nay, tôi đã rất cẩn thận trong việc không tự kiềm chế mình hoặc đưa ra những bình phẩm quá đáng đối với những lời tố cáo của báo chí, và tôi đã rất cẩn thận trong việc phân biệt giữa thông tin và thông tin sai lệch. Tôi khá hiểu mối quan tâm của Ngài về vấn đề này.

Nhưng danh sách này đã không được chuẩn bị dựa theo thông tin báo chí mà thôi. Chúng tôi đã nhận được một loạt yêu cầu và thông tin từ các tổ chức phi chính phủ, phần lớn là các tổ chức quốc tế này đã được công nhận trên trường quốc tế và một số được công nhận như là những cơ quan thuộc về LHQ. Vài người trong số họ là từ các tổ chức phi chính phủ mang tính chất nhân đạo và xã hội. Một số là từ các cá nhân, các nhà nhân bản, trí thức và các giáo sư quan tâm đến tình hình này, và giọng điệu của họ là giọng điệu của những nhà trí thức. Họ nói họ không biết, nhưng họ đã nghe nói về tình hình này và họ để ý quan tâm. Vì thế Ngài nên biết rằng danh sách của chúng tôi không bắt nguồn từ những tuyên truyền. Ngài và chúng tôi sẽ không chú ý đến những nguồn này. Ngay từ đầu, chúng tôi đã cẩn thận không nghe lời tuyên truyền. Chúng tôi sẽ giữ thái độ như thế cho đến cùng. Mặt khác, tôi sẽ không thể sử dụng những lời tuyên truyền rồi lại nói rằng tôi khách quan. Một tuần trước khi tôi khởi hành từ New York, 2 đài truyền hình đã tìm ra tôi và hỏi liệu tôi có bất kỳ lời tuyên bố nào trong vai trò Trưởng phái bộ của tôi hay không. Tôi đã nói với họ rằng tôi đã có một tuyên bố và đó là lời kêu gọi tất cả những người liên quan kiếm chế chuyện biểu tình. Họ hỏi tôi những gì tôi đã nói về các bài tường trình của báo chí. Tôi đã nói rằng trong số tất cả các bài tường trình của báo chí, tôi chỉ cắt một bài: trong đó bài Bà Nhu nói rằng Chính phủ của bà sẽ chấp nhận những phát hiện từ Phái bộ.

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Thứ nhất, chúng tôi không có gì phải sợ hãi đối với những người này. Họ không thể nói gì hơn những gì họ đã nói rồi. Thứ đến, Quý Ngài đã đồng ý trao cho chúng tôi một danh sách những tố cáo mà không cho biết nguồn, để chúng tôi có thể kiểm chứng.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Còn Ngài, Ngài nghĩ sao…

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Vâng. Sau đó, chúng tôi không có lý do để từ chối chuyện những người này đến gặp Quý Ngài. Nhưng đây là vấn đề chủ quyền. Một khi chúng tôi để họ gặp, thì cũng như mặc nhiên chúng tôi sẽ cho phép Phái bộ kiểm soát và can thiệp vào công việc nội bộ.

TRƯỞNG PHÁI BỘ: Lập trường này cần được giải thích trong bản ghi chú Ngài trả lời cho bản ghi chú chúng tôi. Chúng tôi hợp tác với Ngài, thì xin Ngài cũng hợp tác với chúng tôi; như thế cả 2 đều hài lòng. Yêu cầu duy nhất của tôi bây giờ là nếu những giàn xếp để gặp các nhân chứng có thể thực hiện càng sớm càng tốt để chúng tôi có thể xúc tiến giải quyết vấn đề, thì chúng tôi sẽ rất biết ơn. Dự kiến ​​là Phái bộ sẽ hoàn thành công việc của Phái bộ trong 2 tuần. Nếu chúng tôi ở lại lâu hơn, Phái bộ có thể bị hiểu lầm; họ có thể nghĩ rằng chúng tôi đang gặp khó khăn. Vì vậy, để tránh những diễn giải sai lầm như vậy, chúng tôi nên giữ kế hoạch của mình. Trước khi rời khỏi Việt Nam, tôi muốn nói với Ngài rằng các đồng nghiệp của tôi và tôi sẽ gửi cho Ngài một giấy xác nhận và chúng tôi sẽ coi như vấn đề đã được giải quyết.

PHỤ LỤC XI
Công hàm ngày 29.10.1963 của Ngoại trưởng VNCH gửi cho Trưởng phái bộ

Trả lời văn bản ghi chép ngày 27.10.1963 của Phái bộ và tiếp theo cuộc phỏng vấn diễn ra ngày 28.10.1963 giữa Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Trưởng phái bộ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có vinh dự xác nhận như sau:

Với tinh thần hợp tác đầy đủ và thẳng thắn với Phái bộ, Chính phủ Việt Nam đã sẵn sàng làm hết sức mình để hỗ trợ cho Phái bộ trong việc lấy lời khai từ những người có thể cung cấp thông tin liên quan đến những mắc mứu giữa Chính phủ và Cộng đồng Phật giáo ở Việt Nam. Tuy nhiên, danh sách những người mà Phái bộ mong muốn gặp được kèm theo bản ghi chú nói trên của Phái bộ cần phải có thêm một số ghi nhận như sau:

  1. Trong số những người được yêu cầu đưa ra bằng chứng trước khi Phái bộ là 2 thành viên của Chính phủ. Vì lý do chủ quyền Quốc gia, các thành viên Chính phủ hối hận về việc họ không có khả năng xuất hiện trước Phái bộ để làm nhân chứng. Điều đó nói rằng, Bộ Ngoại giao chuẩn bị thực hiện các dàn xếp cần thiết hầu Phái bộ có thể trò chuyện với 2 thành viên của Chính phủ có tên xuất hiện trong các danh sách nêu trên hoặc với bất kỳ thành viên khác của Chính phủ có thể muốn gặp Phái bộ. Chính phủ yêu cầu Phái bộ làm ơn thông báo cho Chính phủ các câu hỏi mà Phái bộ dự tính hỏi, để các thành viên Chính phủ có thể tập hợp các tài liệu cần thiết.
  2. Đối với các tăng ni Phật giáo và những người có tên trong danh sách, Chính Phủ Việt Nam không có ý kiến ​​phản đối Phái bộ xem xét những nhân chứng này. Trên thực tế, Phái bộ đã gặp một số người trong số họ trong khi Phái bộ đến thăm các ngôi chùa như Chùa Xá Lợi và Ấn Quang (Hòa thượng Thích Thiện Hoa, các nhà sư Thích Trí Thủ và Thích Thiện Thắng, và ni cô Diệu Huệ) . Một số tăng ni có tên xuất hiện trong danh sách của Phái bộ thì Chính quyền Việt Nam chưa được biết đến. Đó là Hòa thượng Đặng Văn Các, Pháp Tri, Thích Thanh Thái, Pham Quang Đo, Thích Pham Quang Thanh, Thích Lien Phu, và các ni cô Nguyễn Thị Lợi, Diệu Cát và Ni cô Mu Tang Bich.
  3. Cũng ghi nhận rằng các danh sách này bao gồm tên của những người không liên quan gì đến Vấn đề Phật giáo và do đó dường như không đủ điều kiện để đưa ra bất kỳ bằng chứng hữu ích nào về Vấn đề Phật giáo. Dầu gì đi bữa, theo chính sách của Nhà nước tôn trọng quyền tự do cá nhân, Chính phủ Việt Nam không có ý ép những người này phải xuất hiện trước Phái bộ. Tuy nhiên, Chính phủ sẽ thông báo cho họ về mong muốn nghe bằng chứng từ họ của Phái bộ và để họ hoàn toàn tự do hoặc xuất hiện trước Phái bộ và trả lời những câu hỏi của họ hoặc không nên làm như vậy. Đối với một số chính trị gia có tên trong danh sách và tự coi mình là những kẻ đối lập với chế độ, Chính phủ Việt Nam, trong khi không phản đối Phái bộ nghe các chứng từ của họ, không thấy lý do tại sao Phái bộ lại hoàn toàn muốn gặp họ. Như Ngoại trưởng đã nhấn mạnh trong cuộc phỏng vấn với Trưởng phái bộ vào ngày 28.10.1963, Chính Phủ Việt Nam không thể mời những người này xuất hiện trước Phái bộ vì nguyên tắc chủ quyền. Cần phải chỉ ra rằng ông Nguyễn Thái và ông Hồ Hữu Tường không có mặt ở Sài Gòn, ông Thái ở Hoa Kỳ và ông Tường ở tại một địa điểm ngoài Sài Gòn.
  4. Đức Cha Nguyễn Văn Bình, Tổng giám mục Sài Gòn, hiện đang ở Rôma tham dự Công đồng.
  5. Không một cô gái trẻ nào bị giết trong cuộc biểu tình ngày 25.8.1963; chính quyền Việt Nam đã không nhận được bất kỳ tường trình nào về một vụ như vậy.
  6. Không có sinh viên nào trong bất kỳ trường đại học Việt Nam nào có tên là Tôn Thất Nghiệp.
  7. Uỷ ban đòi thả các tăng ni là một tổ chức lậu. Và Chính phủ Việt Nam không hề biết đến trụ sở lẫn số thành viên của Uỷ ban này.

 

 

PHỤ LỤC XII
Tuyên bố của Trưởng phái bộ về chương trình làm việc của Phái bộ

Như Ngài biết, theo các điều khoản tham chiếu của Phái bộ LHQ, Phái bộ ở đây là theo lời mời của Chính phủ VNCH để xác định các dữ kiện của tình hình liên quan đến cáo buộc vi phạm nhân quyền của Chính phủ VNCH trong quan hệ với cộng đồng Phật giáo của Nước này. Do đó, vấn đề duy nhất mà trong tiến trình hoàn thành sứ vụ của mình, chúng tôi sẽ lắng nghe những lời phát biểu về tất cả các mặt của vấn đề và cho tất cả các bên quan tâm cơ hội là họ sẽ được lắng nghe.
Do đó, chúng tôi sẽ nhận được các kiến ​​nghị và phỏng vấn tất cả nhân chứng là những kẻ muốn trình diện và muốn được lắng nghe. Thật vậy, tôi đã nêu ra điều này khi Phái bộ đến phi trường vào sáng Thứ Năm, và từ đó Phái bộ gởi lời mời gởi đến tất cả các bên liên quan, như sau: “Phái bộ mời tất cả những người quan tâm đến gặp Phái bộ để làm chứng, và Phái bộ cũng sẽ nhận những khiếu nại bằng văn bản.”
Khi Phái bộ đến, Chính phủ VNCH đã đề nghị với chúng tôi một chương trình làm việc. Chương trình được đề nghị đã được thảo luận với Chính phủ. Chúng tôi đã thông báo cho Ngài về những phần của đề nghị mà chúng tôi đã đồng ý. Bây giờ chúng tôi đang sẵn sàng cung cấp cho Ngài chương trình đã được ấn định cho đến tối Thứ Năm, ngày 3.10, như sau: “Thứ Ba, 29.10, buổi chiều, phỏng vấn các nhân chứng từ 18g00; Thứ Tư 30.10, 7g3, Phân đoàn Phái bộ gồm Ô. Amor, Ô. Gunewardene và Ô. Volio đi Huế. Bộ phận chính của Phái bộ ở lại Sài Gòn phỏng vấn các nhân chứng; Thứ Năm, ngày 3.10, nhóm chính tiếp tục phỏng vấn, 10g20, Phân đoàn Phái bộ từ Huế trở về. Chiều, phỏng vấn các nhân chứng và thăm bệnh viện Du-tan (Duy Tân? Chợ Rẫy?)”.
Tôi cũng muốn nói với Ngài rằng đã có thoả thuận với Chính phủ VNCH rằng Phái bộ được tự do phỏng vấn tất cả các nhân chứng mà Phái bộ đã yêu cầu gặp và những người có liên quan đến Vấn đề Phật giáo, và Chính phủ đã cộng tác trong việc tìm kiếm các nhân chứng và làm giúp họ có mặt sẵn sàng.

Và cũng đã có sự đồng ý rằng Phái bộ sẽ được tự do để gặp tất cả các chức sắc tôn giáo muốn Phái bộ phỏng vấn, cũng như các tín đồ có liên quan đến Vấn đề Phật giáo, kể cả những người đang bị giam giữ. Chính phủ đã tuyên bố là trái với nguyên tắc chủ quyền của Chính phủ trong việc để cho Phái bộ gặp các nhà lãnh đạo của các đảng chính trị đối lập với Chính phủ.

Hôm qua Phái bộ đã phỏng vấn các sinh viên học sinh trong Trại Cải huấn thanh niên và sáng nay thăm trại giam Quốc gia, và phỏng vấn một số các nhà sư mà Phái bộ đã yêu cầu được gặp.

Về khoảng thời gian Phái bộ lưu ở lại đó, thì vẫn chưa được quyết định vì thời hạn chưa được xác định thời trước khi chúng tôi có thể ước tính thời gian cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

 

PHỤ LỤC XIII
Bản tuyên bố của Phái bộ vào ngày 3.11.1963

Phái bộ Tìm kiếm Sự thật của LHQ tại Việt Nam sẽ rời khỏi Sài Gòn, như dự kiến ​​trước những biến cố mới đây, ngày hôm nay, 3.11, để trở lại New York sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Chiều ngày hôm qua, Trưởng phái bộ đã làm thay mặt cho Phái bộ viếng thăm xã giao các Tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim để xin các phương tiện rời Việt Nam hôm nay và chuyển cho họ lời cám ơn của Phái bộ về sự đối đãi tử tế của dân VNCH.

Tại phiên họp cuối cùng của ông Trưởng phái bộ với báo chí vào ngày 29.10, Trưởng phái bộ tuyên bố rằng ông sẽ công khai nêu tên của những người được Phái bộ phỏng vấn trong nhà tù. Tên những người đó như sau: Thích Trí Thủ, Thích Quảng Liên, Thích Tâm Giác, Thích Tâm Châu, Thích Đức Nghiệp, Thích Thiện Minh và Ô. Mai Thọ Truyền.
Trong phần trả lời các câu hỏi, phát ngôn viên của Phái bộ tuyên bố rằng Phái bộ đã phỏng vấn những loại người sau đây: những phát ngôn viên mà Chính phủ trước đây cử ra, những người được Phái bộ chọn và những người tự ý trình diện trước Phái bộ. Các phát biểu bằng văn bản cũng được nhận từ những người nhóm cuối.
Phát ngôn viên của Phái bộ cũng tuyên bố rằng Phái bộ đã không thể phỏng vấn sư Thích Trí Quang, người đang tị nạn tại Toà đại sứ Hoa Kỳ. Chính phủ cũ của nước VNCH đã thông báo cho Phái bộ rằng, theo luật tị nạn, đã là người tị nạn, thì kẻ ấy không được phép liên lạc bất dưới hình thức nào trong khi tị nạn.

 

PHỤ LỤC XIV

Thông cáo chung do Uỷ ban Liên Bộ và các thành viên hàng giáo phẩm Phật giáo ban hành ngày 16.6.1963

 

Để tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho Năm Nguyện Vọng của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
Thành viên của Uỷ ban Liên Bộ bao gồm:

Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng thống

Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Bộ tổng thống.

Bùi Văn Lương, Bộ trưởng Bộ Nội vụ
Các thành viên của phái đoàn Phật giáo gồm có:

Hòa thượng Thích Thiện Minh, trưởng phái đoàn

Hòa thượng Thích Tâm Châu, thành viên Phái đoàn

Hòa thượng Thích Thiện Hoa, thành viên Phái đoàn

Hòa thượng Thích Huyền Quang, thư ký phái đoàn

Hòa thượng Thích Đức Nghiệp, trợ lý thư ký phái đoàn
Chư vị này được Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Tăng thống Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
giới thiệu trong lá thư số 24 ghi ngày 14. 6.1963.

Cả 2 bên gặp tại hội nghị Hội trường Diên Hồng:

Thứ 6, 14. 6.1963
Buổi sáng từ 9g – 12g trưa

Buổi chiều từ 3g chiều – 6g chiều

Thứ Bảy, 15.6.1963,
Buổi sáng từ 9g sáng – 11g sáng
Buổi chiều từ 2g30 chiều – 5g chiều.
Buổi tối từ 9g tối – 12 giờ đêm.
Chủ Nhật, 16.6.1963

9g sáng – 1g30 chiều.
Sau các cuộc tranh luận, Uỷ ban liên bộ và phái đoàn Phật giáo đã thống nhất những điểm sau đây:

 

  1. CỜ QUỐC GIA – CỜ TÔN GIÁO

Quốc kỳ, biểu tượng của tinh thần dân tộc, luôn luôn được tôn trọng và được đặt ở vị trí thích hợp của nó.
A. Vào những ngày lễ Quốc gia: chỉ có lá cờ Quốc gia mới được treo.

B. Vào các ngày lễ Phật:

(1) Tại chùa:
Cửa tam quan, Cổng chính, Mặt tiền:

– Cờ Quốc gia ở bên phải & Cờ Phật giáo (nhỏ bằng 2 /3 cờ Quốc gia) bên trái
Khi cần treo cờ nửa cột: chỉ treo cờ Phật giáo
Trong sân chùa: chỉ có những lá cờ Phật giáo nhỏ treo trên dây giăng có thể dùng để trang trí
Bên trong chùa: Chỉ treo cờ Phật giáo

(2) Trên khán đài lễ:

Tại chân khán đài và chung quanh khán đài:

Cờ Quốc gia ở bên phải.
Cờ Phật giáo (nhỏ bằng 2/3 cờ Quốc gia) ở bên trái
Trên khán đài (có thể được coi như là bên trong của chùa): chỉ treo cờ Phật giáo

(3) Trong đám rước:

– Ở phía trước đoàn rước:
Nếu chỉ có một người đi rước ở phía trước, người này sẽ cầm 2 lá cờ (cờ Quốc gia ở bên phải và cờ Phật giáo (nhỏ bằng 2/3 cờ Quốc gia) bên trái
Nếu có 2 người đi rước ở phía trước, mỗi người sẽ giữ một lá cờ theo cùng một cách mô tả trước đây

– Ở phía sau: những người tham dự đám rước chỉ cầm những lá cờ Phật giáo nhỏ
(4) Trên xe cá nhân của Phật tử: Không gắn cờ nào cả
(5) Ở nhà riêng (Phật giáo):
– Ở phía trước nhà: 2 lá cờ (treo như phía trước của chùa)
– Bên trong ngôi nhà: Chỉ treo cờ Phật giáo.

Để những thỏa thuận này được thi hành một cách đúng đắn, 2 bên quyết định rằng:
Phía bên phải: “phải” có nghĩa là phía bên phải của một người bước vào chùa từ đường phố
Cờ nhỏ: “nhỏ hơn” có nghĩa là nhỏ bằng 2 phần kích thước của lá cờ Quốc gia (nhân viên phụ trách không nên quá nghiêm ngặt về chuyện đo đạc)

2. DỤ Số 10

Để tách rời các hiệp hội tôn giáo khỏi các quy định của Dụ số 10 và thiết lập các quy định mới phù hợp với những tính chất đặc thù liên quan đến các hoạt động thiết yếu cho các hiệp hội tôn giáo này.

Các quy định mới này sẽ trở thành luật do Quốc hội chuẩn bị và có sự tham vấn trực tiếp với các các hiệp hội tôn giáo tham dự vào

Quốc hội sẽ bỏ phiếu cho luật này vào cuối năm 1963 hoặc vào đầu năm 1964.

Trong khi đợi luật mới thông qua, Ủy ban Liên Bộ đã đồng ý ban hành các thông báo như yêu cầu để việc thi hành Dụ số 10 sẽ không quá nghiêm ngặt đối với tất cả các hiệp hội Phật giáo hoặc Trung tâm nghiên cứu Phật giáo. Phái đoàn Phật giáo hứa chỉ thị các thầy tăng và các ni cô tuân thủ chặt chẽ luật pháp Quốc gia và sử dụng tất cả các biện pháp kỷ luật để sửa tất cả các hành động chệch hướng.

3. VỀ VẤN ĐỀ BẮT VÀ GIAM NGƯỜI THEO ĐẠO PHẬT

Chính phủ sẽ thành lập một ủy ban điều tra để xem xét lại hồ sơ khiếu nại của Phật giáo.

Tất cả những ai tham gia vào phong trào nỗ lực thực hiện sự 5 yêu cầu của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam sẽ được Tổng thống tha thứ cho dù họ ở đâu.
Chính phủ thừa nhận rằng đã ban hành các hướng dẫn sửa sai cho tất cả các nhân viên Chính phủ hầu thực hiện Chính sách của Chính phủ về bình đẳng tôn giáo.

4. VỀ TỰ DO TÔN GIÁO VÀ TỰ DO THEO ĐẠO

Các hoạt động tôn giáo bình thường và thuần túy như ngày 14, ngày 15, ngày 30, ngày 01 Tháng Chín Âm lịch là các lễ cầu hồn, lễ mừng các thánh, lễ cầu hoà bình nếu hành lễ trong ranh giới của chùa hoặc trụ sở của Hiệp hội sẽ không phải xin phép Chính phủ. Các hoạt động khác, ngoài những hoạt động nêu trên và những hoạt động ngoài ranh giới chùa và trụ sở của Hiệp hội, phải có giấy phép của Chính phủ.

Về các ngôi chùa làng ở các địa phương, Các cơ cơ quan trung ương cần có đủ thời gian để thu thập tất cả các tài liệu về các chùa đó. Do đó, tạm thời, chỉ có thể ban chấp hành của các ngôi chùa làng được bầu lại nếu cần thiết, để cho phép người Phật tử tham gia quản trị các ngôi chùa này.

Thừa nhận rằng Bản tin số 166-TTP-TTK ngày 23.9.1960 không áp dụng cho việc mua cũng như bán tài sản và bất động sản thuộc về các cơ quan Phật giáo.

Sự nới lỏng trong vấn đề kiểm duyệt văn học Phật giáo và sách kinh sẽ được chứng tỏ trong các quy định hiện hành.

Sự nới lỏng quyền được phép xây dựng (chùa, trường học, và các cơ quan từ thiện).

5. VỀ TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ GIÚP ĐỠ

Các nhân viên Chính phủ của tất cả các ban ngành chịu trách nhiệm về các vụ xô xát xảy ra từ ngày 8.5.1963 sẽ bị trừng phạt nghiêm trọng nếu họ bị chứng tỏ là có tội.

Giúp đỡ gia đình của nạn nhân là mối quan tâm của các cơ quan xã hội và của Chính phủ.

Các gia đình nạn nhân ở Huế đã nhận được hỗ trợ kịp thời và có thể được hỗ trợ nhiều hơn tùy theo nhu cầu của mỗi gia đình.

Ủy ban Liên Bộ sẽ có trách nhiệm kiểm tra việc thi hành các điều khoản nêu trên, đặc biệt là ở cấp địa phương.

Nếu có bất cứ sai sót nào, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam phải thông báo cho Ủy Ban Liên Bộ ngay lập tức.

Thông cáo chung này được viết thành 2 bản chính tại Sài Gòn ngày 16.6. 1963

Phái đoàn Phật giáo

Thượng toạ Thích Thiện Minh

Thượng toạ Thích Tâm Châu

Thượng toạ Thích Thiện Hoa

 

Uỷ ban Liên bộ

Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ

Bộ trưởng Bộ Tổng thống Nguyễn Đình Thuần

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn Lươmg

 

Được duyệt bởi Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

(Đã ký)

Thượng toạ Thích Tịnh Khiết

Những điều khoản trong Thông cáo chung này đã được tôi chấp thuận trên nguyên tắc ngay từ đầu.

(Đã ký)

Ngô Đình Diệm

 

PHỤ LỤC XV

 DỤ SỐ 10

Dụ số 10 ngày mồng 6 tháng 8 năm 1950 quy định thể lệ lập hội

ĐỨC BẢO ĐẠI, QUỐC TRƯỞNG,

Chiếu dụ số 1 ngày mồng 1 tháng bẩy năm 1940 tổ chức và điều hành các cơ quan công quyền Việt Nam

Chiếu dụ số 2 ngày mồng 1 tháng bẩy năm 1940 tổ chức quy chế các công sở,
Chiếu sắc lệnh số l-QT ngày mồng 5 tháng giêng năm 1950 thu hồi sắc lệnh số l-CHÍNH PHỦ ngày ngày mồng 1 tháng bẩy năm 1949,
Chiếu sắc lệnh số 35S-QT ngày 27 tháng tư năm 1950 thu hồi sắc lệnh số 6-QT ngày 21 tháng giêng năm 1950,
Chiếu sắc lệnh số 37-QT ngày mồng 6 tháng 5 năm 1950 ấn định thành phần Chính phủ,
Chiếu các luật hiện hành về việc thành lập hội,
Chiếu đề nghị của Thủ tướng Chính phủ,

Sau khi Hội đồng tổng trưởng đã thảo luận,

dụ:

CHƯƠNG THỨ NHẤT

Nguyên Tắc

Điều thứ 1 – Hội là Hiệp ước của 2 hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.

Muốn có hiệu lực thì hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về khế ước và nghĩa vụ.

Điều thứ 2 – Các hội có mục đích phi pháp hay trái phong tục đều vô hiệu lực cả.

Điều thứ 3 – Hội viên của Hội lập vô thời hạn hay Hội có thời hạn nhất định vẫn có quyền ra hội bất cứ lúc nào, sau khi đã nộp đủ số tiền góp đã đến hạn nộp và tiền góp thuộc về năm xin ra hội.

CHƯƠNG THỨ NHÌ

Các Hội được phép thành lập

Điều thứ 4 – Những hội nói ở điều thứ nhất của đạo dụ này phải được Tổng trưởng Bộ Nội vụ ra Nghị định cho phép thành lập sau khi hỏi ý kiến Thủ hiến, theo như các thể lệ định ở Dụ này mới được hoạt động.

Nếu hội chỉ hoạt động trong phạm vi một phần Việt Nam thì Thủ hiến chiếu ủy nhiệm của Tổng trưởng Bộ Nội vụ mà ra nghị định cho phép thành lập : sau khi cho phép, Thủ hiến phải trình Tổng trưởng Bộ Nội vụ.

Riêng đối với hội thanh niên và thể thao, Bộ trưởng Bộ Thanh niên Thể thao được sử dụng những thẩm quyền dành cho Tổng trưởng Bộ Nội vụ nhưng phải hiệp ý với Tổng trưởng Bộ Nội vụ.

Điều thứ 5 – Nhũng hội được phép thành lập đều có tư cách pháp nhân theo thể Dụ này.

Điều thứ 6 – Hội sở của hội ở địa hạt tỉnh nào thì những người sáng lập phải đệ đơn cho ông Tỉnh trưởng tỉnh ấy; nếu ở các thành phố thì đơn do Thị trưởng thu nhận; ở Sài Gòn – Chợ Lớn thì đơn đó do Quận trưởng thu nhận.

Người sáng lập hội phải đã 21 tuổi (tính theo Dương Lịch) không can án, khinh tội và trọng tội.

Đơn xin phép phải đính theo bản Điều lệ và bản Tư pháp Lý lịch của người sáng lập hội.

Trong điều lệ phải kê rõ các khoản sau này:

1-Mục đích của hội

2-Tên hiệu của hội

3-Hội sở

4-Hạn điều ước

5-Thể lệ vào hội

6-Nghĩa vụ và quyền lợi các hội viên

7-Tài sản của hội

8-Thể lệ động sản và bất động sản của hội

9-Họ, tên, tuổi các người sáng lập hội

10-Thể lệ về việc cử và bãi những người quản trị và những quyền hạn của người ấy

11-Duyên cớ giải tán hội

12-Thể lệ thanh toán và quy dụng tài sản của hội.

Điều thứ 7 – Tổng trưởng Bộ Nội vụ nếu hội hoạt động trong toàn quốc hoặc ngoài địa hạt một phần Việt Nam; hay Thủ Hiến nếu hội chỉ hoạt động trong địa hạt một phần Việt Nam, có quyền bác khước không cho phép lập hội mà không cần phải nói lý do.

Phép cho rồi có thể bãi đi vì trái điều lệ hay vì lẽ trị an.

Việc bãi bỏ chức vụ có quyền cho phép lập hội phải theo thủ tục tương tự như khi cho phép thành lập.

Điều thứ 8 – Hạn trong một Tháng kể từ ngày nhận nghị định cho phép, nhân viên trong ban trị sự phải đăng trong Công báo Việt Nam hay Hành chính Tập san (các phần Việt Nam) một bản báo cáo nói rõ ngày được phép thành lập hội, nghị định do chức vụ nào ký, danh hiệu, mục đích của hội và hội sở.

Điều thứ 9 – Phàm thay đổi khoản gì trong điều lệ thì hạn trong một Tháng phải xin phép theo thể thức như khi thành lập hội và những sự thay đổi ấy chỉ có giá trị sau khi đã được chuẩn y.

Điều thứ 10 – Nếu có sự gì thay đổi trong việc trị sự của hội thì hạn trong một Tháng phải trình cho Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Quận trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn, để chiếu hệ thống cai trị tường trình Thủ hiến và Tổng trưởng Bộ Nội vụ biết. Khi nhận được tờ khai, các nhà chức trách phải phát biên lai cho đương sự.

Những tờ khai ấy phải nói rõ:

1- Những sự thay đổi trong nhân viên Ban Trị sự hay Giám đốc.

2- Những chi nhánh, doanh sở mới lập.

3- Những sự thay đổi địa chỉ của hội sở.

4- Những việc mua bán bất động sản theo thể lệ nói ở điều thứ 14 dụ này và phải đính theo bản thảo một bản phác tả và kê giá mua, giá bán những bất động sản ấy.

Điều thứ 11– Những sự thay đổi nói ở điều 10 chỉ có giá trị đối vói đệ tam nhân kể từ ngày khai trình với nhà Chức trách và khi đã báo cáo theo như thể thức định ở điều 8.

Điều thứ 12 – Nhũng sự thay đồi trong việc trị sự và những điều thay đổi điều lệ phải biên rõ vào một quyển sổ để tại trụ sở của hội và phải biên rõ ngày khai và ngày duyệt y những sự thay đổi ấy.

Các nhà Chức trách Hành chính, Tư pháp có quyền đến trụ sở đòi hỏi xem quyển sổ ấy.

Quyển sổ này phải do Tỉnh trưởng, Thị trưởng hoặc Quận trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn, hay những người được các vị ấy ủy nhiệm, đánh số trang và ký tên, đóng dấu ở trang đầu, trang cuối.

Các tư nhân cũng có thể xin xem tại Phủ Thủ hiến, các Tòa Tỉnh trưởng, Thị trưởng và Quận trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn những điều lệ, tờ khai và tất cả các điều thay đổi của hội hay xin phép trích lục, nhưng phải chịu tiền phí tổn về phát trích lục.

Điều thứ 13 – Các hội chính trị và các hội đồng nghiệp ái hữu, mỗi năm, trong tuần lễ sau khi họp Đại hội đồng thường niên, phải theo hệ thống cai trị gởi cho Thủ hiến sở tại để chuyển lên Tổng trưởng Nội vụ 2 bản danh sách các hội viên và 2 bản kê tình hình tài chánh và tự rõ các căn nguyên cùng việc sử dụng tiền tài của hội.

Điều thứ 14 – Không hội nào có quyền nhận tiền trợ cấp của Chính phủ, của các quỹ địa phương, quỹ hàng tỉnh và quỹ hàng xã, trừ những hội khoa học, mỹ nghệ, tiêu khiển, từ thiện, thanh niên và thể thao.

Các hội đều có quyền thu và sử dụng tiền góp của hội viên và quyền thưa kiện tại tòa án.

Ngoài ra, các hội chỉ có quyền chiếm hữu, tạo mãi, quản trị, đứng làm sở hữu chủ những bất động sản thật cần thiết để đạt mục đích của hội.

Những người có liên quan và Công Tố viên có quyền xin toàn án hủy bỏ những việc tạo mãi bất động sản trái với điều này. Bất động sản ấy sẽ đem bán đấu giá và được bao nhiêu tiền sẽ sung vào quỹ hội.

Điều thứ 15 – Các hội có thể lập ra trong một thời hạn vĩnh viễn hay tạm thời.

Nếu là thời hạn tạm thời thì trong điều lệ phải nói rõ đến thời kỳ nào hợp đồng của hội sẽ hết hạn.

Có thể định rằng khi nào mục đích của hội đã đạt rồi thì hợp đồng của hội sẽ hết hiệu lực.

Điều thứ 16 – Không cứ là trong điều lệ của hội định về thời hạn hợp đồng lâu chóng thế nào, phàm có đa số hội viên quyết định giải tán, hội sẽ giải tán.

Tuy nhiên, trong điều lệ của hội, có thể bắt buộc rằng sự quyết định ấy phải do đa số hội viên như thế nào, hoặc do cả hội đồng tình mới được.

Điều thứ 17 – Phàm đã mãn thời kỳ định trong điều lệ hoặc đã đạt mục đích của hội rồi thì hội giải tán như thường.

Khi nào số hội viên giảm xuống dưới số ít nhất đã định trong điều lệ, hay là chỉ còn có một hội viên thì tự nhiên chiếu luật, hội sẽ đình chỉ trước thời kỳ đã định.

Điều thứ 18 – Điều lệ của hội có thể bắt buộc người vào hội có tư cách riêng thế nào hay là phải do một Tiểu Hội đồng hoặc do toàn thể hội viên hay ít nhất 2 phần hội viên chuẩn hứa trước mới được.

Điều thứ 19 – Điều lệ có thể định rõ các khoản trục xuất hội viên và cách thức thi hành việc ấy.

Cứ lý thì quyền trục xuất ấy là quyền của đa số hội viên.

Điều thứ 20 – Điều lệ định rõ nghĩa vụ cùng quyền lợi của hội viên. Người nào đã vào hội thì bắt buộc phải tuân theo điều lệ của hội.

Điều thứ 21 – Không hội viên nào được quyền lợi riêng về tài sản của hội trong thời kỳ đương còn hội.

Điều thứ 22 – Phàm hội là một Pháp nhân có những quyền lợi khác với quyền lợi của từng hội viên một.

Hội có tài sản riêng và có thể hành vi mọi việc về hộ luật đã định trong điều lệ để quản lý tài sản ấy.

Sự thi hành nghĩa vụ của hội có thể trích từ tất cả các tài sản của hội

Điều thứ 23 – Phàm chủ trương trị sự quản lý cùng thay mặt cho hội, thì do một hay nhiều hội viên của hội đã giao quyền tổng đại lý đối với đệ tam nhân.

Trong điều lệ có thể tăng hay giảm quyền hạn ấy.

Điều thứ 24 – Người nào đã do trong hội giao quyền đại lý thì trước khi hết hạn có thể xin từ được, nhưng nếu thuộc về việc dân sự thì người ấy vẫn phải chịu trách nhiệm về công việc làm trong khi quản lý.

Khi người đại lý chết thì những người thừa kế phải chịu trách nhiệm về các công việc quản lý của người ấy đã làm cho đến ngày chết.

Điều thứ 25 – Đại Hội đồng có quyền tuyệt đối trong hội. Đại Hội đồng do những người thay mặt hội đứng chiêu tập.

Sự Chiêu tập ấy cứ theo như khi đã định trong điều lệ cùng là khi một phần từ trong hội viên thỉnh cầu mà làm.

Điều thứ 26 – Đại Hội đồng sẽ định đoạt về việc nhận hội viên vào hội hay trục xuất hội viên khỏi hội, cử các người thay mặt hội kiểm soát việc làm của họ và có thể bãi nhiệm họ nếu có duyên cớ chính đáng.

Đại Hội đồng xét xử mọi việc thuộc về các cơ quan khác của hội.

Điều thứ 27 – Hội viên nào cũng có quyền bỏ phiếu như nhau trong kỳ Đại Hội đồng.

Các việc hội nghị do đa số hội viên có mặt quyết định.

Điều thứ 28 – Số tiền góp phải định rõ trong điều lệ. Nếu trong điều lệ không định rõ thì các hội viên đều đóng góp như nhau để chi vào các khoản cần tiêu theo mục đích của hội và để trả nợ.

Điều thứ 29 – Các hội viên ra hội hoặc bị trục xuất thì mất cả quyền lợi về tài sản của hội.

Điều thứ 30 – Sau khi hội đã được phép thành lập, ban trị sự phải trình cho nhà đương chức sở tại và Tổng trưởng Bộ Nội vụ hay Thủ hiến, theo hệ thống cai trị, bản nội quy của hội và nếu sau này có điều sửa đổi cũng phải trình những sự sửa đổi ấy.

Điều thứ 31 – Các hội đã được phép thành lập phải hoạt động theo đúng mục đích của hội đã tự trong điều lệ. Khi nào xét ra một hội đã quả thị trực tiếp hay gián tiếp theo những mục đích khác với mục đích trong điều lệ, thì hội sẽ bị giải tán và các hội viên, nhân viên ban trị sự có thể bị truy tố tại tòa án.

Điều thứ 32 – Những hội không được phép thành lập thì coi như không có và tất cả những hoạt động của hội đều coi như vô hiệu lực và hội sở của hội ấy thuộc quản hạt toà án tỉnh ấy có quyền giải tán.

Người nào cũng có quyền trình tòa án để xin giải tán các hội không được phép thành lập.

Điều thứ 33 – Những hội viên Sáng lập, những hội viên Giám đốc và Quản trị các hội không được phép thành lập, nay đã được phép nhưng sau lại bị giải tán, mà vẫn cứ hoạt động hay lại tự tiện lập trái phép, hay đã hoạt động ra ngoài mục đích định trong điều lệ hội để đạt mục đích trái phép hay trái phong tục, sẽ bị phạt từ 50 đồng bạc đến 5.000 đồng bạc và phạt giam từ 6 ngày đến 6 Tháng.

Hội viên thường sẽ bị phạt giam từ 6 ngày đến 2 Tháng và phạt bạc từ 50 đồng bạc đến 200 đồng bạc, hay trong 2 thứ phạt ấy phải chịu một.

Những người dung túng cho họp các hội không được phép thành lập hay đã bị giải tán cũng có thể bị phạt như trên.

Tòa án truy tố sẽ ra lệnh giải tán hội.

Những hội viên sáng lập, những nhân viên trong ban trị sự phạm vào điều thứ 8, 9, 10, 12, 13, và hoạt động ngoài mục đích của hội đã định trong điều lệ sẽ bị phạt từ 50 đồng bạc đến 200 đồng bạc nếu tái phạm có thể bị phạt gấp đôi.

CHƯƠNG THỨ BA

Hội được công nhận có ích lợi chung

Điều thứ 34 – Những hội đã được phép thành lập theo thể lệ Dụ này có thể được công nhận là hội có ích lợi chung bằng sắc lệnh của Quốc trưởng do Tổng trưởng Bộ Nội vụ đề nghị và sau khi hỏi ý kiến Hội đồng Tổng trưởng.

Điều thứ 35 – Đơn xin công nhận có ích lợi chung phải do những người được Đại Hội đồng ủy nhiệm ký đệ.

Điều thứ 36 – Đơn ấy phải kèm theo những bản sau này:

1 bản Nghị định cho phép hội thành lập

1 bản trình rõ căn do lập hội, sự tiến đạt của hội và mục đích ích lợi chung của hội.

2 bản điều lệ.

1 bản kê hội sở, các chi nhánh, các doanh sở của hội cùng địa chỉ.

1 bản kê sáng lập hội viên, nhân viên trong ban trị sự có ghi rõ tên, tuổi, nghề nghiệp, quốc tịch, cùng sinh trú quán.

1 bản kê khai tình hình tài chánh của hội về 2 năm sau cùng.

1 bản kê khai các bất động sản, động sản và trái khoán của hội.

1 bản trích lục biên bản Đại Hội đồng cho phép làm đơn xin Chính phủ công nhận là hội có ích chung.

Các bản nói trên phải do những người ký đơn đoan nhận là đúng.

Điều thứ 37 – Đơn phải đệ trình Quận trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn, Thị trưởng, Tỉnh trưởng sở quan.

Các viên chức ấy sẽ hỏi ý kiến Hội đồng Thị Xã hoặc Hội đồng hàng Tỉnh nếu có, rồi đệ hồ sơ lên Thủ hiến. Thủ hiến sẽ chuyển đệ lên Tổng trưởng Bộ Nội vụ và kèm theo một tờ tường trình nói rõ ý kiến của mình. Tổng trưởng Bộ Nội vụ sẽ khởi nghị dự thảo sắc lệnh đệ trình Quốc trưởng quyết định tại Hội đồng Tổng Trưởng.

Điều thứ 38 – Hội được công nhận có lợi ích chung có thể hành vi mọi việc mà điều lệ không cấm; như hội chỉ có quyền chiếm hữu và tạo mãi các bất động sản cần thiết cho mục đích của hội thôi. Tiền lưu trữ của hội phải đặt lãi bằng phiếu ký danh quốc trái. Hội có thể thâu nhận những tài sản mà hội được người ta tặng lúc sinh thời hay sau khi quá cố, nhưng phải do nghị định Tổng trưởng Nội vụ cho phép.

Nếu trong những tặng vật có những bất động sản xét ra không cần thiết về việc hoạt động của hội, thì các bất động sản ấy phải phát mãi theo cách thức và thời hạn định trong nghị định cho phép thâu nhận ấy. Phát mãi được bao nhiêu sẽ sung vào công quỹ của hội.

Hội không được nhận các tặng vật bằng động sản hay bất động sản với điều kiện là người tặng vật vẫn được quyền hưởng dụng.

Điều thứ 39 – Những quy tắc ở các điều 8, 9, 10, 11, 12, 30 và 33 ở dụ này đều thi hành cho cả hội được công nhận có ích lợi chung.

CHƯƠNG THỨ TƯ

Các quy tắc áp dụng cho các hiệp hội có thẩm quyền và các hiệp hội công nhận là vì lợi ích công cộng.
Điều thứ 40. Trong trường hợp giải thể một hiệp hội, dù tự nguyện hoặc có hiệu lực hay theo lệnh của tòa án hoặc hành chính, tài sản của nó sẽ được thanh lý và xử lý theo luật của nó, hoặc, trong trường hợp vắng mặt hoặc bất kỳ điều khoản nào về các khoản phụ thu, pháp luật, phù hợp với các quy tắc được thiết lập tại cuộc họp chung.
Điều thứ 41. Nếu điều lệ của hiệp hội không quy định cách thức thanh lý và thanh lý tài sản, hoặc nếu Đại hội không quy định cụ thể thì Toà án sẽ chỉ định một người thanh lý mà trong suốt thời gian thanh lý có quyền hạn của người nhận.
Trong thời gian đó, người tiếp nhận triệu tập họp Đại hội đồng để quyết định cách thức thanh lý và thanh lý tài sản.
Nếu vì một lý do nào đó, không thể họp đại hội, người nhận sẽ yêu cầu tòa án
quy định về thanh lý và xử lý tài sản.
Điều thứ 42. Nếu đó là cuộc họp chung quyết định những vấn đề này, nó không được trao cho bất kỳ thành viên nào một phần lớn hơn sự đóng góp của chính mình vào hiệp hội.

 

CHƯƠNG THỨ NĂM

Tổng tắc

Điều thứ 43 – Những luật lệ nào trái với Đạo Dụ này và nhất là Đạo Dụ số 73 ngày mùng 5 Tháng 7 năm 1945 về việc lập nghiệp đoàn đều bị bãi bỏ đi cả.

Nghiệp đoàn nào đã thành lập rồi, phải tạm ngưng hoạt động và trong thời hạn là một Tháng, kể từ ngày ban bố Dụ này, Ban Quản trị của các nghiệp đoàn ấy sẽ phải chiếu các thể thức lập hội do Đạo Dụ này ấn định mà hợp pháp hóa hội đó nếu không sẽ coi như giải tán.

Điều thứ 44 – Chế độ đặc biệt dành cho các Hội Truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô, các Hoa Kiều Lý Sự Hội, sẽ được ấn định sau.

Điều thứ 45 – Dụ này sẽ đăng vào Công Báo và mang thi hành như Quốc Pháp.

Làm tại Vichy, 6.8.1950

(Đã ký) BẢO ĐẠI

(Đã ký) NGUYỄN KHẮC VỆ

Thay mặt Thủ tuớng Chính phủ đi công cán,

Tổng truởng Bộ Tư Pháp
(Xử lý Thường vụ)

 

Quốc gia Việt Nam

Số 24
ĐỨC BẢO ĐẠI, QUỐC TRƯỞNG,

Chiếu dụ số 1 ngày mồng 1 tháng bẩy năm 1949 tổ chức và điềuhành các cơ quan công quyền Việt Nam

Chiếu Dụ số 2 ngày mồng 1 tháng bẩy năm 1949 tổ chức quy chế các công sở,
Chiếu Dụ số 10 ngày mồng 6 tháng 8 năm 1950 quy định thể lệ lập hội,

Chiếu sắc lệnh số 57-TN ngày 18 tháng 5 năm 1950 ấn định nhiệm vụ của Tổng trưởng Bộ Thanh niên và Thể thao,

Chiếu sắc lệnh số 49/CHÍNH PHỦ ngày mồng 6 tháng 6 năm 1952 thu hồi các sắc lệnh số 51, 52, và 55/CHÍNH PHỦ ngày 23 và 25 tháng 6 năm 1952 về sự thành lập Chính phủ,

Chiếu đề nghị của Tổng trưởng Bộ Thanh niên và Thể thao,

Sau khi Hội đồng tổng trưởng thảo luận,

dụ:

Điều thứ 1. Khoản 3 Điều thứ 4 của Pháp lệnh số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950 về quản lý thành lập hiệp hội được sửa đổi như sau:

 

Điều thứ 4 – khoản 3 (phiên bản mới): Trong trường hợp các hiệp hội thanh nhiên và hiệp hội thể thao có hoạt động mở rộng trên một phần hoặc toàn quốc thì tổng trưởng Bộ Thanh niên và Thể thao được uỷ quyền cấp hoặc thu hồi quyền thành lập một hiệp hội như thế với sự thỏa thuận với Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Cư trú có liên quan. “
Điều thứ 2: Các quy định trái với dụ này đều bãi bỏ.
Điều thứ 3. Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng khác có liên quan được yêu cầu trong phạm vi liên quan đến việc thi hành dụ này. Dụ này được đăng Công báo.
(Đã ký),

BẢO ĐẠI

Sài Gòn, 19.11.1952
(Đã ký)

VŨ HỒNG KHANH

Tổng trưởng Bộ Thanh niên và Thể thao


(Đã ký)

NGÔ THÚC ĐỊNH,
Thừa hành lệnh của Thủ tướng Chính phủ

Nhà nước Việt Nam

Số 6

Chiếu dụ số 1 ngày mồng 1 tháng bẩy năm 1949 tổ chức và điềuhành các cơ quan công quyền Việt Nam,

Chiếu dụ số 2 ngày mồng 1 tháng bẩy năm 1949 tổ chức quy chế các công sở,

Chiếu dụ số 10 ngày mồng 6 tháng 8 năm 1950 quy định thể lệ lập hội,

Chiếu sắc lệnh số 57-TN ngày 18 tháng 5 năm 1950 ấn định nhiệm vụ của Tổng trưởng Bộ Thanh niên và Thể thao,

Chiếu sắc lệnh số 4/CHÍNH PHỦ ngày 11 tháng giêng năm 1954 về sự tổ chức Chính phủ,

Chiếu đề nghị của Thủ tướng,

Sau khi Hội đồng tổng trưởng đã thảo luận,

Dụ:

 

Điều 1 – Dụ số 10 ngày mồng 6 tháng 8 năm 1950 quy định thể lệ lập hội được bổ sung như sau:
“Các cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hiệp hội cũng có quyền ra lệnh, không cần đưa ra lý do, bãi nhiệm một hoặc nhiều thành viên của ban chấp hành hiệp hội đó.
Mọi hiệp hội không có khả năng chấp hành quy tắc này sẽ bị các cơ quan có thẩm quyền kể trên giải tán quyết.”
Điều 2 – Dụ này sẽ được công bố trong Công báo và có hiệu lực theo như một luật Quốc gia.
Đối với và theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ
(Đã chính thức phê chuẩn)

ĐỨC BẢO ĐẠI
Đà Lạt, 3.4.1954

(Đã ký)

BỬU LỘC,

Thủ tướng

 

PHỤ LỤC XVI
Bản thảo thông báo cho Phái bộ, nhân chứng số 41

Nhân chứng số 41, một sinh viên Việt Nam, đã tự nguyện gặp Phái bộ và đã trao cho Phái bộ một bản thảo của anh có tựa đề: “Các bức thư viết trong Việt Nam năm 2507” và đưa ra các chứng từ về những vấn đề khác nhau (xem chương IV) .
Về một số câu hỏi mà các thành viên của Phái bộ đặt ra, anh đặc biệt nhắc đến bản thảo của mình. Phái bộ quyết định đưa vào các trích dẫn dưới đây hoặc các tóm tắt của tài liệu này, đặc biệt là các phần giải quyết các vấn đề mà nhân chứng đã đề cập trong bản thảo của mình.
Bản thảo bao gồm 15 bức thư tưởng tượng 2 sinh viên Việt Nam trao đổi, tìm cách giải quyết với nhau những mắc mứu giữa Chính phủ và cộng đồng Phật giáo từ ngày 6.5 – 17.9.1963.

NHỮNG CÁO BUỘC VỀ CĂN CỚ CỦA CƠN KHỦNG HOẢNG

Sự bất bình đẳng giữa người Phật giáo và người Công giáo và sự xử tệ đối với Phật giáo

Về những vấn đề này, Phái bộ đã đặt cho nhân chứng những câu hỏi, và để trả lời, anh ta lại nhắc tới bản thảo của anh ta. Các đoạn văn liên quan đến bản thảo được liệt kê theo đây: :
“Theo Dụ số 10, điều1, tất cả các tôn giáo ngoại trừ Công giáo đều được coi là hiệp hội.

Theo điều 1 của cùng Dụ, Chính phủ có quyền đình chỉ hoạt động của các hiệp hội như vậy vì lý do an ninh.

Theo điều 10, các tôn giáo, ngoại trừ đạo Công giáo, đều bị giám sát chặt chẽ bởi bất kỳ cán bộ nào của Chính phủ.

Theo các điều 14 và 28, các tôn giáo, ngoại trừ Công giáo, chỉ được quyền nhận tiền của tín đồ bằng những cách thích đáng và chỉ thiết lập các bất động sản nếu thực sự cần thiết.

Hơn nữa, theo lệnh số 116 / TTO / TTKI của Phủ tổng thống, ngày 23.9.1960, bất động sản của các hiệp hội (mà Phật giáo là một), dù nhỏ đến mấy đi nữa, phải được Tổng thống VNCH cho phép, nếu không, các sở hữu chủ của bất động sản như vậy phải nộp thuế như tất cả các người sở hữu các bất động sảng hác.

Theo cái nhìn từ những bài báo này, chúng tôi nhận thấy có sự bất bình đẳng tôn giáo dưới chế độ dân chủ này và rằng các sự kiện này mâu thuẫn với mục tiêu mà Chính phủ đang theo đuổi trong chính sách Ấp chiến lược, chính sách được gọi là cuộc đấu tranh chống lại bất đồng.

Dụ số 10 ra đời vào năm 1950, tức là dưới chế độ quân chủ vì chế độ đó đã bị lật đổ năm 1954, chúng tôi hỏi lý do tại sao Dụ số 10, không tương thích với các điều khoản của Hiến pháp VNCH, thế mà Dụ này vẫn tồn tại và sẽ luôn luôn tồn tại. Chúng tôi yêu cầu Chính phủ bãi bỏ Dụ này và thay thế bằng một đạo luật khác.

Trong Việt Nam, đặc biệt là ở trong nước, các nhân viên của Chính phủ đang hành động sai lầm hoặc thiên vị có chủ ý. Chúng tôi đã đưa ra các sự kiện này trước Tổng thống và Quốc hội, nhưng chúng tôi rất tiếc đã không nhận được trả lời nào. Chúng tôi thỉnh nguyện Tổng thống chấm dứt các hoạt động này, thỉnh nguyện thiết lập một uỷ ban điều tra và chỉ thị uỷ ban xem xét lại một cách chân thành, vô tư và độ lượng các hồ sơ khiếu nại của Phật giáo, để bảo đảm sự an toàn của các nhà lãnh đạo Phật giáo (tôn giáo cũng như các tín đồ chức sắc) và cấp các binh sĩ Phật giáo và các nhân viên công chức được tự do hành đạo…
Hơn nữa, ông Paul Hieu, Bí thư của Bộ Công dân vụ, nói tại một cuộc họp của các viên chức được Liên đoàn Cách mạng Quốc gia triệu tập rằng Phật giáo là kẻ thù chung số 1 của dân tộc.”

Những trích đoạn từ một bài báo đăng tải trên tờ Newsweek vào ngày 27.5.1963, mà cảnh sát đã cố gắng tịch thu:

“Những người Phật tử (ước tính khoảng 10 triệu người) đã tỏ ra bất mãn với những quan lại của Huế và tập đoàn đầu sỏ chính trị người Công giáo cai trị họ; nhất là những người theo đạo Phật đặc biệt phẫn uất một loạt các hạn chế Tổng thống Diệm áp đặt lên tự do tôn giáo của họ.”

“Hầu hết các viên chức cao cấp của Chính phủ Ngô Đình Diệm, các Tỉnh trưởng và các sĩ quan Quân đội là những người Công giáo, và những sĩ quan trẻ tuổi nhất bị khuyến dụ là họ ít ra trong giấy tờ phải khai họ là người Công giáo nếu họ muốn leo lên chức đại uý. Ông Diệm rõ ràng tin ( thì cũng có lý) rằng người Công giáo tận trung với ông hơn và cũng toàn tâm toàn ý chống Cộng sản với ông hơn. Đạo Công giáo, như thế, có vẻ như trở thành một biểu tượng của địa vị, cũng như là điều kiện tiên quyếr cho việc thăng quan tiến chức…

Những người Phật giáo nói rằng đa số những đồ trợ cấp của Chính phủ qua tay người Công giáo và phân phát phần lớn cho người Công giáo. Một cố vấn Mĩ báo cáo rằng lính của các tiểu đoàn trưởng Công giáo trong Quân đội Nam Việt Nam được trang bị khá hơn và nhận được nhiều trọng pháo hơn là các tiểu đoàn trưởng không phải là người Công giáo. Nơi vùng thôn quê, có một số ngôi làng các linh mục nắm quyền kiểm soát và duy trì Quân đội riêng của họ. Ở khu vực duyên hải phía bắc quanh Huế, các đơn vị nhỏ của Quân đội loại này, được gọi là “Lính Đức cha”, chịu trách nhiệm trực tiếp với Đức Tổng Giám mục, và nhiệm vụ số 1 của họ là bảo vệ các nhà thờ và các linh mục. Họ được trang bị với vũ khí Hoa Kỳ và một phần được huấn luyện bởi các cố vấn Hoa Kỳ.

Số lượng đồ trợ cấp lớn lao của chương trình viện trợ thực phẩm của Hoa Kỳ (bột mì, gạo, dầu ăn) được phân phát ở Nam Việt Nam thông qua Cơ quan viện trợ Công giáo đến các linh mục Công giáo trong các tỉnh. Một số người Việt Nam đinh ninh rằng nhiều đồ viện trợ này không bao giờ đến tay những người được quyền đáng được giúp đỡ nhưng bị tuồn ra thị trường chợ đen.

Trích đoạn từ một bài tham luận của một tu sĩ Phật giáo đọc tại Chùa Xá Lợi Lợi ngày 28.7.1963:

“Khi nào Phật giáo và chiến dịch của Phật giáo sẽ kết thúc?

“Điều đó phụ thuộc vào Chính phủ, chứ không phải vào Uỷ ban Liên phái Bảo Vệ Phật Giáo, cái Uỷ ban này chỉ làm cái công việc tuân thủ pháp luật của Chính phủ. Chiến dịch Phật giáo có thể được dừng lại ngay lập tức nếu Thông cáo chung và ‘Chính phủ hết sức mong muốn hoà giải’ được thực thi một cách nghiêm chỉnh và thực tâm, không phải chỉ trên giấy tờ mà trong thực tế. Bao lâu nhân viên chức Phật giáo không được tự do đi lễ chùa, bao lâu các sĩ quan Phật giáo khó mà được thăng chức, thì chiến dịch Phật giáo vẫn tiếp tục.

“Vào ngày 19.8 Uỷ ban Liên bộ, được Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ và một phái đoàn báo chí, rời Sài Gòn đi Phú Yên, một tỉnh duyên hải Miền Trung, để xem xét và giải quyết các khiếu nại đã được Uỷ ban Liên phái báo cáo gần đây trong bản tin lưu hành mới đây, bản tin cáo buộc rằng có những những chuyên xử tệ và đàn áp Phật giáo ở miền Trung Việt Nam trong giai đoạn 1960-1961. Vào thời gian đó đã có một số thông tin liên lạc giữa các Phật tử, nên phái đoàn biết rằng nhiều người dân làng đã bị ép phải theo đạo Công giáo để tránh bị các viên chức địa phương của Chính phủ ngược đãi và để được các linh mục Công giáo bảo vệ.

“Tại một số thôn làng, với sự có mặt của các cán bộ của Chính phủ tại đó, Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đã yêu cầu các Phật tử đừng sợ hãi và đừng ‘đọc thuộc lòng’.

Các vụ xô xát vào những ngày 6 – 8.5.1963 tại Huế và những nguyên nhân

Trong bản thảo của tác giả, anh ta mô tả chi tiết các sự kiện xảy ra vào những ngày 6 – 8.5.1963 tại Huế. Mô tả của anh ta rất giống với những gì đã có trong những lá thư truyền thông đã được tóm tắt trong phần “NHỮNG THƯ TÍN MÀ PHÁI BỘ NHẬN ĐƯỢC”.

Về động cơ sau những cuộc xô xát ở Huế, một câu hỏi được anh đưa ra cho nhân chứng trong quá trình phỏng vấn của anh và mà anh đã đề cập trong bản thảo của mình, bản thảo đó có chứa đoạn văn sau đây:

(Biên bản buổi họp giữa Thích Trí Quang và các viên chức cao cấp của các viên chức cao cấp của Chính quyền tại chùa Từ Đàm, Huế, ngày 18.5.1963:)
Nguyên nhân của cuộc tranh chấp: Thượng toạ đưa những ví dụ điển hình như những nguyên nhân gián tiếp gây ra sự xử tệ với các Phật tử trong những dinh điền ở Cao nguyên và sự bắt bớ và đàn áp trong một số làng ở Trung Việt.
Tất cả những sự kiện này đã được ghi lại trong những hồ sơ trình lên cho Chính phủ và Quốc hội, nhưng không hiểu tại sao người Phật tử lại chẳng nhận được sự hồi đáp nào.

Còn về nguyên nhân trực tiếp, Thượng toạ đã trích dẫn sự bắt hạ cờ Phật giáo xuống thấp hơn. Tại sao cần phải làm như thế với lá cờ Phật giáo? Tại sao lại ép người Phật tử phải làm như thế trong Lễ Phật đản mà không phải vào những ngày khác? Vì lẽ gì một điện tín gởi từ phủ tổng thống Tổng thống lại đủ để huỷ bỏ toàn bộ một sắc lệnh mà đã có hiệu lực từ lâu?”

Giai đoạn từ 8.5.1963 đến ngày ký Thông cáo chung 15.6.1965

Trong bản thảo của mình, nhân chứng nói đến việc gửi Năm Nguyện Vọng cho Chính Phủ và miêu tả các sự kiện được cho là xảy ra trong thời gian đó, một trong những sự kiện, đó là ngoài việc ngăn chặn các cuộc họp, diễu hành, và các lễ cầu siêu những nạn nhân của biến cố Huế, việc niêm phong một số ngôi chùa bằng dây thép gai để ngăn các tín đồ thờ cúng và tụ tập tại những ngôi chùa này và bắt giữ Phật tử vì họ đã hỗ trợ Năm Nguyện Vọng. Những ghi nhận của anh cũng tương tự như trong một số thư tín mà Phái bộ đã nhận được. Những trích đoạn trong ​​bản thảo của anh:

“Ngày 2.6.1963, Đại biểu Trung phần mới của Chính phủ đã ban hành một văn bản quan trọng:

“ ’Trong những ngày gần đây, sau những biến cố đáng tiếc xảy ra vào ngày 8.5 tại Huế, một số đồng bào của chúng ta vẫn chưa hiểu rõ và nhận thức về những khó khăn của Quốc gia. Họ đã tụ họp trái phép ở một số chỗ, phân phát những tài liệu chưa được Chính phủ kiểm duyệt và và đi rồng rắn trong đường phố, gây rối cho giao thông, nói chung là họ đã hành động có hại cho an ninh, pháp luật và trật tự vì vậy tôi phải kêu gọi tất cả các đồng bào của chúng tôi tuân theo các lệnh sau:

“ ’(1) Nghiêm cấm các cuộc họp.

“ ’(2) Phải có phép của Thị trưởng được sử dụng micrô và loa phóng thanh từ.

“ ’(3) Phải có giấy phép của Thị trưởng trước khi tổ chức các cuộc họp.

“ ’(4) Tài liệu, khẩu hiệu, áp phích và bài phát biểu phải được kiểm duyệt trước khi xuất bản.

“ ’(5) Trong khi các thầy tăng và Phật tử đang tuyệt thực để yêu cầu Chính phủ giải quyết các đòi hỏi của Phật giáo một cách nhanh chóng, hàng trăm sinh viên, học sinh và hướng đạo đã biểu tình gần một cây cầu ở Huế vào lúc 2 giờ chiều ngày 3.6.1963. Cảnh sát xịt nước vào đám đông người biểu tình, nhưng các thanh niên vẫn ngồi bất động, nhìn xuống mặt đất. Một vài phút sau, các vòi nước bị tắt và thay thế bằng các vòi phun axit với một nồng độ khá mạnh. Cùng lúc lựu đạn ném vào đám đông, 54 thanh niên bị thương nặng và phần còn lại chạy trốn hoặc trở về chùa Từ Đàm để tiếp tục tuyệt thực.
“Ngày 3.6.1963 Thượng toạ Thích Tâm Châu, Chủ Tịch Ủy ban Liên phái Bảo Vệ Phật giáo, đã gửi một lá thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm:

“ ’… Tại Huế, cũng như ở Sài Gòn, chúng tôi đã tuyên bố rằng chúng tôi đấu tranh bất bạo động và phù hợp với luật pháp, tuy nhiên Chính phủ đang tiến hành công việc của mình theo một cách thức mơ hồ và không rõ ràng.

“Chính phủ đã làm nhiều việc trong vài năm qua
ngày; ví dụ:
“ ’(1) Nhiều hiệp hội Phật giáo đã bị buộc phải ký những kiến nghị án các hành động Phật giáo trong với những lời lẽ thô bạo.
“ ’(2)) Các sư sãi đã bị ngăn trở ở các xa lộ không cho di chuyển từ nội địa vào Sài gòn để chữa bệnh tại các bệnh viện.

“ ’(3) Hành lý của các thầy tăng trở về từ Sài Gòn sau khi tham gia đình công đã bị lục lọi, và tất cả những người mang theo tài liệu Phật giáo đều bị bắt.
“ ’(4) Các nhân viên an ninh mật vụ đã được cài trong các nhà hàng, các quán rượu và trên đường phố để nghe lén và bắt giữ bất cứ ai nói về Vụ Phật giáo.
“ ’(5) Cảnh sát dã chiến, nhân viên mật vụ, thanh niên cộng hoà, hiến binh và lính, trang bị súng ống trang và máy bộ đàm, đóng gần các ngôi chùa để truy lùng các tăng sĩ và khủng bố các Phật tử muốn vào các chùa.
“ ’(6) Tất cả các lính Phật giáo đều bị cầm chân trong trại.

“ ’(7) Những người tham gia tích cực trong chiến dịch của chúng tôi đã bị truy tố và bắt giữ.
“ ’(8) Các tài liệu của Việt Cộng đã bị ném vào xe hơi của các Phật tử hoặc vào những ngôi chùa khác hầu tạo cớ để giam cầm các Phật tử.
“ ’(9) Trong các cuộc biểu tình phản đối Phật giáo các nhân viên mật vụ là cải trang thành sư và Phật tử.
“ ’(10) Các thành viên của các Ủy ban Phật giáo đã bị buộc phải ký kiến nghị, vv.’ “

 

Giai đoạn từ ngày ký Thông cáo chung 16.6.1963 đến ngày bố ráp các chùa 20.8.1963

 Trong bản thảo của mình, nhân chứng trích dẫn các văn bản của Thông cáo chung và một số thư của các nhà lãnh đạo Phật giáo gửi cho Tổng thống VNCH, cáo buộc nhiều trường hợp vi phạm Thông cáo chung của các viên chức Chính phủ. Các văn bản của những lá thư này, cũng có trong một số thông tin Phái bộ đã nhận được, đã được tổng kết trong phần về thư tín. Tác giả cũng mô tả một số cuộc họp công cộng và một số hội nghị trong các chùa do các Phật tử tổ chức để cố thực hiện Thông cáo chung. Trích đoạn từ bản thảo của anh như sau:
“Vào lúc 9 giờ sáng ngày 16. 7, 150 sư sãi tập trung ở phía trước nơi trú ngụ của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam để kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ can thiệp vào việc giải quyết trường hợp Phật giáo ở Việt Nam.

“Sau cuộc biểu tình, một vị sư bước vào dinh kể trên để trình bày kiến ​​nghị cho Đại sứ Frederick Nolting khi ông ta rời khỏi tòa nhà, vị sư này đã bị cảnh sát bắt. Một số người Mỹ đã can thiệp để giải vị sư và đưa ông trở lại dinh đại sứ Hoa Kỳ.

“Vào lúc 8g30 ngày 17.7, 150 sư sãi biểi tình ở phía trước chợ Trung tâm Sài Gòn để yêu cầu Chính phủ thực hiện Thông cáo chung. Cảnh sát hứa sẽ lái xe đưa họ về chùa, nhưng thay vào đó họ lái xe đưa họ đến một trại tập trung, Một số thầy tăng đã nhảy ra khỏi xe tải đang chạy trên đường và đã bị thương nặng.

“Cũng trong thời gian đó, có đến 1.000 sư và Phật tử, phần lớn là những thanh niên mang theo một cái biểu ngữ có hàng chữ ‘Chúng tôi muốn thăm Thượng toạ đang tuyệt thực tại Chùa Xá Lợi”, rời chùa Giác Minh, nơi có rất nhiều các thấy tăng và ni cô đã tuyệt thực trong 48 tiếng đồng hồ, đến Chùa Xá Rợi, tuy nhiên, cách ngôi chùa thứ hai 200 mét, có kẽm gai giăng. Các Phật tử im lặng ngồi ở đó trong hơn một giờ. Khi họ từ chối giải tán, cảnh sát dã chiến xông vào và đánh đập những người Phật tử. Một số lượng lớn thầy tăng và Phật tử bị đưa vào xe tải cảnh sát đến nghĩa trang Bình Chánh. Các ni cô bị cảnh sát dã chiến bắt, 4 cảnh sát kèm 1 ni cô, và ném họ vào trong xe vận tải như những bao đồ. Những kẻ bị thương không được phép đi bệnh viện ở thủ đô để điều trị, họ muốn được đưa đến chùa Xá Lợi, nơi có một vị sư y tá đang hành nghề y trong điều kiện eo hẹp.”

Trích từ một bài nói chuyện của một thầy tăng trong một cuộc hội nghị tổ chức tại Chùa Xá Lợi ngày 3.8.1963:
“Cùng ngày, một cuộc họp báo đã được tổ chức tại chùa Xá Lợi, nơi Thượng toạ Thích Tâm Châu giải thích tại sao Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo đã không tham gia vào Uỷ ban hỗn hợp:
“ ’Trước khi nói về một Uỷ ban hỗn hợp hợp pháp và có hiệu quả, Chính phủ phải: phóng thích tất cả các Phật tử vẫn còn đang ở trong tù, chấm dứt mọi hình thức bất bình đẳng và chống lại Phật giáo; truy tố tất cả những kẻ có trách nhiệm trong vụ thảm sát ở Huế; thực hiện Thông cáo chung một cách thích đáng.’ “

 

Giai đoạn từ cuộc bố ráp các chùa ngày 20.8.1963 đến ngày 17.9.1963

Trong bản thảo này, tác giả nói rằng anh ta không phải là một nhân chứng cho cuộc bố ráp vào các ngôi chùa ở Sài Gòn, nhưng nghe nói về vụ này qua báo chí và những tin đồn các loại. Anh ta chỉ ra rằng bản báo cáo của Chính phủ cho là súng ống và chất nổ, rằng vũ khí đã được tìm thấy trong chùa, nhưng anh nghĩ rằng những vũ khí là do Cảnh sát cài vào. Hầu hết các trang cuối cùng của bản thảo liên quan đến các vụ biểu tình của sinh viên học sinh, sự đàn áp, và sự Cảnh sát bắt hàng loạt các sinh viên học sinh. Trích đoạn từ bản thảo anh ta như sau:

“Chiều hôm đó 1.500 sinh viên học sinh được thả ra. Một trong số sinh viên học sinh đó đã sống trong một trại huấn luyện quân sự gần Sài Gòn nói với tôi:

“ ’Ngày đầu tiên chúng tôi tuệt thực 24 giờ và tổ chức một buổi lễ đơn giản để tưởng niệm cô Lê Thị Hạnh và những vị tử đạo Phật giáo vô danh khác.

“ ’Vào tối hôm đó Tổng cục Chiến tranh chính trị tính chiếu xi nê cho chúng tôi xem, nhưng chúng tôi đã từ chối.

“ ’Xế trưa ngày hôm sau chúng tôi đập vỡ chén bát hát và hát bài “Let’s twist again”, nổi tiếng trên thế giới, nhưng ở Việt Nam lại bị cấm. Vào buổi tối hôm đó các sĩ quan Chiến tranh chính trị muốn thuyết trình cho chúng tôi nghe, nhưng một trong những sinh viên nói với họ: ‘Chúng tôi biết về chính trị nhiều hơn các ông’.” Thế là cuộc thuyết trình đã bị hủy bỏ.
“Ngày hôm sau chúng tôi đã được phát đồ nhà binh và bị đối xử như những người lính. Chúng tôi phải chạy, trèo, bò, làm nhà vệ sinh, nhổ cỏ vv.

“Mặc dù chịu kỷ luật quân sự nghiêm ngặt, sinh viên học sinh không bao giờ hết châm biến trong trại tập trung đó. Sau một bữa ăn một sinh viên đứng chào một trung úy và nói:

“ ’ “Chào trung uý.”

“ ’ “Chào anh.”

“ ’ “Trung uý làm ơn lấy cho tôi một cái tăm xỉa răng.”…

“ ‘Rồi dần dần nhiều sinh viên học sinh được phép về nhà nhưng họ từ chối rời trại.

“ ’ “Tôi sẽ không rời trại”, họ nói, “trừ phi các bạn tôi cũng được phép rời trại như tôi.”

“ ’Vào tối Thứ Bảy, 31.8, dưới áp lực của các sinh viên học sinh và cha mẹ họ, ông Đô trưởng Quân sự buộc phải thả chúng tôi.’”

 

Trích đoạn từ bản chương trình hành động của Uỷ Ban sinh viên học sinh Ủng hộ Phật giáo mà tác giả đã nhận được ngày 16.9.1963:

 “Chiến dịch của chúng tôi được chia làm 5 giai đoạn:

 Giai đoạn 1. Sinh viên và học sinh viết thư cho Tổng tham mưu trưởng, các Bộ trưởng và các tướng và đưa ra năm yêu cầu của chúng tôi.

 Giai đoạn 2. Học sinh ở trường trung học hoặc sinh viên đại học tuyệt thực 12, 24 hay 48 giờ, tuỳ thuộc thời gian chiến dịch kéo dài bao lâu đi.

“(a) Trong cuộc tuyệt thực 12 giờ sau đây, những khẩu hiệu sau đây sẽ được viết khẩu hiệu sẽ được viết trên chặm, giấy và dán lên tường trường học và những chỗ quan trọng…

“(b) Trong và sau cuộc tuyệt thực kéo dài 48 giờ, 5 khẩu hiệu mới sẽ cộng thêm 15 khẩu hiệu kể trên:

“(1) Ai đã tấn công các ngôi chùa và bắt tăng sĩ và các Phật tử?

“(2) Ai đã giết sinh viên yêu Đất Nước của họ?

“(3) Chính phủ có ủng hộ tự do báo chí không khi mà Chính phủ đưa các nhà báo Tự Do và phóng viên nước ngoài vào tù?

(4) Phụ nữ Việt Nam tự hào có Mai Tuyết An? Lê Thị Hạnh, và rất xấu hổ khi có bà Ngô Đình Nhu trong hàng ngũ của mình.

“(5) Người lính không thể bị lợi dụng để bảo vệ ngai vàng.” .

“Trong trại tập trung, hãy tiếp tục chiến dịch đấu tranh. Chỉ về nhà nếu tất cả cùng được về.

“Nếu trường bị đóng cửa, hãy biến thư viện, rạp xi nê, tiệm ăn vv thành trường học.

Giai đoạn 3. Tất cả sinh viên học sinh cùng đi vào tù.

Giai đoạn 4. Sinh viên học sinh có quyền tự mổ bụng, tự thiêu hoặc tuyệt thực đến chết.

“Giai đoạn 5. Giai đoạn cuối và khẩn cấp. Tổng đình công và đảo chánh.

Vụ bắt giữ tác giả bản thảo ngày 24.8.1963

 Phái bộ đặt cho tác giả xác câu hỏi liên quan đến việc bắt giữ các nhân chứng. Đoạn có dính dáng tới vụ bắt thì như sau:

“Vào sáng Thứ Bảy, ngày 24.8, các sv tụ tập tại Đại học Luật khoa để gặp ông Vũ Văn Mẫu, thạc sĩ luật, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và là giáo sư đại học Luật. Ông đã nộp đơn xin từ chức cho Tổng thống Ngô Đình Diệm.

“Khi ông vừa ra khỏi xe lúc 9g sáng, Ô. Vũ Văn Mẫu được sinh viên hân hoan chào đón. Các sinh viên ngồi trong khuôn viên đại học để nghe ông khoa trưởng Vũ Văn Mẫu nói chuyện, nhưng số sinh viên nhiều đến nỗi phải dùng máy khuyếch đại âm thanh. Một số đi vào trong giảng đường, số còn lại ngồi ngoài sân. Sau khi họ nghe khoa trưởng Vũ Văn Mẫu khuyên bảo, sinh viên đưa ra một tuyên ngôn. Bản tuyên ngôn được nhiệt liệt hoan nghênh, và sv vỗ tay và lấy giày đập lên bàn, làm một số bàn bị gãy.

“Trong khi sự vụ xảy ra như thế, lính vào Trường Luật với số lượng lớn. Ô Vũ Văn Mẫu yêu cầu lính rút lui và đừng đụng đến sinh viên. Do đó sinh viên có thể ra về mà không hề hấn gì.

“Cùng với 200 sinh viên khác tôi đi đến Trường Đại học Khoa học để xin các sinh viên ở đó đừng thi vào Trường Đại học Y khoa: Các thí sinh xé và đốt các giấy thi. Thế là có một cuộc xô xát giữa sinh viên và cảnh sát. Cảnh sát bắt 3 phóng viên Mĩ.

“Trên đường trở lại trường, khi tôi còn cách trường Luật 100m, tôi nghe ai đó hét lên: “ ‘Nó đằng kia kìa! Nó đằng kia kìa! Bắt lấy nó!

“Tôi quay lại nhưng đột nhiên bị đấm 2 lần tlên mắt và mặt bị dí xuống sàn xe jeep. mắt và ném xuống dưới xuống sàn xe jeep.

“ ’Hãy đưa cho tôi cái khăn tay của tôi’, một người lính ra lệnh. Tôi vâng lời; hắn ông ta bịt mắt tôi, cầm dao găm vào cổ tôi và đe doạ: ông ta bịt mắt tôi, cầm dao găm dí vào lên cổ tôi và đe dọa:

“ ’Nếu anh hét to, tôi sẽ giết anh.

“Một lát sau có người khác cũng bị bắt vào xe jeep và cũng bị đối xử như tôi. Nằm bịt mắt trên sàn xe jeep chúng tôi bị rái đưa đi trong một giờ rưỡi, và sau đó xe ngừng lại.

“ ’Bước xuống và theo tôi!

“Chúng tôi làm theo lệnh, nhưng chúng tôi mỗi người bị dẫn đi một lối khác nhau.

“ ’Tôi làm việc bên An ninh tình báo’, một người nói với tôi và dí dao găm vào hông tôi; ‘Đừng có nói láo với tôi- Anh có phải là thành viên của Uỷ ban Liên khoa?”

“ ’Không, không… Tôi cũng như các sv khác thôi, tôi học tại Đại học Khoa học..’

“ ’Thẻ căn cước của anh đâu?’

“ ’Trong túi của tôi, thưa ông.’

“Ông ta rờ trong túi tôi rồi mấy phút sau nói:

“ ’Tốt lắm… Anh có cần 100 đồng trong bóp không?’

“ ’Không, không, tôi không cần đâu, thưa ông.

“ ‘ Tốt lắm. Đứng đây. Nếu anh chạy, tôi sẽ giết anh.’

“Một lúc sau chiếc xe jeep bắt đầu chạy. Tôi lột khăn bịt mắt ra. Tôi thấy tôi đang ở trong một đồn điền cao su. Tôi hét lên:

“ ‘Có ai đây không?’

“Có một tiếng trả lời:

“ ‘Có chúng tôi đây.’

“Tôi chạy về phía giọng nói. Hạnh phúc biết bao khi tôi gặp 2 sinh viên! Không nói gì, chúng tôi nồng nhiệt ôm lấy nhau.
“Áo sơ mi của 2 người bạn của tôi bị rách và máu chảy dầm dề…

“Các anh làm sao mà đến nỗi này?”
“ ‘Họ đã xé áo của tôi,’ một trong những người bạn của tôi giải thích, ‘ và vẽ cứa cứa ngực tôi bằng dao găm. Xem này.’
“Nói thế rồi, anh ta mở chiếc áo sơ mi ra. Máu nhỏ giọt từ ngực anh.
“ ‘Những sinh viên kia đâu rồi?’ Tôi hỏi họ

“ ‘Chúng tôi không biết.”

“Bây giờ tôi sẽ băng vết thương của tôi và chúng ta sẽ đi tìm kiếm đồng chí của chúng ta.”
“Tôi áp dụng sơ cứu mà tôi đã học được hồi đi hướng đạo, tôi đã xé toạc chiếc choàng cổ của tôi và kiếm vài loại cây thuốc cầm máu.
“Khi băng đã xong, chúng tôi bắt đầu đi tìm sinh viên thứ tư, nhưng vô ích. Không có tung tích gì của anh ta. Mặt trời bắt đầu chìm đằng sau những cây cao su.’
“ ‘Có lẽ bạn của chúng tôi bị những người lính bắt đi,’
một trong những người kia nói. ‘Bây giờ chúng ta phải ra khỏi đồn điền này.’
“Chúng tôi đi theo hướng tây dọc theo đồn điền, sau một giờ đi bộ, chúng tôi đến được quốc lộ số 15. Chúng tôi đang cách thủ đô 50 km trên quốc lộ đường Sài Gòn -Vũng Tàu. Một lúc sau đó chúng tôi gặp một chiếc xe đò và và chúng tôi đón xe về Sài Gòn. Khi chúng tôi đến bến xe ở Sài Gòn chúng tôi không có tiền để trả tiền xe vì các nhân viên an ninh tình báo đã dùng vũ lực lấy tất cả tiền bạc của chúng tôi. Thấy tình cảnh của chúng tôi, chủ xe đò không đòi tiền xe chúng tôi nữa.
“Khi tôi về đến nhà lúc 7 giờ tối, tôi biết mới thấy rằng toàn thể vùng da xung quanh mắt tôi đều tím bầm.”

 

Tài liệu A / L.425 VÀ ADD.l * Chilê và Costa Rica: dự thảo nghị quyết

 (Bản gốc: tiếng Tây Ban Nha)

(7.10.1963)

 

Kính thưa Đại hội đồng,

Nhớ tới lá thư đề ngày 4.10.1963 của Trưởng phái đoàn Đặc nhiệm của nước VNCH gửi đến LHQ, trong đó Chính phủ Việt Nam đề nghị rằng các đại diện của các Quốc gia thành viên LHQ nên đến thăm Việt Nam để nghiên cứu tình hình liên hệ đến những mắc mứu giữa Chính phủ với cộng đồng Phật giáo Việt Nam,

Xét rằng trong hoàn cảnh hiện nay, việc LHQ gởi một ủy ban bao gồm các đại diện của các Quốc gia thành viên LHQ đi đến nước VNCH nhằm mục đích thu thập càng nhiều thông tin càng tốt về các sự kiện và hoàn cảnh được nhắc tới mục “Vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam” là một việc làm rất hữu ích.

Xét rằng Điều mong muốn nhất là Uỷ ban đã được đề cập trong đoạn trên nên thực thi các nhiệm vụ được phân cho Uỷ ban và tường trình cho Đại hội đồng tại kỳ họp thứ 18, để Đại hội đồng có thể hoàn thành việc xem xét mục này trước khi kết thúc hội kỳ,

  1. Chỉ thị Chủ tịch Đại hội đồng bổ nhiệm một Uỷ ban đại diện các Quốc gia thành viên để thực hiện tiến trình đến nước VNCH và thu thập càng nhiều thông tin càng tốt về các sự kiện và hoàn cảnh mà mụ “Vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam” đề cập;
  2. Yêu cầu Ủy ban trình lên Đại hội đồng tại phiên họp thứ 18 mộc bản tường trình về kết quả những điều tra của Uỷ ban, để Đại hội đồng có thể hoàn thành việc xem xét các mục nói trên trước khi kết thúc họp kỳ;
  3. Khuyến khích Chính phủ Cộng hoà Việt Nam hỗ trợ Ủy ban mỗi cơ sở để hoàn thành nhiệm vụ của mình;
  4. Yêu cầu Tổng thư ký trao cho Uỷ ban sự hỗ trợ cần thiết để Uỷ ban có thể thực hiện những nhiệm vụ được giao của mình.

 

*Tài liệu A / L.425 / Add.1, ngày 10.10.1963, điều khoản bổ sung khoản 4 của dự thảo nghị quyết
———————-
CÁC HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG LHQ
Tại phiên họp toàn thể lần thứ 1234, vào ngày 8.10.1963, Đại hội đồng đã quyết định thành lập một phái đoàn tìm kiếm sự thật của LHQ tới Nam Việt Nam, các thành viên đó sẽ do Chủ tịch Đại hội đồng bổ nhiệm.
Tại phiên họp toàn thể lần thứ 1239, vào ngày 1.10.1963, Chủ tịch Đại hội đồng thông báo rằng Phái bộ sẽ gồm các Quốc gia thành viên: Á Phú Hãn, Ba Tây, Tích Lan, Costa Rica, Dahomey, Ma Rốc và Nepal.
Tại phiên họp toàn thể lần thứ 1280, ngày 13.12.1963, Đại hội đồng quyết định không tiếp tục xem xét khoản mục này nữa.

 

 

 

 

 

 

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close