BTT 5 – Các cáo buộc về vi phạm nhân quyền tại VNCH được đưa ra trước Đại hội đồng.

II. Các cáo buộc về vi phạm nhân quyền tại tại VNCH được đưa ra trước Đại hội đồng.

 A. VĂN BẢN TƯỜNG TRÌNH TỪ CHÍNH PHỦ CỦA 16 QUỐC GIA THÀNH VIÊN TRÌNH LÊN.

64. Ngày 13.9.1963, các cáo buộc sau đây đã được trao cho Đại hội đồng bởi Chính phủ của các nước A Phú Hãn, Algeria, Căm Bốt, Tích Lan, Guinea, Ấn Độ, Nam Dương, Mông Cổ, Nigeria, Pakistan, Rwanda, Sierra Leone, Somalia, Trinidad và Tobago (A/5489 / Add.1). Ngày 17 và 18.9, Mali và Nepal, mỗi nước tự dự phần vào những cáo buộc này với các văn bản tương ứng (A /5489 / Add. 2 và 3). Các lời cáo buộc ấy như sau:

“1. Các vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền ở Nam Việt Nam đã công khai thể hiện khi Chính phủ Nam Việt Nam can thiệp sự thực thi nhân quyền của đa số công dân nằm trong Điều 18 của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Phần có liên quan đến điều khoản này như sau:

“ ‘Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do thể hiện theo lương tâm và tự tôn giáo; quyền này bao gồm tự do… phát biểu tư tưởng, hay đức tin trong giảng dạy, thực hành, thờ phượng và tuân thủ.

“2. Hơn 70% trong khoảng 15 triệu người Nam Việt Nam là Phật tử. 10% là người Công giáo, còn lại 20% gồm các tôn giáo khác.

“3. Trong Tháng 5.1963, công dân Việt Nam tại Huế đã tìm cách thực hiện quyền đã được công nhận trong điều khoản nói trên ở chỗ đã cử hành những lễ lạc thích đáng liên quan tới ngày sinh thứ 2507 của người thành lập ra một tôn giáo mà 70% người Việt tin theo. Chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã từ chối những công dân này thực thi quyền này. Trong thực tế, việc từ chối quyền này được thi hành một cách tàn nhẫn. 9 người đã bị thiệt mạng khi Quân đội, theo lệnh của Chính phủ, bắn vào những người tham gia cuộc lễ. Cuộc xô xát này dẫn đến hệ quả là có lời yêu cầu Chính phủ phải bồi thường cho nạn nhân và phải chịu trách nhiệm cho các vụ giết người do Chính phủ gây ra. Cường độ bất mãn vì những bất công mà Chính phủ gây ra mạnh đến nỗi năm thầy tăng và một ni cô đã tự thiêu, Đây là một hành động bất thường đối với những tín đồ của tôn giáo này.

“4. Lời kêu gọi đòi công lý từ các người dân này đã bị đáp trả bằng những đe dọa và nhạo báng và sau đó là một cuộc tấn công, sau nửa đêm một chút, vào ngày Thứ 2.8.1963, vào Chùa Xá Lợi tôn qúy, một đền thánh chính của một tôn giáo của số đông ở Sài Gòn. Đám cảnh sát dã chiến được trang bị liên thanh và súng cạc-bin đã vào trong khuôn viên của Chùa và bắt bỏ tù hàng trăm tăng sĩ, ni cô, sau khi đã gây thương tích cho họ. Hành động này được lặp đi lặp lại cùng một ngày tại một số ngôi chùa khác trong cả nước. Ước lượng là ít nhất 1.000 nhà sư hiện nay đang bị giam giữ. Số người chết vẫn chưa được biết là bao nhiêu.

“5. Sinh viên Đại học Sài Gòn biểu tình phản đối những hành động độc đoán của Chính phủ, đã bị bắt giữ hàng trăm vào Chủ Nhật 25.8.1963. Chính phủ đang càng ngày càng dấn sâu vào con đườn đàn áp nhân quyền căn bản như việc từ chối quyền hội họp, tự do ngôn luận, tự do di chuyển, vv. “

B. CÁC CÁO BUỘC KHÁC ĐƯA RA TRƯỚC ĐẠI HỘI ĐỒNG

65. Các cáo buộc khác đối với Chính phủ VNCH cũng gây được sự quan tâm của Đại hội đồng và được Ô. Senerat Gunewardene, Đại diện Thường trực của Tích Lan, đưa ra trong bài phát biểu ngày 7.10.1963, khi ông trình bày đề tài “Vi phạm nhân quyền tại Nam Việt Nam” cho Đại Hội đồng (phiên họp toàn thể 1232).

C. CÁC TIÊU CHUẨN CỦA LHQ ĐỂ TỪ ĐÓ QUY ĐỊNH NHỮNG VI PHẠM NHÂN QUYỀN

66. Những hành vi bị cáo buộc là chính phù VNCH vi phạm nhân quyền cần được xem xét trong ánh sáng đã của các tiêu chuẩn ổn cố của LHQ nằm trong Hiến chương, Bản Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền và những quyết định khác nhau khác của Đại hội đồng.

67. Trong Hiến chương này, sự thúc đẩy “sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo” được ghi nhận như một trong những mục đích của LHQ (điều 1, đoạn 3), và một trong những chức năng của Tổ chức LHQ trong Chương IX (điều 55, đoạn c). Điều 13, khoản 1, b của Hiến chương nói rằng:

“Đại hội đồng sẽ khởi sự nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị nhằm thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong các lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và y tế, và hỗ trợ việc thực hiện nhân quyền và các quyền tự do căn bản cho mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo.”

68. Điều 18 của Tuyên ngôn của Nhân quyền công bố rằng:

“Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do, hoặc quyền, một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác và nơi công cộng hay chốn riêng tư, biểu dương tôn giáo hay tín ngưỡng của mình trong việc giảng dạy, thực hành, thờ phụng và tuân thủ. “

Cũng nên xem các tài liệu tham khảo ở các điều 2, 9, 20, 21, 29 và 30 của Bản Tuyên ngôn Phổ quát.

69. Trong nghị quyết 1779 (XVII) ngày 7.5.1962, Đại hội đồng:

“1. Nhắc lại những lời lên án mọi biểu hiện của sự bất khoan dung đối với tôn giáo được xem như là sự vi phạm Hiến chương LHQ và vi phạm Bản Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền,

“2. Kêu gọi các Chính phủ của mọi Quốc gia dùng các phương pháp cần thiết để phá bỏ những luật mang tính phân biệt đối xử, những luật có tác dụng tạo ra và kéo dài sự bất khoan dung đối với tôn giáo bất cứ nơi nào có những luật như thế, kêu gọi sự chuẩn nhận những luật nếu cần thiết, cấm chỉ sự phân biệt đối xử như thế, và có biện pháp lập pháp hoặc các biện pháp thích hợp khác như những biện pháp chống lại thành kiến ​​và sự không khoan dung như vậy.”

Cũng có thể tham khảo các tài liệu tham khảo nghị quyết 103 (I) ngày 19.11.1946 và 1510 (XV), 12.12.1960.

70. Cũng nên nhắc lại rằng Tiểu ban Chống Phân biệt Đối xử và Bảo vệ ác Nhóm Thiểu số đã thông qua dự thảo các nguyên tắc về tự do và không phân biệt đối xử trong vấn đề quyền tôn giáo và vấn đề hành đạo. (E / GN.4/800, khoản 160, nghị quyết I (XII), phụ lục), trên căn bản của một Nghiên cứu về Sự Phân biệt đối xử trong Vấn đề Tôn giáo và Hành đạo, được Báo cáo viên đặc biệt của Tiểu ban, Ô. Arcot Krishnaswami (E/CN.4 / Bản đánh máy 2/200/ Tập hiệu đính.1) (United Nations publication, Sales No.: 60.XIV.2.). Những nguyên tắc dự thảo này hiện đang được Ủy ban Đặc trách Nhân quyền xem xét.

71. Những nguồn tài liệu sau đây đã được thông qua bởi những cơ quan chuyên môn, có lẽ cũng đáng được tham khảo:

(a) Tổ chức Lao động Quốc tế, Công ước số 111 (1958) liên quan đến sự phân biệt đối xử đối với sự tuyển dụng và nghề nghiệp. (International Labour Office, Official Blllletin, vol. XLI, 1958, No. 2.)

(b) Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa LHQ (UNESCO), Công ước và Khuyến nghị chống lại phân biệt đối xử trong Giáo dục. (United Nations Educational, Scientific and Culture Organisation, Records of General Conferencác em, Eleventh Session, Paris, 1960, Resolutions.

%d bloggers like this:
search previous next tag category expand menu location phone mail time cart zoom edit close