Tiết trực, Tâm hư : 節 直, 心 虛

ĐỨNG THẲNG, QUÊN MÌNH

Những Nhánh Thơ Không Tên
Thiênnga

Thie6n Nga- Đỗ Quang Nghĩa

 

LGT: Tạm gọi là Những Nhánh Thơ Không Tên vì những bài thơ Nghĩa gởi tặng cũng như đa số những bài thi khác của chàng thi sĩ, là những mẩu thơ vô đề nhỏ, nhỏ và mong manh như những chiếc lá, và những giòng thơ của những mẩu thơ ấy, nếu nhìn kỹ, ta sẽ thấy đó là những đường gân lá tinh tế, phức tạp mở ra cõi không cùng. Những nhánh thơ dưới đây khe khẽ trải ra một thoáng mùa xuân, chút tình yêu, thiên thu lẫn sát-na đời, rồi tan vào hư vô lúc nào không hay. Ngoài ra, người ta không thể ngờ những bài thơ như thế với thi từ, thi tứ như thế lại được viết bởi một chàng tuổi trẻ Hà Nội (s.1961), một Hà Nội đã biến tướng khắc khổ, khô cằn, thô tháp và hay lên đồng. – Mạt Tỉnh Phu/Nguyễn Văn Thực

 

 

 

 

*.

 

Này mùa xuân,

nghe không

lời thơ tôi

thở qua từng chiếc lá

Này mùa xuân,

thấy không?

bài thơ tôi

mải miết

viết

trên những cánh hoa.

 

 

*.

 

Trăng rất mảnh, trong một đêm đầu xuân

sương rất mỏng, trong một đêm đầu xuân.

Ðường rất nhỏ đưa hồn

đi xa ngái:

phố, mưa phùn,

sau một đêm: mùa xuân!

 

*.

 

Vì đã nở mấy hôm

vì mưa xuân

và gió xuân

những cánh đào phai

nhẹ nhàng rơi xuống đất.

 

Bên những gốc đào xưa: dòng-sông-thời-gian,

đi qua đời thật chậm,

như ngừng trôi.

 

 

*.

 

Có một lần đưa nắng vào thơ

và một lần đưa thơ vào nắng,

hai lần, nghĩ về em…

giữa đời, anh hạnh phúc.

 

Có một lần đưa nắng vào thơ…

 

Hạnh phúc, bao giờ không thoáng qua.

 

 

*.

 

Ta không đi tìm em sau lần chia tay cuối cùng

Vẫn thấy em trên những đường quen, lối cũ

Tình cho nhau không đủ thành đôi

nhưng đủ – suốt đời thiếu vắng.

 

Em không đi tìm ta sau lần chia tay cuối cùng

bao lần nghĩ về quá khứ

bấy nhiêu ta nghĩ về em.

 

Sau lần chia tay cuối cùng

vẫn còn những lần gặp gỡ

nhưng cả hai đều rõ

trước đó – là lần chia tay cuối cùng.

 

 

*.

 

Máu và thơ nhỏ trên tuyết trắng

ba năm tôi xa nhà…

thôi nói gì chuyện cũ,

tim bao giờ hết đau.

 

Tôi áp mình – tuyết trắng

khi nào tôi tan đây?

 

Bao điều gửi đi không người nhận

nên suốt đời mang theo.

 

 

*.
Chiều đưa nước về đâu
về đâu là về đâu?
cái gì không về đâu!

Thiên nga mờ trên sóng
chiều chìm trong nước mây.

(Bên sông Vltava – Praha, 2011-08)

 

 

*.
Ta đã yêu em gần như vô tận,
em có tin không?

Những cánh đồng chiều
những cánh rừng chiều
màu tím ấy và màu xanh ấy.

Hoàng hôn biển.

Mênh mông trời chiều
thấm thía từng ngọn cỏ chiều.

Ta đã yêu em gần như vô tận,
em có tin không?

 

 

*.

 

Vẫn là những cơn gió ấy,

quay lại

gợi những quê nhà.

 

Ta vẫn hình dung được ao đình

những chiếc lá sen tàn

dòng sông bên làng – mắc cạn

tiếng loa truyền thanh chiều.

 

Ta vẫn hình dung như hôm qua

cha ta ngồi ăn cháo

mắt người đã lòa

kể chuyện năm nào

tượng Phật bị vứt xuống ao.

 

Những cơn gió quay lại

những mùa con nhớ cha.

 

 

*.

 

Trái tim hắn đập những nhịp cay đắng,

rất cay đắng.

Chân hắn bước những độ ngập ngừng

Hắn chìm trong đáy nước buồn, và trôi.

10.12.07

 

 

*.

 

Tiếng hát vang – những nỗi buồn đa sắc

miên man trôi miền ký ức không lời.

Có nhu cầu đứng giữa hào quang

và nhu cầu ngồi trong bóng tối.

Khát vọng được thăng hoa

và khát vọng vẫn giữ được chính mình

không chỉ trong câu hát

không chỉ một đêm nay.

 

 

*.

 

Sau dãy núi là mặt trời hoàng hôn

sau màu vàng thu là những cuộc đời lá.

Nước mắt có khi rơi, sau một lần hạnh phúc.

hay miệng cười như không,

sau năm tháng tơi bời.

Mai,

mặt trời lại lên,

phía bên kia dãy núi.

 

 

*.

 

Buổi chiều chạy đến cuối trời

bằng những dấu chân trần trên tuyết.

Trăng non!

Nhớ ơi những ngày gió bấc.

Em đã đến và đi

ta đã quên và xa

Từng không biết sẽ bay cao tới đâu

giờ không biết sẽ rơi sâu tới đâu

mười năm hơn, đời nào không lối rẽ?

Nhưng chiều nay

trăng non soi những dấu chân trần trên tuyết.

Tuyết đầy những dấu chân.

 

 

*.

 

Ràng buộc với cái gì cũng sợ

đành ràng buộc với tự do.

 

 

Đỗ Quang Nghĩa (Berlin)

 

Nguyễn Văn Thà

https://cache-graphicslib.viator.com/graphicslib/thumbs674x446/53571/SITours/english-speaking-guide-with-transport-angkor-wat-small-group-full-day-in-krong-siem-reap-507293.jpg

Đến Na Uy được vài năm, khó nhưng rồi Nam cũng kiếm được việc tuy chỉ là việc bán hàng ca đêm trong một tiệm xăng. Công việc hợp với Nam vì lương đủ sống, và cũng vì được những đêm yên ắng, cái yên ắng bị cuộc sống tước mất đã quá lâu. Đó cũng là lúc Nam đã gần năm mươi tuổi, tuổi của nhiều “đáng lẽ”, những đáng lẽ trong những vấn đề lớn như tình yêu – hôn nhân, học vấn – nghề nghiệp, cũng như những đáng lẽ vu vơ: nên giúp ai đó mà không giúp, đáng lẽ phải trả ơn ai đó mà không trả được.

Chẳng bao lâu Nam còn quen được một ông già Na Uy, ông hay thơ thẩn trong đêm và ghé quán mua cà phê và chuyện vãn với anh. Một thời gian sau, khi biết anh cần một nơi ở, ông rủ về nhà ông ở cho vui, vì “nhà tôi rộng, và anh chỉ phải trả tịền nhà tượng trưng, ở tuổi tôi có thêm tiền không quan trọng lắm, và để vợ tôi nấu ăn cho luôn.” Và đúng như vậy. Sống với ông bà là tắm trong tình người. Hai ông bà thuộc lớp người nghĩa hiệp một cách tự nhiên như tuyết rơi, như nắng đổ, đời xưa vốn hiếm, đời nay lại hiếm hơn, ngay tại xứ Na Uy nhiều lòng nhân ái. Ngoài ra, ông, tuy là người Na Uy, nhưng đã tình nguyện tham gia quân đội Mỹ sang tham chiến ở Việt Nam, và sau đó chuyển qua làm cố vấn cho chương trình xây dựng nông thôn. Ông luôn nhớ tới xứ sở ấy của nụ cười. Nay ông bà đã về hưu, con cái đã lớn và ra riêng cả, kể cả cô gái út Anna. Chuyện Nam ở chung mà như riêng lại càng thích hợp.

Nam lại thuộc loại người sống theo nếp. Đi làm về ít đi đâu: đọc sách, nghe một chút nhạc, xem TV qua loa, anh cũng dùng nhiều giờ rảnh để học các cổ ngữ mà anh thích.

Vào dịp nghỉ mùa đông năm nay, ông bà đi thăm gia đình đứa con trai lớn ở Trondheim, ông bà rủ Nam cùng đi, nhưng Nam lại tính về Việt Nam một chuyến, mục đích chính là thăm cha anh; ông đã quá già, mất lúc nào không biết, ông lại đang buồn nhiều, nhất là từ khi mẹ Nam mất. Trước khi về, có mấy anh bạn đồng nghiệp người Việt biết được, gắm ghé anh cho em gái của họ. Có anh còn chịu chi 200 ngàn đồng Na Uy, lấy thật càng tốt, lấy giả cũng không sao. Nam chỉ cười cười, đùa cho qua chuyện. Anh nhớ tới Uncle Tom trong báo TP đã cảnh cáo là con gái thời nay, thời cộng sản, không được như con gái đời xưa, thời của những tiểu thư hoa mộng, nữ sinh áo trắng tình thơ.

Khi ra Nam khỏi phi trường, trời đã bắt đầu tối. Nam thấy mọi sự đã khác xưa. Cái thiên thai của chàng Lưu, chàng Nguyễn trở nên hom hem, quê kệch so với cái Sài Gòn đang mở ra trước mắt Nam. Cái thành phố Oslo cũng vậy: u u mù mù, lạnh ray lạnh rứt, người chúi chúi khom khom, khác hẳn ở đây gần tối mà nắng còn tràn trề, ấm rân rân nóng xúyt xoa, người người tới tới. Rồi những nàng con gái, các nàng lại càng khác: đẹp hơn, phơi phới, mời gọi hơn. Linh mục kiêm nhà văn Na Uy Kjell Arild Follestad, ghi nhận trong cuốn nhật ký, trong phần về chuyến du hành của ông tới Việt Nam năm 1993, như sau: “Lâu nay trong cái đầu nông dân cả đẫn của tôi, điếm là những chị em béo, bèo nhèo, chảy xệ, nhưng ở đây, trong cái quán disco Queen Bee này, tôi được bâu quanh những nường con gái thánh thiện, có vẻ đẹp khác thường của cõi trên.” “Họ ngồi sau bức những bức tường dọc dòng sông, dưới bóng cây, và đẹp đến nỗi những người đàn ông Mỹ, những người đàn ông Nhật phải điên đầu vì họ.” Đọc đến đó, Nam phì cười, và buồn cười cho cái tật nói quá, nói sai sự thật vốn là cố tật của mấy ông Tây nhà văn, nhà báo khi viết về một đất nước xa lạ như Việt Nam. Nhưng xuyên qua cuốn nhật ký của ông, cho thấy ông là một người đi du lịch nhiều, kiến thức quảng bác, sành sõi mọi ngành nghệ thuật, và có con mắt nhận định thẩm mỹ cao. Thực, hư sao đây? Điếm mà còn như thế, huống chi gái không điếm!

Quả thật, vẻ đẹp hớp hồn của gái Việt được khẳng định ngay đêm đầu tiên Nam thơ thẩn quanh khu Bến Thành, Nguyễn Huệ. Những nàng thiếu nữ, nhiều nàng kiều nữ mặt ngọc, tay ngà, vai cẩm thạch hồng hồng tuyết tuyết lượn lờ, vi vút trên những chiếc xe gắn máy sáng loáng, như những kiệu hoa thượng giới ghé chơi một tối hoa lệ. Khách du quên hết những tin tức, phóng sự này nọ về những người con gái thành phố HCM đăng hàng ngày trên những trang mạng ở nước ngoài. Những trang đó trong nháy mắt trở nên những trang lá cải, hạ cấp, thậm chí “phản động”, “diễn biến hoà bình”. Và có lẽ cũng vì thế, cái chữ hiếu trong những điển tích, sách xưa mà Nam vẫn hết sức tâm phục và quyết chí noi theo, và thậm chí có lúc anh đã say mê giảng dạy trong các lớp bảo tồn tiếng Việt, giữ gìn đạo lý dân tộc trước khuynh hướng coi trọng cá nhân quá mức quên cha quên mẹ của người bản xứ, chữ hiếu đó lẻn đi hồi nào không hay; lương tâm cố cựu trở nên lẩm cẩm, ấm ớ, không còn đủ sức thúc đẩy Nam quê thăm cha già ngay chiều hôm ấy, hoặc ít ra ngay sáng hôm sau, như là chuyện đương nhiên phải thế, như anh đã định trước khi lên đường về xứ. Sài Gòn tuy không còn là minh châu trời Đông, nhưng những nường con gái vẫn còn là những viên ngọc trai kết tinh biển mát.

Cái anh chàng lù đù, ngồi trong quán bán xăng đêm đêm, ban ngày ngơ ngơ ngẩn ngẩn với phòng trơ chữ nghĩa, nói năng ừ ừ ờ ờ, bây giờ, dáng dấp phơ phới, mặt mày tươi tắn, trẻ ra, lại nói năng linh lợi, như chiếc máy hát hàng hiệu bỏ lâu ngày trong kho tối, nay được đưa ánh sáng lau chùi, cắm điện vào. Nam cua được một cô gái mà anh chấm nhất trong một nhóm con gái đang uống sinh tố trong quán cà phê vườn, anh ưng từ khuôn mặt, đôi môi, đối mắt, nhất là đôi tay trắng, muốt dài như đang vuốt lụa sông Ngân trên đầu, không còn biết đâu là sông lụa, đâu là bàn tay ngà nàng. Nam tán, Nam nói trăng, nói sao, nói về những bài hát, những bài thơ xưa mà ngồi cạnh cô, trong cái đầm ấm đêm nhiệt đới, bỗng rưng rưng trong lòng anh. Cô nàng nghe, mỉm cười, ăn kem, uống nước đá, nghe, mỉm cười, ăn trái cây, cười, nghe, uống cô ca, mỉm cười. Túi thời gian của đêm cạn quá nữa, và của những ngày nghỉ cũng chẳng còn bao nhiêu, Nam cầm đôi tay lụa đang trói dần anh, nhìn vào đôi mắt trời sao mê hoặc, và thì thầm :

“Thanh yêu anh nhé! Thanh về ở với anh, được không?”

Cô nàng gật đầu:

“Mà anh ở đâu?”

“Anh ở nước ngoài, ở Na Uy.”

“Na Uy là đâu vậy anh?”

“Là Norway đó.”

“Là đâu?”

“Một nước ở Bắc Châu Âu.”

“Ở đó chắc vui lắm.”

“Không, buồn, buồn vì lạnh và nhiều yên lặng. Thiên nhiên yên lặng, con người cũng yên lặng. Ở đó người ta cần nhau, cần nhiều hơn những vùng nắng ấm.”

“Vậy hả, mà gần Mỹ không anh? Em có nhiều bạn đi Mỹ.”

“Không, xa lắm. Qua Nữu Ước 5 tiếng mới tới. Qua Cali 8 tiếng.”

“Em thích đi máy bay.”

***

Sau khi thăm cha mình xong, anh trở lại Sàigòn, thăm gia đình Thắm. Gia đình Thắm nhanh chóng coi anh như một người quan trọng, khi họ hỏi anh làm gì bên ấy, anh trả lời anh bán xăng, họ cứ tường là chủ tiệm xăng, anh cải chính anh là nhân viên bán xăng, họ nhất định không tin, anh chẳng qua khiêm tốn.

Anh cũng quyết định đi Căm Bốt thăm quần thể đền Angkor một chuyến, một nơi mà anh từng ước ao được đi từ ngày đọc cuốn du ký của Nguyễn Hiến Lê và sau này ở Na Uy, nhiều sách, nhiều ảnh còn hấp dẫn gấp bội. Và giá chuyến đi lại quá rẻ, nếu so với giá cả của các công ty du lịch Na Uy. Khi ngỏ ý xin phép đưa Thắm đi Cam Bốt, ba mẹ của Thắm đồng ý ngay, không thắc mắc mảy may những hệ lụy ghê gớm người đời xưa, mà cũng không xưa gì lắm, trước 1975 đây thôi, chắc chắn sẽ không dám liều. Thắm chấp nhận, vui vẻ nữa là khác, vì đây là lần đầu tiên được đi nước ngoài, tuy rằng chỉ đi xe buýt. Nam háo hức xem phong cảnh ruộng đồng, thốt nốt, nhà sàn, sông nước, em bé da nâu mắt sáng, những cô bán hàng nâu dòn duyên dáng xà rông, bà già hom hem vái vái, gì cũng ngạc nhiên, chụp ảnh, quay video, rồi lại thẩn thờ nhìn về quá vãng, hăm hở như muốn ôm hết quá khứ lẫn hiện tại Căm Bốt về nhà ở mình, kho trí mình. Còn Thắm ngủ gà, ngủ gật, khuôn mặt nàng mỹ nhân cổ thi, tiên nương tiên cổ tích đang mmo màng giấc bướm. Ngủ chán, Thắm ăn bánh, uống nước ngọt, chán, quay qua nói chuyện với con nhỏ ngồi băng bên kia với một ông già. Chuyện nó mua sắm mỹ phẩm, ăn cao lâu, ở khách sạn ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, chuyện ông rộng rãi chi như thế nào, đi chơi với ông cả tháng này, ông cho nó 2 ngàn đô. Con nhỏ cỡ mười tám đôi mươi, và ông già bảy mươi là ít nhất, người Chệt Việt kiều, mà con nhỏ bảo là ông bác, nhưng kiểu con nhỏ ngả vào lòng bác ngủ, bác vừa xoa xoa vai nó, vừa nhìn xiên khoai vào vú non không áo ngực của con nhỏ, nói năng chớt nhã, không ai tin hai người là bác – cháu. Nhưng Nam không nghe ai nói gì, chỉ có Thắm nói, nói hăng say, nói hồ hởi khi hai Nam – Thắm không gần người khác, như khi xe ghé nhà hàng uống nước giải lao, nói thầm vào tai Nam, khi ngồi trên xe. Không nói không được. Nam chịu khó nghe, nhăn mặt nghe.

Sau khi thăm đền Angkor Wat và khu đền Angkor Thom xong, người hướng dẫn thông báo ai muốn đi thăm Biển Hồ (Tonle Sap), thì cho biết, và dĩ nhiên, đóng thêm phụ phí. Anh còn cho biết ở đó có đông người Việt ở, lâu đời có, những người mới đến sau năm 75 cũng có. Nam biết về Biển Hồ, qua môn địa lý và qua những bài phóng sự hồi xưa của Lê Hương trong báo Thời Nay và mới đây qua cuốn Ó Đen của Lý Tống. Một vùng sông nước của những con người có lối sống hoang dã và có phần huyền bí. Ngoài ra, anh hướng dẫn còn nói riêng cho anh biết ở đó có những kháng chiến quân thất bại, những người vượt biên đường bộ không lọt, người còn nguyên, kẻ bị thương cũng về đó sống trên những chiếc xuồng, thường là vất vả, vất vả tận cùng. Họ không còn con đường nào khác. Mam háo hức đăng ký đi ngay, rồi anh quay qua hỏi Thắm đang mỹ miều thiu thiu ngủ:

“Em đi không?”

Thắm phụng phịu:

“Không, em không đi đâu. Sông với nước thì có gì mà đi!”

“Đi với anh cho vui, biết đâu thấy được những cái hay. Đã đi qua tới đây…”

“Không, em không đi đâu. Và đi làm gì cho tốn tiền! Ngay cả đền Angkor, em cứ tưởng là ghê gớm lắm, hóa ra chỉ là một đống đá chồng lên nhau. Em về khách sạn ngủ, em nhức đầu.”

“Ừ, tùy em.”

Xe ngừng lại trước một nhà hàng để ăn trưa, có mấy khất sĩ áo vàng nắng đang đứng nghiêm trang nghiêng nghiêng giũa trời nắng đứng, sau dậu hoa giấy cởi mở sắc lòng, chờ nhận đồ của bá tánh, anh bèn nói với Thắm:

” Đưa máy để anh chụp mấy thầy.”.

“Chụp mấy cái ông làm biếng đó mà làm gì cho tốn phim. Anh thiệt không giống ai.”

“……”

***

Xe chạy xuôi nam về hướng Biển Hồ. Nam, không có Thắm, người nhẹ nhỏm thấy rõ. Lại còn gió và nắng và cây cỏ. Gió mỏng, nắng trong, cây cỏ xanh non, hơn bên xứ mình. Những mái nhà nâu ẩn nhẫn, buông xuôi. Thỉnh thoảng hiện ra những ngôi chùa, chùa nào cũng mới, vàng huy hoàng, màu sắc tinh tế, điểm xuyết kỹ càng, mái vút lên trời, như kiệu hoa kiệu những nường apsara từ trời vừa đậu xuống. Chỉ có mái chùa là vui. Trâu gặm cỏ, nhìn ngu ngơ ven đường, quanh những phế tích. Những đứa trẻ chăn trâu quần áo xốc xếch, đội chiếc nón lá xứ Việt tơi lá.

Khi xe xuống bến ghe, đám trẻ bâu lại xin tiền, những làn da nâu, những con mắt chao chao nỗi buồn. Nam loay hoay kiếm tiền lẻ để cho. Có người nói: “Anh cứ cho tiền như thế, tụi nó đã lười đâm lười hơn. Cha mẹ chúng cũng vậy, đôi khi còn có bọn tổ chức ăn xin. Làm cản đường, cản lối!” Nếu Thắm cùng đi, gặp cảnh này, chắc nàng cũng sẽ đồng tình với những lời lẽ khôn ngoan đó. Thắm xem ra khôn ngoan, cái gì cũng khôn. Mà Nam lại không thích khôn. Khôn cũng mệt. Khôn kiểu người mình lại càng mệt. Nam không thích mệt mỏi để được tiếng khôn ngoan.

Tàu chạy dọc sông dẫn ra Biển Hồ. Hàng hàng lớp lớp dừa nước vươn vươn sức xanh mới mới. Mênh mông những đước là đước, xum vầy, an ổn. Những dãy nhà nổi xanh xanh hai bên sông nước đục. Những chậu bông giấy hào hoa, bông thọ vàng ươm trong lon thiếc han rĩ, những bàn thờ thiên sơn màu đỏ. Trẻ em nói cười, có đứa đang lội dưới sông người đen bóng, nhăn răng cười trắng nhỡn, có đứa đang ngồi chò hỏ đút cơm cho em, có cả những đứa đang ê a đánh vần, có đứa nằm chổng mông tập viết, tập đồ trên sạp ghe. Có trường học nổi, a bờ a ba, e bờ e be trong trẻo, tin tưởng vào mình, vào thế giới đang quanh mình, sẽ đến với mình, như từ bất cứ trường mẫu giáo nào trên trái đất này. Có cả ngôi nhà thờ chông chênh đang gắng khẳng định mình trên sông nước mênh mang ghe qua xuồng lại. Những người đàn bà, những đàn ông khô héo bập bềnh trong im lặng đông đặc dưới vành nón lá bạc màu.

Tàu chạy đến quán nổi Cá Sấu thì ngừng cho du khách lên xem dân tình và xem nơi nuôi cá sấu. Những đứa trẻ ngồi trong những chiếc thau nhựa đủ màu chèo ào ào lại xin tiền: “Cho con một đồng đi chú.” “Cho con vài đồng ăn cơm.” Nam cho mỗi đứa mấy chục ngàn tiền Miên. Có đứa cám ơn, có đứa ra vẻ tức tối. Nam thấy có con nhỏ áo xanh chèo xuồng tới, mà chưa thấy xin. Con nhỏ khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, mặt đẹp, môi đỏ, da trắng hồng không thua gì những đứa con gái Việt kiều bắt chước Lara Croft đu rể cây đa, bắn súng giả, cười đùa rong đền Angkor Thom sáng nay. Con nhỏ áo xanh cứ chèo xớ rớ, xem ra không tranh lại với mấy đứa con trai xông xáo, to mồm. Nam kêu nó lại và loay hoay sao đó, cho con nhỏ nguyên tờ 100 đô. Có thằng nhỏ cụt tay, chèo xốc tới, trợn to mắt nhìn tờ đô la con nhỏ đang luýnh quýnh cầm trong tay, hét lớn:

“Ông Việt kiều dê con Hai Ngân, ổng cho nó 100 đô lận, tụi bay ơi.” Mọi người xôn xao, đám ăn xin, những người bán quán, những người ngồi quán và cả những du khách người Việt.

***

Chiếc tàu chở khách du lịch, sau khi ra giữa Biển Hồ, quay về và bất thường ghé lại bến Cá Sấu lần nữa, để cho ông Việt kiều Nam lên bến một mình theo yêu cầu của ông ta. Mấy người làm trong quán, nhận ra ngay ông Việt kiều lúc nãy, có kẻ ngạc nhiên:

“Sao chú không theo tàu về Xiêm Riệp?”

“Ghé lại đây chơi thêm một chút.” Và Nam cười cười: “Mà cũng có thể ở lại đây luôn.”

“Thiệt hay giỡn vậy chú. Ở đây buồn thiu có gì mà ở.”

Có tiếng của thằng nhỏ cụt một tay đang chèo thau từ dưới sông vang lên:

“Ổng dám ở lại đó chị Hai ơi. Ổng tính dê con Ngân đó. Hồi nãy ổng cho nó 100 đô lận, còn tui tàn tật, ổng chỉ cho một đô hà!”

Cô chủ quán đỏ rựng mặt, cũng cố quát ngang:

“Đừng nói bậy nghe Tư cụt!”

Nam không nói năng gì. Đi loanh quanh xem cá sấu, rồi ngồi nhìn sông nước, thuyền bè xuôi ngược, du khách lên xuống, rồi anh đi ra phía sau quán, nơi có mấy chiếc ghe có bàn thờ thiên đằng mũi đang đậu. Riêng chiếc ghe trước quán có vẻ sạch sẽ, phần đầu ghe có hai dãy cây trường sinh hoa đỏ, hoa vàng, hoa trắng, lá to, lá nhỏ, lá xanh, lá đỏ, lá nâu, trồng trong chậu sành vân xanh, và đầu mũi ghe, thay vì bàn thờ thiên như những thuyền chung quanh, là một tượng nữ thần Chamànda đen gầy nhom, vú vê teo xệ, rắn cuộn trên đầu, thòng trên người, cuốn dưới chân, đã thế, còn đeo nguyên vòng sọ người quanh cồ, dưới chân còn nhiều sọ người khác, trên tay còn cầm hai tay hai sọ nữa. Nam ngắm chiếc thuyền một lúc và mỉm cười. Chủ ghe là một người đàn bà. Bà đang ngồi trong khoang tối giữa nhìn ra, thấy người đàn ông sang trọng, bà nhìn ông lúc lâu, như thể nhìn mà không biết mình đang nhìn, rồi bà giật mình, vào lôi trong rương ra chiếc khăn rằn Miên đen, trùm lên đầu và che chéo một nửa khuôn mặt mình, rồi lại lục trong rương kiếm kiếm gì đó, rồi ngồi thừ suy nghĩ, cuối cùng mới hắng giọng rồi lên tiếng:

“Mời anh xuống ghe em tham quan cho biết.”

Cùng lúc đó chị chủ quán thẩm thọt:

“Ghe nhà con Ngân đó chú à!”

Lại tiếng thằng Tư cụt: “Hồi nãy tui nói đâu có sai, mà chị lại la tui!”

Còn Nam, Nam hơi có vẻ bối rối, lẩm bẩm:

“Thiệt bực mình! Chuyện không đâu, thích phiêu lưu một chút mà tùm lum chuyện” Và Nam hơi chột dạ, nhưng cũng đáp liều: “Vâng, cảm ơn.”

Lại tiếng thằng Tư cụt lẻo đẻo:

“Mấy ông Việt kiều, mở miệng là cám ơn hoài tụi bay ơi. Chú, chú cho con một đồng ăn cơm đi.”

Nam bước lên tấm ván chênh vênh bắc từ quán sang ghe. Vẫn chưa thấy người đàn bà ra đón, chỉ thấy đôi mắt sáng từ trong khoang tối, và tiếng bà ta lại vọng ra:

“Mời anh vào đây.”

Lại thằng cụt:

“Ông Việt kiều dê luôn bà Ngọc tụi bây ơi!”

***

Theo huyền thoại, các vương triều cổ Khơ Me bắt đầu từ việc phối ngẫu giữa một vị hoàng tử Ấn vị vua cha bắt đi đày khỏi kinh đô Đề Ly, với một người đàn bà rắn con gái của Vua Rắn Hổ Mang Khơ Me. Cô nàng lộng lẫy hiện ra trước mặt chàng, uốn éo trên bãi cát nơi chàng đang đóng trại qua đêm. Chàng ta lấy nàng làm vợ, và Mãng Xà Vương đó hút khô nước tạo nên đất đai, và ban cho phò mã từ xứ Ấn vùng đất mới đó, gọi là Cambuda và xây cả thủ đô cho chàng.

Nhưng theo bi ký ở Mỹ Sơn, Việt Nam, chồng của người đàn bà rắn đó lại là một người Bà la môn tên Kaundinya, dòng dõi Suryavamsa: dòng dõi Mặt Trời. Chàng ta đã ném cái lao thần, và lao đã cắm xuống kinh kỳ ở đó dòng dõi Somavamsa: dòng dõi Mặt Trăng, đang trị vì.

Một huyền thoại khác: Ông hoàng Kambu, dòng dõi Mặt Trời đã lấy tiên nữ Mera, dòng dõi Mặt Trăng, từ đó có tên Kambuja – con trai của Kambu – trở thành tên nước của người Khơ Me.

Riêng quần thể đền thờ Angkor mà thôi rộng 300 cây số vuông, nhưng toàn vùng văn hóa cổ này rộng tới 5000 csv – trong số đó là 100 csv, từ Biển Hồ Tonle Sap cho tới dãy đồi Kuken vốn là một vùng phố xá – làm thành một thành phố rộng nhất trước thời đại kỹ nghệ của nhân loại. Thành phố lớn được thiết lập ở Angkor, không vì mục đích văn hóa, tôn giáo, nhưng vì tiềm năng nông nghiệp, bởi Angkor nằm trên vùng đất trủng lớn có Biển Hồ và dãy đồi Kulen vây quanh, và nó được tưới, tiêu bởi những phụ lưu của sông Xiêm Riệp. Người Khơ Me đã xây dựng một loạt những bể chứa nước, đê điều lớn, hệ thống kinh rạch, và cùng với Biển Hồ, điều hòa, cung cấp nước cho ruộng vườn vào mùa mưa, cũng như mùa khô.

Khu Angkor được xây dựng từ năm 879 – 1191, và vương quốc Khờ me đã hiện diện ở đó từ 802 -1431. Thời gian các đền thờ được xây cũng là thới gian cực thịnh dưới thời hai vua Suryavarman II và vua Jayavarman VII. Vương quốc trải dài từ Nam Việt Nam tới Vân Nam, Trung Quốc, và từ biên giới phía tây Việt Nam tới vịnh Bengal. Vua Jayavarma VII, có lẽ vì phung phí tài sản quốc gia tới mức khánh kiệt để xây cất đền thờ, đã làm cho dân bất mãn, và cũng vì đó hệ thống dẫn thủy nhập điền không được tu sửa. Có thuyết còn cho rằng vì động đất phá vỡ hệ thống đê điều, và tạo nên lũ lụt tràn ngập khu Angkor, do đó tàn phá môi trường sống và bệnh dịch bộc phát. Ngoài ra, cuối thế kỷ thứ 13 tới đầu thế kỷ thứ 14 dân Khơ Me từ Ấn giáo chuyển sang Phật giáo tiểu thừa; như thế, người cai trị phải tìm ra những biện pháp mới để thống nhất lòng dân và cai trị họ, và dĩ nhiên phải có đối kháng. Trong khi có những thay đổi như thế, các lân bang cũng mạnh lên và họ bắt đầu tấn công Angkor. Cuối cùng năm 1431, vua Thái Ayuttaya bao vây và chiếm được Angkor sau sáu tháng bao vây. Năm 1432 người Khơ Me dời thủ đô về phía nam, nhưng đế quốc Khơ Me không bao giờ có được cái vinh quang thủa trước.

Riêng đền Angkor Wat có hình chữ nhật kích thước 1500m x 1300m, với vòng hào rộng 190m, chiếm tới 200 hecta. Đây là đền lớn nhất trong nhóm đền Angkor và nằm phía Nam của đền chính là Angkor Thom. Ngoài ra còn có một hệ thống cung cấp nước cho thành phố Angkor phân nhánh ra ngoài thành phố, dài từ 20 tới 25 km. Và mới đây, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã chụp không ảnh bằng rađa và khám phá thêm được ít nhất phế tích 74 đền thờ và hệ thống kinh rạch được qui hoạch công phu, bị chôn vùi trong khu rừng chung quanh khu Angkor hiện tại; toàn thành phố Angkor xưa chiếm một diện tích tới 1000 csv, rộng cỡ thành phố Los Angeles…

Nam ngồi trước mũi ghe đọc những thông tin về Angkor như thế, sau khi trò chuyện với Ngọc một lúc lâu đủ mọi thứ chuyện ở đây: về đời sống của hai người, lịch sử vinh quang mà tang thương của Cam Bốt, về người Căm Bốt, về người Việt ở Căm Bốt, và về cuộc sống của họ ở Biển Hồ, và Ngọc cũng cho biết đứa con gái may mắn lúc nãy là Ngân, con cũa chị

Con bé Ngân nghe tin ông Việt kiều xuống ghe mình, nó chèo xuồng về ngay, và bây giờ đang loay hoay pha trà, mua bánh đậu xanh, chưng ra đĩa, và khép nép bưng lại cho Nam. Nó mặc bộ đồ bộ mới hồng cánh sen, tay vừa mới lồng cái vòng cẩm thạch không biết thật hay giả, nhưng xanh xanh như một mảnh thiên nhiên bình yên trên màu da cườm tay trắng muốt chưa quên địa đàng, lại còn đôi bông hạt ngọc trai (chắc là giả) hiền hậu màu mặt trăng một sáng trên biển lặng, và ngồi khép nép trên góc chiếu cói hoa mới, còn thơm mùi cỏ được nắng. Trong khoang là êm ái, bình an, khác với đầu mũi ghê sợ bên ngoài.

Trời đã tối, Nam nhìn Ngân, thấy Ngân long lanh trong đêm, nhưng chị Ngọc lại như tan trong bóng mờ. Nam nhìn kỹ chị, thấy có một vết sẹo sắc lá lúa chém nghiêng dưới vành mắt phải cho tới giữa má. Anh bây giờ im lặng, hai mẹ con cũng yên lặng, khi nhình xuống chiếu, khi nhìn ra ngoài sông tối, và đôi khi cũng nhìn vào nhau, nhìn bóng tối nhau. Bỗng Nam lên tiếng:

“Giờ tôi càng thấy quyết định của tôi nán lại đây là đúng. Nãy giờ quên! Mà chồng chị đâu? Đi làm chưa về à?”

“……”

“Mà chồng chị là người Miên hay người Việt?”

Ngọc ngập ngừng:

“Người Miên…”

Nam chép miệng rồi nói:

“Ngoài con Ngân ra, anh chị có đứa nào nữa không”

“Không. Con Ngân là con của chồng trước người Việt của em. Anh thấy đó: da thịt nó trắng như con gái Việt.”

“Xin lỗi, cho tôi tò mò một chút. Thế chị ở đâu mà trôi nổi đến đây?”

Ngọc vừa nhìn mông lung ra sông tối vừa nói:

“Em từ ngoài Trung, đi thanh niên xung phong đóng ở Battambang, được mấy năm, em quen với một anh bộ đội. Rồi lỡ có con với nhau. Lúc đó chúng em nghĩ tới mình thì ít, nghĩ tới tương lai con thì nhiều, nên liều tìm đường đến Pallin để vượt biên qua Thái, nhưng mìn gài chằng chịt dọc biên giới. Ảnh bị trúng mìn chết. Còn em bị thương. Anh Thạch Sang, lúc ấy là đồn trưởng đồn biên phòng, đã cứu em, khó khăn lắm mới đưa được đưa em về đây sống chung với ảnh. Rồi em sinh ra con Ngân trên chiếc ghe này đây.”

“Ảnh giờ ở đâu?”

“Ảnh bỏ mẹ con em, lang bang từ lâu rồi.”

“Ảnh đã liều cứu chị mà…?”

“Người Miên họ chịu khó không bền, bấp bênh như lục bình, lại vô chừng vô hồi như rắn hổ mang mà tổ tiên họ thờ.”

“Ừ, tôi thấy đâu cũng có tượng rắn hổ mang đủ loại, đủ kiểu. Chị biết không khi từ cửa khẩu Mộc Bài vừa bước qua biên giới Căm Bốt, tôi thấy ngay tượng mặt thần rắn hổ mang, và dần dà tôi thấy người Khơ Me sao giống rắn hổ, nhất là mắt, đôi mắt họ hớp hồn tôi ngay? Tôi bị thôi miên vào thiên cổ. Tôi thấy đền đài Angkor là những con rắn hổ khổng lồ ngóc đầu, trương vi, trương vảy. Trong đôi mắt của những người Miên mà tôi gặp hiện lên những Angkor như thế. Rồi hàng trăm tháp đá mặt người ở đền Bayon, trong khu Angkor Thom, cũng chỉ là những chiếc đầu rắn hổ khổng lồ mang mặt người, dù đó là mặt của Phật Bà Quan Âm hay của vua Jayavarman VII đi nữa. Cái không khí đền đài nằng nặng, thâm u của màu mắt rắn, và màu mắt rắn vẫn còn ngự trị quanh Đất Nước này.”

Mặt Ngọc bỗng u ám lại, miệng móm hình tam giác, và hơi thở khò khè như đang lên cơn suyễn nặng.

Nam hoảng hốt:

“Chị sao vậy?”

Ngọc thì thào:

“Em tức ngực quá. Chỉ cần uống li nước lạnh, và đắp lá sống đời… à quên, á ớt… lên ngực là em đỡ ngay thôi. “

Con Ngân chạy ra ngoài lu, múc ly nước mưa cho Ngọc. Ngân khom người chui ra khỏi khoang, quay lại nhìn về hướng Nam đang ngồi, rồi xuống xuồng chèo đi xin lá ớt.

Nam trở nên băn khoăn:

“Sống như thế này, lâu nay hai mẹ con lấy gì mà sống?”

Ngọc thở hắt hơi ra:

“Cũng phải sống thôi. Hồi rước có bà con giúp đỡ, và em lê lết chèo xuồng bán bậy bạ, rồi cũng qua được. Giờ nó lớn, nó ngày cứ chèo xuồng xin tiền du khách. Được cái nó trắng trẻo, nhiều người thương, nên cũng không đến nỗi nào. Nhưng đi xin cả mấy năm nay, chỉ có hôm nay có anh là người cho nó nhiều nhất. Nó mừng run người anh ạ.”

“Chẳng qua lúc đó tôi hết tiền lẻ, mà thấy con nhỏ tội nghiệp quá, không cho không được.”

Ngọc trong tư thế như đang qùi nhích nhích lại phía Nam, chộp lấy tay Nam:

“Em nói thiệt nghe. Mà anh đừng giận.”

“Thì cứ nói đi cái đã.”

“Hay là anh cứ ở lại đây với mẹ con em đi.”

“Thì phải xem sao cái đã. Tôi thì không sao nhưng còn chị…”

“Xem sao gì anh? Kệ người ta, dân giang hồ tứ chiếng mà! Mình sao có trời biét”

Rồi Ngọc nắm lấy tay Ngọc, nắm chặt, và áp vào trán mình:

“Hay là… anh đã thương con em thì thương cho trót: em gã nó cho anh, anh đưa nó qua bển, mẹ con em đội ơn anh mãn kiếp.”

Nam không tõ vẻ gì ngạc nhiên.

Yên lặng một lúc lâu…

Ngọc lại van vĩ:

“Đời em thì như vứt rồi. Còn đời con em. Anh không lấy, thì nó cũng lấy những đứa không ra gì ở đây, chưa tính là chuyện nó bị hiếp, nó bị hiếp mấy lần, may nó có chèo táng bọn nó rồi thoát thân. Nó cứ ngồi im lạng nhìn anh, anh không thấy sao?

Nam, giọng tính toán:

“Để tôi xem sao đã.”

“Anh chưa có vợ, hay có vợ mà ly dị rồi phải không?“

“Ngân còn nhỏ tuổi, chưa được đâu”

Ngọc cười lớn, đổi cung:

“Vậy là anh ưng nó rồi phải không?”

“……”

“Anh ưng nó, chờ nó đủ tuổi rồi cưới có sao đâu?”

“Bậy, nó thế nào chẳng chê tôi già rồi!”

“Anh mà già gì. Mấy thằng con trai ở đây dù mới mười tám đôi mươi mà đen như trâu thui, da dẻ lùi xùi, xình lầy bám vào từng lổ chân lông, tụi nó sao bằng anh được.”

Nam nuốt nước bọt. Lặng trân. Rồi nói:

“Mà chị nói vậy, chắc gì nó đã ưng tôi.”

“Sao lại không? Con tui, tui biết. Anh không thấy, nó thấy anh vô nó thẹn thẹn thùng thùng, thay áo mới, tíu tít nấu trà, mua bánh cho anh hay sao? Ở đây con nít lấy ông già hà rầm, huống gì anh, anh già tuổi, chơ người anh đâu có già.”

 

.***

Cái làng nhỏ nơi Thảo và Nam sống là một làng tương đối yên ổn trong suốt cuộc chiến. Những người di cư vào đó năm đầu, năm sau nhà ai cũng có bò, trong khi dân địa phương chỉ nuôi trâu, nuôi hàng đoàn. Nuôi bò sạch hơn nuôi trâu, mà lại có thể bán được, trong khi thịt trâu chẳng mấy ai ăn. Cày của dân địa phương là cày chìa vôi, cày một, vác đi vác về dễ dàng, còn người địa phương lại cày trâu, cày đôi nặng nề, cày xong phải để lại. Gánh chè xôi nước bà Năm Đá làng bên cạnh gánh thẳng vào xóm địa phương, không bao giờ ngừng lại ở xóm di cư làm chi cho mất công. Chuyện gán lúa non ăn hàng là điều quái gỡ đối với dân xóm di cư. Có lẽ vì thế mà những ngôi nhà gạch quét vôi sạch sẽ, cao ráo thay dần những nhà vách đất, mái tranh ở xóm di cư, trong khi xóm địa phương những mái nhà dân tộc vẫn đời đời như thế với dân tộc. Dân di cư theo ngụy, theo đế quốc Mỹ, chống cọng, dân địa phương vào rừng, hoặc lén lút tiếp tế cho giải phóng!

Thảo, người con gái dân địa phương đó, học tới lớp nhất với Nam. Thằng Đực người địa phương đánh Nam, chỉ có con Hai Thảo là can được. Đánh nhiều lần và can nhiều lần. Cắp đôi cắp lứa Thảo với Nam là chuyện đương nhiên, mặc cho thằng Đực bô bô: “Cái thằng Nam đầu to, c. như con trùn đấc mà làm được c. gì.” Có bữa mấy đứa cùng lớp đi hái trái bình bát sau trường, Nam bị rắn cắn, mấy đứa con trai hốt hoảng, nhưng Thảo bình tĩnh bảo Nam nằm xuống, và đưa miệng hút ngay vết thương, nhổ ra, rồi bứt mấy lá sống đời nhai, đáp lên cho Nam. Rồi biểu thằng Đực đua tay giữ lá sống đời khỏi rơi khỏi vết cắn, nó chạy nhanh về nhà lấy xi ranh có chứa sẵn thuốc chống rắn lính Mỹ mới có, chạy nhanh đến trường, lụi đại cạnh vết cắn, và bơm thuốc. Vết cắn sau đó chỉ sưng lên chút đĩnh, rồi lành hẳn. Ba Thảo bày cho Nga đó, Thảo nói khi mấy bửa sau đi học, Nam hỏi. Mẹ Nam mừng. Tuần sau anh Nam đi lính thám báo trên quận ghé thăm nhà, mẹ Nam kể cho anh của Nam nghe. Anh ta đanh mặt lại, không nói gì. Rồi một hôm cảnh sát chìm bắt được mẹ Thảo đang gánh gạo, đường vào rừng, không có thuốc tây, và bắt ngay mẹ Thảo. Ba Thảo đang đánh trâu chở be trong từng, biết tin chạy vào rừng luôn.

Thế là bắt đầu những ngày khổ sở cho gia đình Thảo, một gia đình tương đối khá giả vì có ruộng nhiều, trâu nhiều. Mẹ Thảo được thả về, nhưng bà không thể thay thế được ông. Ruộng bán dần, trâu cũng vậy. Thảo không còn được đi học. Nam ra tỉnh học. Thảo ngày ngày gánh đậu hủ đi bán. Gánh qua nhà Nam, không bao giờ rao. Nam về nghỉ Tết, nghĩ hè, nằm võng trước hiên đọc sách, Thảo gánh đậu hủ đi qua, Thảo nhìn vào, vẫn không rao. Ngày nào cũng vậy. “Cái tụi địa phương, ngu như bò, theo cọng sản làm chi cho khổ.” – Ba Nam nói – “Mình ở ngoài Bắc vào, biết tụi cọng sản ra sao rồi, nói vẫn không nghe. Có ngày tụi nó tróc của, giam tù rồi mới trắng mắt ra.” Và Nam bận học, bận bịu ước vọng, và cái vô ơn, chóng quên ơn vốn là lẽ thường tình nơi tuổi trẻ, có lẽ thế. Nhưng Thảo không có được tuổi trẻ, nó đã lớn từ lâu, từ ngày còn học với tiểu học với Nam, và về sau tan nát gia đình vì Nam, đó là theo sự suy đoán của gia đình Thảo.

Rồi cách mạng thành công. Rồi ba Thảo trở về. Ba làm lớn trong huyện. Thảo làm lớn trong xã. Và tội tày trời còn sờ ra đó. Anh Nam đi cải tạo mút chỉ và Nam cũng bị trói dẫn lên trại giam huyện. (Ba Nam khi đó đã mất). Thảo ra đứng trông theo, mấy đứa du kích, mấy đứa công an áo vàng (người địa phương) cười cười, đụ má đụ mẹ cái dân di cư. Thảo cũng mặc áo công an.

Nam nằm biệt giam, tuyệt đối không được ai nhận thăm nuôi theo chỉ thị của giám thị gian ác, thâm hiểm Quảng. Nhưng bất ngờ ngày 28 tết, lại nhận được một gói quà tay công an trẻ coi khu biệt giam lén đưa vào, khi buồng chỉ có Nam: một một bịch thịt trâu, một gói trà, mấy cái bánh đậu xanh, và cuốn truyện ngắn của Maxim Gócki. Nam mở ngay cuốn sách, nhưng thấy trang đầu ghi tựa đề cuốn truyện, bị xé đi, và trang vốn liền với trang bị xé, rớt ra. Chắc người gởi, viết gì đó nơi trang đầu nên bị (những) kẻ trung gian xé. Tay công an đưa gói quà mà hằm hằm, như thể phải làm một việc hắn bó buộc phải làm.

Nam ở tù năm năm mới về. Về, làng đã vào hợp tác xã trăm phần trăm, tiêu điều và đói hơn xưa, đói nhiều. Cách mạng thành công; vượt biên trường kỳ. Từ giả hợp tác, đi. Có người vui lớn, vì người nhà đã đi lọt, có người buồn vì chính mình còn vẫn phải ở lại, vào tù. Khổ trong, khổ cho người ngoài. Dân địa phương vẫn cờ đầu cho những công trình thủy lợi ruồi bu. Dân di cư, bị bắt, bị đánh, bị bắn, vẫn luồn lách như chạch, tiếp tục ba lốc vượt biên.

Thảo sau đó nghe nói đi học trường đảng, hay thuyên chuyển công tác đâu đó. Lâu lắm không thây về. Có người nói con nhỏ nay làm lớn đâu tận Hà Nội!!! Có đứa xấu mồm nói con nhỏ chửa hoang, xấu hổ bỏ xứ mà đi.

Nam vuợt biên tiếp, và lọt.

***

Sau ba năm chờ đợi cho Ngân đủ mười tám tuổi, Nam cưới và bảo lãnh Ngân sang Na Uy. Nói là vì con nhỏ vì con nhỏ xinh đẹp, trẻ măng dĩ nhiên là đúng, nhưng vì con nhỏ hiền lành quê mùa cũng không sai, bởi Nam quá ngán những người đàn bà trí thức ta đây, lắm chuyện, thường là chuyện hởm hĩnh. Nếu nói về hạnh phúc, lẫn nỗi khổ của một người đàn ông năm mươi lấy cô gái mười tám xinh đẹp như Ngân, thì phải cần mấy trăm trang nữa mới kể đủ. Nhưng nói chung chung thì như ông bà ta nói xưa vẫn đúng: Chồng già, vợ trẻ là tiên trên đời; tiên cho cả hai chứ không phải chỉ cho mình Nam, vì Nam là dân thể thao cao ráo, lực lưỡng, da chưa nhăn, tóc còn đen, lại ở một đất nước, ở đó người ta quan niệm tuổi năm mươi mới là tuổi đáng sống. Có những lúc cuồng nhiệt chuyện vợ chồng, nhưng cững có những lúc yên lặng nằm co mềm mại, lười lĩnh trong lòng Nam khi Nam đọc sách, nàng Triệu Vân của Bạch Cư Dị cũng miêu khả tú đến thế là cùng. Nhưng thấy cô nàng rất ít nói trên giường, cũng như bên bàn. Có lẽ cô nàng biết rất ít tiếng Việt. Những lúc nói chuyện với mẹ, Ngân líu lo tiếng Miên với mẹ. Hai người nói với nhau rất lâu. Ngân đi học tiếng Na Uy, nói lỏm bỏm, rồi nhờ ông Johanson giới thiệp với con cháu, con bạn của ông, Ngân mới một năm đã nói khá giỏi. Và bắt đầu ăn mặc theo tuổi trẻ. Ngân đã đẹp lại đẹp hơn. Ông bà Johanson mừng cho Ngân và bảo Nam may mắn lắm, ở Na Uy chỉ có lấy mấy bà già. Ngân vui với cảnh sồng mới trong đât nước mới.

Ngân định cư được ba năm, thì được phép định cư vĩnh viễn. Ngân gọi điện thoại về cho mẹ mình. Ngọc mừng lắm. Mấy hôm sau, Ngọc lại kêu Nam về thăm lại Angkor, vì người ta mới khai quật được nhiều di tích mới trung rừng quanh khi Angkor hiện tại, không thấy nói năng gì đến Ngân con mình. Lúc ấy cũng vào dịp nghỉ Đông, ông bà Johanson dự tính qua nước Băng Đảo xem cảnh và nhất là tắm suối nước nóng lộ thiên giữa mùa đông tuyết trắng, và rủ Ngân, Nam cùng đi. Có gia đình mấy người bạn cùng đi. Ngân rất vui, xin phép Nam đi Băng Đảo, không có vẻ háo hức gì chuyện về thăm quê, trong khi Nam lại thích đi Angkor hơn.

Anna biết Nam đi, nhân tiện cũng sẽ đi với Nam qua Căm Bốt, để xem xét tình hình thực tế của một số trẻ em mà chương trình Plan trợ giúp, để trợ giúp các em có hiệu quả hơn. Ngoài ra lần này, sau khi nghe Nam nói về tình trạng các em bé thất học ở Biển Hồ, cô đã quyên góp được một số tiền từ những người quen biết, để đến đó làm thêm một ngôi trường nhỏ như gợi ý của Nam từ lâu.

Anna đến là mê ngay Angkor và Biển Hồ và vui vì có dịp thực hiện được dự định từ thiện ý nghĩa. Anna và Nam cùng đến thăm Ngọc. Ngọc có vẻ đầy đặn, tươi tốt ra, tuy cũng vẫn cứ che mặt như một người Miên Hồi Giáo chính thống, và Ngọc cũng mới chuyển qua ghe mới mua, lớn, khang trang hơn, có treo những đèn lồng đỏ, mùng màn đôi trắng tinh, làm người ta có cảm tưởng đang ở trong thuyền hoa của một thủa nào Đường thi. Anna cứ trầm trồ mãi. Anna hay cầm tay Nam như những ngày anh ở chung với ông bà Johanson, những lần cô đến chơi. Rồi hai người lại vội trở lại Xiêm Riệp để có đủ thời giờ xem kỹ Angkor theo sơ đồ hướng dẫn trong cuốn La guide d’Angkor: les monuments du groupe d’Angkor của Maurice Glaize. “Con Ngân không về cũng phải, anh bận bịu như thế kia!” Ngọc có lúc kéo Nam ra nói riêng như vậy.

Coi xong Angkor, và dựng xong ngôi trường nổi, Anna đi qua Thái chơi. Nam vẫn ở lại khách sạn ở Xiêm Riệp, thỉnh thoảng đến thăm Ngọc. Ngọc, cơn đau lại tái phát, có vẻ trầm trọng hơn lúc trước: oằn người, rên như rít, xùi bọt mép, tay cào. Nam muốn đưa đi bệnh viện, nhưng Ngọc không muốn. Nam đi thăm dần phế tích các ngôi đền nhỏ mới phát hiện, và sung sướng say mê đọc văn bia bằng tiếng vedic sankrit hoặc pali, phần thưởng sau những năm chuyên cần học.

Nhưng hôm hăm tám, tháng chạp, Nam đến thăm lần nữa, thì Ngọc đã khoẻ và chuyện trò bình thường. Anh chồng của Ngọc, Thạch Sang, loanh quanh ngoài quán, có vẻ lảng tránh.

Nam bảo là Nam sau Tết sẽ trở lại Na Uy, và tính chiều ba mươi vào đọc bia ở ngôi đền Wat Phu thờ thần hủy diệt Siva mà người ta hàng năm thọc tiết trâu tế thần, và rảy máu xuống đất để cầu cho trúng mùa, và luôn thể anh đóng trại đêm ở đó đón giao thừa. Ngọc ngỏ ý muốn Nam ở lại đón giao thừa với Ngọc ở Biển Hồ. Nam ngần ngại, nhưng rồi khéo léo từ chối: anh thích ở một mình đêm giao thừa một thói quen anh vẫn giữ từ nhiều năm nay.

“Anh có đón một mình đâu, anh đón giao thừa với nữ thần gì đó kia mà! Anh coi bức tượng đá hơn Ngọc sao? Ở lại với Ngọc đi!” – Ngọc lại qùi trước mặt Nam van xin, và và một tay nắm tay Nam dí dí xoay xoay vào ngực mình, một tay hất tung chiếc khăn lụa ra, và nói:

“Anh có nhận ra em à ai không?”

“Tôi đã biết Ngọc là ai? Từ khi tôi bước xuống ghe này.” Và mặt Nam đanh lại.

Ngọc ôm mặt khóc lớn. Mắt loé sáng, Ngọc bặm môi, chùi nước mắt:

“Anh đi kẻo trời tối.”

Sau Tết không thấy Nam trở lại. Có mấy anh sinh viên người Pháp đến đền thấy Nam nằm chết trần truồng gục mặt xuống đất trong một ngôi đền hoang kể trên, mà trên tường là các bức chạm nổi lớn cỡ người thật các nàng apsara vú vê thánh thiện, dâm dâm, nham hiểm có đủ. Người ta còn kiếm thấy được cuốn sổ của Nam ghi các văn bia và các trang anh dịch những văn bia trong các ngôi đền khác nhau mà anh đã đến xem, trong đó có một câu sấm, có ghi rõ là từ tấm bia trong ngôi đền kể trên, được anh dịch thoát bằng câu ca dao như sau: Đàn ông nông nổi giếng khơi/ Đàn bà sâu sắc như khơi đựng trầu . Hai câu thơ được anh gạch dưới bằng mực đỏ mấy lần.

Người Việt ở bến Cá Sấu bàn tán xôn xao về cái chết của Nam. Phần nhiều thương cho ông Việt kiều tốt bụng.

Nhưng có bà già, mắt hấp háy:

Tượng thờ dù đổ vẫn thiên/ Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ.” Chốn tôn nghiêm ai đời lại làm cái chuyện tồi bại như vậy, mà lại với thần, với thánh.”

Hay như chị bán quán:

“Cái thằng Thạch Sang, nghe bà Ngọc có tiền Việt kiều bò về, bà Ngọc cho ăn nhậu ngập mổm, thằng chả còn bày đặt chửi Việt kiều mất nết. Bã nín khe. Bà Ngọc thiệt lạ!”

Ông chủ nuôi cá sấu:

“Bã chắc bị chiến tranh đau khổ nhiều quá, sinh mát mát. Bạn tui có mấy đứa con gái cũng bị như vậy.”

Có ông già có vẻ nhà nho, đang ngồi nhâm nhi nước trà, thở dài: “Can qua, thiên địa còn phải lệch, huống phận nữ nhi.”

Nhưng thằng Tư cụt vẫn nổi đình nổi đám nhất:

“Cái lão Việt kiều già dịch: Chơi bà Ngọc, chơi con Ngân, lại còn đưa bà Mỹ về nháng. Chết là đáng đời.”

Khoảng một tháng sau, có chàng luật sư trẻ, xuất sắc của hãng bảo hiểm Na Uy mà Nam mua bảo hiểm, cũng là bồ mới toanh của Ngân, sang Xiêm Riệp điều tra, cho biết rằng bác sĩ giảo nghiệm xác định là Nam Van Nguyen đã bị ít nhất hai con rắn hổ cắn. Và cảnh sát cũng cho biết là không biết bằng cách nào chúng đã chui vào được lều chuyên đi rừng nhiệt đới của đương sự và cắn đương sự, dù đương sự chắc chắn phải kéo kín màn cửa lều và cửa mùng lại để ngủ, bởi ở đó rắn rít nhiều và muỗi thì như trấu vãi, và đương sự đã cẩn thận xịt thuốc xua rắn rít với liều lượng cao quanh lều. Ngoài ra còn có dấu chân trần, xiêu vẹo của đương sự, chứng tỏ đương sự hốt hoảng vùng thoát ra ngoài, rồi chạy vào đền sát lều và chết gục ở đó, trái lại hai con rắn ấy, mãi tới khi cảnh sát đến, vẫn còn nằm khoanh trong lều, núc ních, bóng lưỡng.

***

Tái bút: Sau khi viết xong truyện nào, tôi cũng gởi cho một anh bạn văn của tôi, để anh cho ý kiến. Trước đây anh chê tôi cứ hay chêm lời ca của người khác vào truyện, vì anh cho thế là lười suy nghĩ, và làm cho bài văn diêm dúa, ỏng ẹo. Anh dọa là nếu cứ viết như thế, anh sẽ không thèm đọc nữa. Lần này, trái lại, anh lại gởi điện thư cho tôi: “Đọc xong truyện này độc giả nên ngâm nga ít nhất mấy câu đầu bài Tạ Ơn của Trịnh Công Sơn, ắt sẽ được giải thoát khỏi Angkor Môn.”

Tôi xin ghi ra đây nguyên ý anh như thế. Và tiện đây tôi cũng ghi sẵn những câu đầu bài hát ấy ấy:

Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời, tạ ơn ai đã đưa em về chốn này, tôi xây mãi cuộc vui.
Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người,tạ ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi còn thấy những ngày ngồi mơ ước cùng người.

 

Oslo, 15 XI 2008

 

 

 

 

Nguyễn Văn Thực sitt bilde.

Với Julius Ceasar: Vini, vidi, vici: Ta đã đến, đã thấy, đã thắng. Roma, Hè 2014

 

Nguyễn Văn Thà:

Tên thiệt là Nguyễn Văn Thực, sinh ngày 16, tháng Chạp, năm Giáp Ngọ (9. 1. 55), trên một chiếc thuyền chở cam, đầu nguồn sông Gianh nhiều trăng. Con thứ tư của một gia đình 10 người con, 6 gái 4 trai. Ðược bồng vào Nam, 1955, (chỉ còn một tháng nữa là đóng cửa giới tuyến). Nhà nghèo, nên chỉ mình Thà được đi học, vì là con trai trưởng và, theo lời cha xứ Cao Vĩnh Phan, là thằng thông minh. Ðược cho đi tu học dòng khổ tu Xi tô, nhập hàng gíao sĩ Công giáo (1966 – 1975) thuộc địa phận Phan Thiết và dạy học tại tiểu chủng viện Tinh Hoa 1974 . Học triết học và chữ Hán tại đại học Văn Khoa Sài Gòn, 1973 – 1975, (chưa tốt nghiệp). Tù vì vượt biên ở Hàm Tân, 1979 – 1981. Vượt biên và định cư ở Na Uy, 1989. Học chữ Nhật và tốt nghiệp tại đại học Oslo, 1995. Ðọc hiểu chữ Hán, và một số ngôn ngữ chính của châu Âu…. Ðang làm công nhân bưu điện ở Oslo.

Ðã ra:

– Truyện dịch Sao Chúa Mãi Im (Trầm Mặc, truyện dài của Viễn Ðằng Chu Tác, Nhật Bản), 1999.

– Truyện dịch Bên Giòng Sông Hằng (Thâm Hà, cùng tác giả), 2001.

– Tuyển tập truyện ngắn Người Thích Nhìn Vú, 2003.

Sẽ ra:

– Tuyển tập truyện ngắn Nhật Bản.

– Thơ Nguyễn Văn Thực

– Ðĩa CD  Ca khúc Nguyễn Văn Thực

 

Bìa sau

 

 

 

Tặng MM, cánh cò phương Bắc

 

  1. Có Sợ Thuồng Luồng Chăng

Có người lặn  xuống biển sâu

tìm rong rêu

Có người tìm vực sâu

đọc kinh

giữa tiếng chim kêu

Mùa xuân nhiệm mầu

Người thế quên dần hơi thở

quên mình cỏ lá qua mau

 

Ðôi khi nghe sóng lăn trên má

lăn về những nẻo đường xưa:

chuông, cỏ dại, chiến trường

xông xáo vạch đường

Rồi

khép cửa

Sợ ho

 

Thôi thì thôi trở lại trang kinh

đọc một mình

Mà bình minh sao keo kiết

 

Ôi những kẻ xâm mình lặn

có sợ thuồng luồng chăng

  1. Vỏ Sò

 

Những vỏ sò

Mòn mỏi dịu dàng

Cửa biển

Những đường cong vĩnh viễn an bài

như muôn loài

của biển

Lượn cát trắng

Linh hồn rút ruột phơi

Còng cõng áng mây lặng

Tóc mẹ hai mùa mưa nắng

gánh tuổi trời nắng loá bãi dương xanh

Thuyền thúng xoay quanh

Những chật vật đen

Kinh cầu triền miên

Cá tôm con cái

Mộ trắng điệp trùng

Biển xanh lải nhải

 

  1. Ngày / Ðêm

 

Ngày lém lỉnh như một tấm huy chương

Nó chiếm cho mình quá nhiều vinh dự:

ánh sáng chim hót châu báu cỏ sương…

Ngày hèn hạ tựa một tên trộm đêm

vừa vơ vét vừa đường hoàng bật diện

Ðêm tĩnh bơ như mặt kim loại phẳng

Những tầng điện tử chạy như điên.

 

  1. Thơ Cỏ

 

Bài thơ tôi nhỏ

như tiếng dế đêm

cõng sương chưa nhỏ

tưới cỏ bên thềm

 

Bài thơ khốn khổ

bám lấy cuộc tình

quanh năm lổ chổ

những dấu đóng đinh

 

Bài thơ chối luật

nâng chổi hiện sinh

Nhắm mắt chật vật

Mở mắt quyên sinh

 

  1. Bergen

 

Lang thang thành phố nhỏ

Mưa  nhiều sợi trên đầu

Cửa sổ ai bỏ ngõ

chờ gió giữa đêm sâu

 

Loáng thoáng người không quen

Dăm ba mặt nhăn nhó

Mưa đan áo cột đèn

làm quen khách qua phố

 

Ðêm ngày phố vẫn thế

Bạc trắng cả mái đầu

Bát canh rau của mẹ

Tìm đâu

Ta

Tìm  đâu

 

  1. Mừng Bạn Bảy Mươi

 

Tình nhân một lủ rủ đi chơi

Âm Dương phút chốc hoá thành người

Bầu thai be bé trời trăng đủ

xé toạc Càn Khôn ra với đời

Ðời người ba vạn sáu ngàn ngày

Sống được bảy mươi kể là hay

Áng chừng chín trăm mùa trăng rụng

Hứng được bao nhiêu trăng trên tay

 

  1. Nằm Lều

 

Lá chở những nốt nhạc đêm qua nằm chờ

Lặng long lanh chẳng nói gì nhiều

Thẳm sâu mắt em nỗi nhớ

 

Mới đêm qua đây thôi thầm thì cơn mưa hạ

Nở bung những chiếc lá từ tâm rất lạ

Mới đêm qua đây thôi lời vô ngôn vực sâu

động lòng hoa cả và thiên hạ

Ðồng hoang anh nhã nhạc nghìn câu

Anh trùm chăn răn đe khe suối

Chớ lao xao phá vỡõ nhiệm mầu

 

Lá hứng những thiên thâu đêm qua

trải đường gân trăm lá

Và anh nằm đây

vất vưởng đâu đâu

 

  1. Nhớ Cát Sông Hằng

 

Chiều về

Trăng cũng về

Thuyền thúng và những con mực phơi

ngửa mình hứng

Còng vẫn lăm nhăm mật ngữ

chờ nguyệt ngời soi tỏ mộng phù sinh

Cát cởi áo mặt trời

nằm lả lơi

uống ngọt ngào tiếng sóng vừa yên vọng động

Phải chăng cát sông Hằng

Bóng người chật vật đổi áo

Phải chăng sóng sông Hằng

Tay lửa đưa người bụi trùng dương

 

  1. Tình Gần                                 

 

Trời bình thường tiếng chim bay ngang nhà

Ngàn ưu phiền lòng mở cửa cho ra

Ngàn ưu phiền một thoáng cũng bay xa

Bay xa chiều xuống mang theo tình gần

 

Trời bình thường nắng hắt ngang mái đầu

Ngày an lành lòng sách cũ hương xa

Ngày an lành mặc áo mới đeo hoa

Ðeo hoa ngày sau

 

Tôi dâng em dâng em nụ cười

Nụ cười chưa tươi nụ cười chơi vơi

Tôi dâng em dâng em nụ hồng

Nụ hồng long đong

từ tấm lòng từ bi

 

Ngày bình thường tiếng thơ quanh hương người

Người thương người ngày đắng đót chưa vơi

Người thương người cười khúc khích đêm trôi

Ðêm trôi ngày tới mang theo lòng trời

 

Ngày bình thường tiếng chuông treo trên cành

Cành nhân tình giòng suối mát buông lơi

Cành nhân tình lòng thống hối quên nhanh

Quên nhanh tội lỗi ham mê tình trần 

 

  1. Ngày Bình Thường

 

Bắt đầu buổi sáng làn nước ấm

Li trà thơm bốc khói mặt trời

Bắt đầu buổi sáng những tiếng chim

Xe tới con đi vội tây phương

 

Bắt đầu buổi sáng nụ cười em

Ngái ngủ rất duyên đêm địa đàng

Sáng còn áo mỏng mộng êm êm

Thương em chải tóc hiền đông phương

 

Trưa thấm mệt nghe lòng trống không

Lách tách linh kiện dòng nối dòng

Con nhỏ bên cạnh tóc mới uốn

Bận quá chưa khen đợi làm xong

 

Nước mắt cay xè câu thơ cũ

Quẩn quanh đinh ốc vỏ càng dày

Thằng nhỏ cùng ca mặt ủ rủ

Vội chưa hỏi thăm đã hết ngày

 

Buổi chiều gót mỏi phố mỏng sương

Ngó vài tranh tố nữ lộc trời

Nẻo về ngỡ đã quên rồi

Vài thoáng hương qua ngọt đồi nương

 

Tối về đèn sáng giờ mới sáng

Mất vầng trăng diêm dúa mặt người

Tờ báo băn khoăn chuyện sau trước

Buổi tối âm thầm tựa quê hương

 

  1. Tôi Yêu Lòng Tôi

 

Tôi yêu lòng tôi

Như yêu vạt nắng ngoài song trăn trở non sông

và tiếng sóng dội về từ điệp trùng thế kỷ

Những bóng người long đong theo vận nước

âm thầm nối giòng lịch sử

Ở đấy có những tiếng cười ngày hội

Ở đấy có tiếng trống trận giữa khuya

Mùa tái tê mùa máu lửa

Vẫn những vạt nắng bình an

Rì rào ruộng lúa nương dâu

Chuông nhiệm mầu

từ những cội nguồn chưa pha máu

dâng đời mật ngọt chắt chiu

Nắng đã nằm đó rất lâu

Từ ngày mẹ Âu Cơ mang bầu

trăm con ước nguyện

thời gian không lịch sử cũng không

đếm hạnh phúc bằng muôn bóng nắng

Nắng vẫn nằm đó thầm lặng

Từ những ngày tiếng thét xua quân

Bốn ngàn năm vẫn chưa về tổ ấm

Mắt những người đàn bà tô đậm hoàng hôn

Bốn ngàn năm vẫn chưa về tổ ấm

Trẻ thơ lưu lạc mười phương

Bóng nắng vẫn nằm đó bình an thềm cũ

Tôi yêu lòng tôi tôi thương lịch sử

Ðất Nước

Con Người của Ðất Nước

Như bóng nắng chờ người thiên thu

 

  1. Bốn Mùa Nhớ Vợ

 

Em của anh mùa xuân

Những giọt sương đôi mắt

Em suối mới chảy quanh

Ôm đời anh chật vật

 

Em của anh mùa hạ

Nắng đổ uống no nê

Lòng trời ngực em lạ

Tinh tú vỡ đam mê

 

Em của anh mùa thu

Nắng vàng mật lá đổ

Ơn em tay võng ru

Mỉm cười thu anh ngủ

 

Em của anh mùa đông

Tiếng cười lăn tuyết trắng

Bên anh em lửa hồng

Thơm tho niềm thầm lặng

 

Bốn mùa của bảy năm

Nhìn nhau chùi nước mắt

Bốn mùa của bảy năm

Chẳng mấy khi gặp mặt

 

Bergen, 28.10.01

  

  1. Lời

 

Lời của tôi man rợ

Chửi giùm người không công

Lời tôi lời dao cứa

Lòng cha mẹ biển sông

 

Lời của tôi bợ đỡ

Hoa hồng dâng đám đông

Lời tôi lời lo sợ

thân còng lấp bể Ðông

 

Lời của tôi ngậm đỡ

những chuỗi kinh xanh xao

Thân mọn hèn lớ quớ

khi không tán Trời Cao

 

Lời của tôi ngu ngơ

loanh quanh ngục tù đá

Lời nhìn tôi tàn tạ

Lời nhìn tôi bơ vơ

 

  1. Mùa Hạ Em Hỏi Anh Nhớ Gì

 

Mùa hạ em hỏi anh nhớ gì

Anh nhớ mặt trời soi môi em đỏ

Nhớ mái tóc bồng tiếng sóng rẽ hai

Mượt mà tay ngà ngọc xanh giọt vỡ

Kiều nữ lộc trời lòng bể đầu thai

 

Nhớ gió loanh quanh ngực em bỏ ngõ

Có gió nào vượt được núi đào non

Gươm giáo trùng vây tráng sĩ tuyệt lộ

Cắn hạt đầu non / Cắn hạt cuối non

 

Và nhớ cát biển cát biển ngon

Thơm thơm ấm áp bánh mì dòn

Ăn em cát ngọt quên biển lớn

Trời xanh lồng lộng hóa con con

 

Oslo, đầu hè 2002

 

  1. Có Phải Mùa Hạ Là Một Giòng Sông

 

Em bỏ lại anh một nửa mùa hạ

nửa miếng mặt trời và nửa vành môi

bỏ mùi hương quen mỗi mùa mỗi lạ

Lạ làn da lành ngọt trắng trời trôi

Trời trôi nắng đầu đời hôn trinh trắng

Ba mươi năm nắng vẫn sáng ngập lòng

Phượng đỏ chứa chan chưa phai năm tháng

dầu dâu biển long đong

 

Em bỏ lại anh một nửa mùa hạ

nửa cái truyện ngắn, một nửa sợi thơ

Khúc kết ngọt chờ môi son triện lạ

Sợi cuối buồn đợi em tội cho thơ

Em bỏ lại anh một nửa thuyền hạ

Nửa khoang nắng buồn, nửa mái chèo trơ

 

Nhưng

Em ơi

Mùa hạ

có phải một giòng sông

 Oslo, giữa hè 02

 

 

6. Chia  Ðều

 

Từng đỉnh cây cao chia đều phép lạ

Ngọn lá xanh mềm san sẻ hồng ân

Mỗi hạt sương mai chia đều dấu lạ

Giọt nắng ngoan hiền gồm cả uy nghi:

một vầng dương

 

Từng đàn con thơ chia đều cha mẹ

Vài đứa anh hùng vài đứa tiểu nhân

Một giòng thi ca chia đều xe cộ

Vài chiếc lên trời vài chiếc vực sâu

A ha ha

 

Và ngàn câu ca bên trời thất vọng

Rộn ràng chiêng trống bên bờ vực sâu

Cúi chào vực sâu

Và ngàn than van bên đời hi vọng

Tình trần rên xiết khi mùa xuân sang

Gió ơi cội nguồn

 

Từ ngàn năm xưa chia đều số mệnh

Người chết góc rừng người sống hào hoa

Rồi ngàn năm sau vuông tròn cách mệnh

Lầu tía dăm người ngàn nấm mộ hoang

Thời thái bình chó sủa đêm trăng

 

Ðịa ngục hai bên chia đều lo sợ

Người sống trên đời, người đáy mộ sâu

Một vùng thênh thang Niết bàn chưa rạng

Một cõi Thiên đàng Thần chết hào quang

Ðời khốn khó vầng trăng chờ người

 

  1. Chiều Xanh Bất Tận

 

Chiều mênh mang như một tiếng tơ đồng

vừa buông nơi hồn tôi

Ðàn nào nơi đây bay theo lời hát

Tiếng hát nào cho anh

Tiếng hát nào cho tôi

Ðâu cánh chim ngàn khơi

 

Chiều êm êm như một thoáng ân cần

vừa lăn trong đời ai

Ðường chiều nơi đây chưa thay mầu lá

Chiếc lá nào cho anh

Chiếc lá nào cho tôi

Ôi áng mây lẻ loi

 

Hàng dậu nghiêng nghiêng xanh trời cao rộng

Và tiếng hát thiên thu vỗ về

Ngàn dặm quan san xanh tờ thư mộng

Ôi tiếng lòng thương yêu tràn trề

 

Lòng sao thương như một miếng Thiên đường

vừa rơi lịm ngọt trong lòng tôi

Lòng người nơi đây sao nhiều bão tố

Bão tố nào cho anh bão tố nào cho tôi

Tội mảnh thiên đường rơi

 

Lòng nghe thương đôi giọt nước qua cầu

dìu nhau đi qua những ngày sau

Ngày sau anh ơi bao nhiêu điều ước

Ước muốn lòng chung đôi

Ước muốn đời chung đôi

Sao vất vả tình ơi

 

  1. Bóc Bài Thơ Nhiệm Mầu

Sáng sáng anh thương em

Có con chim vườn sau

Sáng sáng anh thương em

Có con chim tìm sâu

Rộn ràng kêu nhau

An lành sương khói vừa tan

Hương hoa nội cỏ còn vương quanh giường

 

Thầm thì em yêu anh

Lá lay trong vườn trăng

Ngập ngừng làn hương em

Mới len qua lòng anh

Ngọt ngào yêu anh

Trăng vàng chăn gối nghỉ ngơi

Hương thơm ngực mới lại tuôn suối nguồn

 

Năm mươi năm thương nhau

Thơ sầu chưa kịp đọng

Bóc bài thơ nhiệm mầu

Mặc chuông chùa vọng động

  1. Cười To Trăm tiếng

 

Chiều làng nhàng

chim chở nắng vàng

cho con người vui

Chiều không tiền

bướm áo cánh tiên

người mượn đi chơi

 

Ra đầu đường cười to trăm tiếng

yêu đời mình chẳng cần kinh thư

theo giòng đời chẳng cần đeo kiếng

nhìn cuộc sống đã nư

 

Chiều thanh bình có nhiều mây đậu

thả mộng lành xúi vượt biên cương

Chiều trung bình có trời rộng lượng

che màn sớm cho người yêu nhau

 

Tối chung tình mỗi tối mỗi lạ

Ôm nguyệt mình cuội ghẹo lôi thôi

Rồi sáng tới chuông reo hối hả

Xuống cuộc đời mang đủ hương đôi

 

  1. Như Giòng Sông Xứ Việt

 

Nước mắt rơi từ khi giòng sông ra đời

đời nghe lá sinh sôi sinh sôi

Giòng sữa mẹ bao dong

Ðường cày nào long đong

như giòng sông xứ Việt

nợ nước trả quanh năm

 

Nước mắt rơi từ khi giòng sông xa người

người theo lá đơn côi đơn côi

Tình nồng tình rồi thôi

Tình buồn tình đành thôi

như giòng sông xứ Việt

nức nở chuyện nổi trôi

 

Ôi giòng sông loài người

chảy từ lòng rất thương

Ôi giòng sông tình cờ

chảy bởi lòng biết thương

Ơi giòng sông Hồng Hà

chảy từ miền máu xương

Ơi Cửu Long hiền hoà

nuôi xứ Việt tang thương

 

Nước mắt rơi từ khi giòng sông xa trời

trời theo áng mây trôi mây trôi

Kinh kệ nẻo mênh mông

Kiếm gãy lưỡõi long cong

Ôi giòng sông xứ Việt

bận bịu Ðạo, Hiếu, Trung

 

Nước mắt rơi từ khi giòng sông chây lười

lười như đá đầu non cuối non

nằm học lẽ rêu rong

khoác áo xống hư không

như giòng sông xứ Việt

mỏi mệt chuyện long nhong

 

Bergen 28. 07. 02

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Văn Thà:

Tên thiệt là Nguyễn Văn Thực, sinh ngày 16, tháng Chạp, năm Giáp Ngọ (9. 1. 55), trên một chiếc thuyền chở cam, đầu nguồn sông Gianh nhiều trăng. Con thứ tư của một gia đình 10 người con, 6 gái 4 trai. Ðược bồng vào Nam, 1955, (chỉ còn một tháng nữa là đóng cửa giới tuyến). Nhà nghèo, nên chỉ mình Thà được đi học, vì là con trai trưởng và, theo lời cha xứ Cao Vĩnh Phan, là thằng thông minh. Ðược cho đi tu học dòng Công giáo, 1966 – 1979. Học triết học ở nhà dòng;  và đại học Văn Khoa Sài Gòn, 1973 – 1975, (chưa tốt nghiệp). Tù vì vượt biên ở Hàm Tân, 1979 – 1981. Vượt biên và định cư ở Na Uy, 1989. Học chữ Nhật và tốt nghiệp tại đại học Oslo, 1995. Ðọc hiểu chữ Hán, và một số ngôn ngữ chính của châu Âu…. Ðang làm công nhân bưu điện ở Oslo.

 

Ðã ra:

– Truyện dịch Sao Chúa Mãi Im (Trầm Mặc, truyện dài của Viễn Ðằng Chu Tác, Nhật Bản), 1999.

– Truyện dịch Bên Giòng Sông Hằng (Thâm Hà, cùng tác giả), 2001.

– Tuyển tập truyện ngắn Người Thích Nhìn Vú, 2003.

Sẽ ra:

– Tuyển tập truyện ngắn Nhật Bản.

– Thơ Nguyễn Văn Thực

– Ðĩa CD  Ca khúc Nguyễn Văn Thực

 

 

 

Bìa sau

 

 

“Ðọc truyện NTNV tôi thấy rất lạ và độc đáo. Thật ra cách viết của ông chỉ mới với cái nhìn quá cổ điển và nề nếp, nhưng không mới với trào lưu văn học đương đại.” – Lê Thị Thu Ba, TK21, số 145.

 

“Lâu nay tôi để ý phần văn nghệ của tạp chí (TK21) bắt đầu đa giọng. Với sự xuất hiện của các tác giả như Nguyễn Văn Thà. Chưa được đọc nhiều, nhưng có thể nói đây là tác giả sẽ được đón đọc.” – Ðỗ Quang Nghĩa – Lê Minh Hà, TK21, số 157.

 

 

Nguyễn Văn Thà

https://image2.tin247.com/pictures/2015/06/23/ghd1435065277.jpg

 

Hình như đêm nay tóc ông Tám vừa bạc thêm. Từ bên nhà trông qua, tôi thấy ông vẫn đang lui hui bên bếp lửa ngoài trời, bếp lửa nấu bánh đêm ba mươi như mọi năm. Ông ngồi nhìn lửa, lặng lẽ như một tảng đá đen. Tối ba mươi nào ông cũng nấu một nồi bánh thật lớn và chong lửa ngồi suốt đêm ngoài trời. Ngồi một mình.

Chiều nay trong khi ăn mấy củ lang luộc, mẹ tôi có nói là đầu hôm bà vừa qua nhà ông Tám thỉnh thang thuốc.

Ðêm giao thừa năm ấy tôi uống say đến ói. Tôi loáng thoáng nghe mẹ tôi vừa cằn nhằn cho tôi uống nước khoai dong giả rượu mà tôi biết bà đã lò mò moi bên hàng, và vừa lâm râm râm đọc kinh. Ðêm ba mươi mẹ tôi đọc kinh hầu như suốt đêm, vì mẹ có nhiều người đã mất, mà mẹ lại rất hay thương, thương và nhớ rất lâu.

Một luồng gió lạnh lùa vào làm tôi rùng mình. Hình như chòm sao Liệp Hộ ngoài trời kia đang giương cung chĩa vào tôi.

***

Năm 1976, nổ ra những vụ phản động trong làng tôi. Qua kinh nghiệm đau thương ở ngoài Bắc, mẹ tôi sợ là tôi sẽ bị bắt, bởi một lẽ là tôi là kẻ có chữ, và là người duy nhất đeo kiếng. Tôi không chịu nghe lời khuyên của mẹ là nên trốn đi, vì tôi nghĩ là tôi chẳng làm gì gọi là phản động cả bởi tôi chỉ là một đứa nhát gan. Thế là ở tù. Mười 30/4. Mười 1/5. Mười 19/8. Mười 2/9… Tôi được thả ra khỏi tù vào ngày sinh HCM, bác của mấy đồng chí giam tôi. Hồi còn bé cha xứ tôi vẫn dạy là hễ ‘ai xin thì sẽ được; ai gõ cửa, cửa sẽ mở.’ Không biết chuyện tôi được thả do công ai. Do mấy cháu của HCM rộng lòng thương hay, như các cha xứ, hoặc như lời mẹ tôi, lặp lại lời mấy cha, là Chúa đã dun dủi lòng mấy ông ấy cho tôi về. Tôi không bận tâm nhiều về những chuyện đó nữa. Tôi chỉ biết tôi được ra khỏi tù hay, nói rõ hơn, ra khỏi chổ tập trung nhiều người nhất thế gian, chổ nằm nhỏ nhất, hạt cơm ít nhất, muối ít nhất, cầu tiêu hôi cũng hôi nhất, giẻ chùi đít mục nhất. Tôi thoát ra được những cái nhất thế gian đó, mừng lắm, nhưng mừng nhất vẫn là được thoát khỏi cái thế giới người tệ và hại nhất thế giới của hồi đó, của bây giờ và của mãi mãi.

Giữa giấc ngủ trưa vàng khè, chập chờn, rã rượi, tôi đã gặp được Nhàn dưới cây mận hồng đào tán lá xanh mướt trỉu những chùm trái đỏ au diêm dúa khác thường giữa một buổi trưa khô khốc, bụi bặm. Nhàn là con gái của ông Tám hàng xóm. Con nhỏ đã lớn trộng không ngờ. Ðẹp và tươi mát mạnh khoẻ như thể những cay nghiệt khốn khổ của những năm sau chiến cuộc không ảnh hưởng gì; ngoài ra Nhàn vẫn có cái vẻ thơ ngây hiếm hoi. Tôi mới được thả ra được mấy hôm, lại đang chẳng thích đi đâu. Chỉ tính qua thăm ông Tám, nhưng lại đang ngại. Nhàn nói là Nhàn sang đây mang cho tôi thang thuốc nam tẩy sơn lam chướng khí mà ông Tám mà mẹ tôi đã dặn; và “Ba mời anh qua chơi.”  Tôi nhìn cô bé, cảm ơn lẫn nghi ngại. Tôi không tin gì vào sự công hiệu của thuốc nam cho lắm, và tôi thấy có sống cũng chỉ kéo dài thêm phiền muộn trong cuộc đời trước đây vốn dĩ đã nhiều phiền muộn, và sau khi ở tù về, lại càng phiền muộn thêm, như những mái tranh mục muôn thuở giữa miền duyên hải đìu hiu gió cát.

Cảm ơn ông Tám và cô Nhàn. Rảnh, cô ngồi chơi, tôi nói. Em bận ra ngoài trụ sở xã vì các ảnh trên đang chờ, Nhàn nói. Tuy tôi là người sinh ra và lớn lên ở miền Trung, nhưng tôi lại rất yêu cái âm điệu trong sáng, dịu dàng của tiếng Nam, nhất là khi được một người đàn bà, và là một người đàn bà đẹp nói. Nhưng khi nghe cái từ ngữ mấy ảnh trên, dù phát ra từ môi một cô gái phải nói là khá xinh như Nhàn, tôi bỗng đâm ghét cái tiếng miền Nam ghê gớm, và dĩ nhiên tôi ghét lây người phát âm ra nó. Chỉ đợi Nhàn ra khỏi ngõ, tôi quăng ngay thang thuốc vào trong lò trấu dâm ngay. Tôi dục, vì tôi lúc này tuy yếu đuối lắm, nhưng vẫn còn đủ sức để phẫn nộ. Nhưng nghĩ cũng vô lý, thuốc là thuốc của ông Tám kiếm cho tôi, và Nhàn chỉ người đưa qua thôi, sao tôi lại vứt đi như vậy?  Vả lại chính Nhàn mới là kẻ phát âm cái tiếng mấy ảnh trên chứ đâu phải ông Tám. Ðúng là giận cá chém thớt, chém một lượt hai thớt.

Tôi mường tượng bóng dáng nhơn nhơn của Nhàn đang đi trên con đường trải đất đỏ nhão nhoẹt, đến trụ sở xã hoe hoét màu đỏ như một mụ điếm già hết thời về quê câu khách. “Mấy ảnh trên đang chờ.”   “Ð. M.   mấy ảnh! Tao đã biết mấy ảnh ra sao rồi; thằng nào cũng như thằng nấy.”

Mẹ tôi, đang ngồi nhặt sạn gạo ở trong nhà, nghe mùi thuốc cháy, hỏi vọng ra:

– Từ ơi, mi đốt cấy chi nghe mà thơm rứa? Coi chừng củi lửa! Tháng này gió bấc thổi mạnh.

– Không có chi đâu mẹ, con quăng vô lò mấy cái cọng ngãi cứu cho thơm thôi mà mẹ…

– Mi bệnh hoạn như rứa cũng phải kiếm cái chi uống chớ, chẳng lẽ nằm đó chờ chết. Hôm qua tau mới qua nhà ông Tám kể bịnh của mi, ông nói ông sẽ kiếm cách giúp, nhưng ông lại nói có lẽ cái bịnh của mi phải dùng thuốc tây mới mau lành.

– Không sao đâu mẹ.

– Tết nhất mi cũng nên qua thăm ông Tám một chút! Hồi mi còn ở trong tù, (chưa bao giờ nghe mẹ tôi dùng chữ cải tạo,) ông Tám giúp cho nhà mình nhiều lắm.

Tôi khi không nổi xùng:

– Gia đình mình? Bộ có con trong đó nữa sao?

– Có, Từ à! Mấy hủ ruốc kho sả, mấy lon gô thịt mấy bận Tết mẹ gởi nhờ người ta đưa lên cho con là của nhà ông Tám gởi cho con, chớ ai vô đó. Con Nhàn nó đưa qua cho mẹ mà. Hồi nãy mẹ nghe như có tiếng ai như tiếng con Nhàn?

– Ừ, con Nhàn.

– Mà nó đi qua có chuyện chi rứa?

– Nó đưa qua cho con thang thuốc ông Tám hốt cho con.

– Cái nhà thiệt hiền đức. Mà mi sắc chưa sao mà nghe mùi thuốc cháy?

– Chưa, con quăng mấy nhánh ngãi cứu cho thơm bếp mà mẹ!

– Thiệt hồi con đi tù, tau mỗi lần bệnh cũng nhờ của ông Tám. Nhà thiệt hiền đức.

Cũng may mẹ tôi không dài dòng kể thêm những công đức của hai cha con ông Tám. Tôi cảm thấy khó chịu một cách phi lý khi nghe chuyện công đức người này người nọ dù công đức ấy là của ông Tám. Những ngày còn bị ở trong trại tù người ta bị mang ơn nhiều không kể xiết, và người ta phải thi đua lao động để dâng lên, để tạ ơn các bác, các chú. Nhưng ở trong trại tù cái mặt của bác và cái cục đường hay lẫn lộn nhau lắm. Nhiều khi chỉ để chiếm cục đường mà người ta bày đặt ra hô hào nhiều chuyện trời bể1. Ngay cả chuyện ở tù cũng là do lòng thương của trên. Tôi mắc cái chứng nghi ngờ mọi công đức bất cứ từ đâu.

***

Hông tôi lại quặn đau từng hồi. Người bắt đầu vã mồ hôi. Tôi thấy vô số những vòng tròn bay quanh; như đang bị chôn trong bể bọt xà bông khó chịu. Có con kiến lại đang chạy lân rân trong ống quần, chưa kịp đập, đã chích một phát ngay hạ bộ. Nửa giận nửa buồn cười. Chắc chú tưởng có gì béo bở trong đó. Tôi giơ tay đập ngay chổ không nên đập. Ðau nhăn mặt. Mở mắt ra, tôi đã thấy Nhàn đứng đó tủm tỉm, tay bưng một lon gô:

– Ba em nói, thang này sẵn lửa củi ba sắc luôn cho anh cho tiện. Ba nói anh cứ uống thuốc tạm thuốc nam. Bệnh anh phải chữa bằng thuốc tây mới mau khỏi.

– Ừ, hôm qua thăm bác, bác cũng nói như vậy.

– Nghe ba em nói hình như anh sắc thuốc bị cháy thì phải.

– Sao ông Tám biết hay vậy?

– Thì gió bấc mà; bữa nào bên này bà nấu khoai cháy ở nhà em đều biết hết – Nhàn vừa nói vừa cười rúc rích.

Tôi cúi đầu không nói.

– Anh Hai à, Tết  nhứt mà sao anh lại rầu rỉ quá vậy!

– Tui có rầu rỉ gì đâu! Cho tôi gởi lời cảm ơn ông Tám nhiều, và cảm ơn cả cô nữa.

– Ðể em vô trong bếp lấy cái ly rót cho anh uống luôn.

– Thôi Nhàn cứ ngồi chơi, tôi uống ngay từ trong lon gô này cũng được.

– Nhàn nghe bà nói, hồi anh chưa đi cải tạo anh thích uống nước trà và bao giờ cũng uống trong một cái tách thiệt đẹp mà.

– Hồi trước khác; bây giờ khác mà cô.

***

Hồi còn đi học, dù học xa, mỗi cuối tuần, tôi cũng cố đạp xe về quê. Tôi thèm đêm khuya miền quê, sao tỏ ngời, trăng vàng đượm, tiếng mõ lốc cốc nhịp theo lời kinh siêu hình dẻo quánh và ngọt ngào, thơm tho như những dòng mạch nha đang chín tới. Nhưng tôi không bao giờ nghe ông Tám tụng kinh, hay đọc kinh dù cuộc sống của ông, dáng dấp của ông trông giống như một vị ẩn tu. Vào những đêm gió nam thổi nhẹ, tôi nghe mùi trà sen thoang thoảng bay trong không gian, từ nhà ông, rất khuya. Ðôi khi tôi cũng được ông mời uống trà trong hai cái tách men trắng như ngọc, hoa văn xanh đơn giản màu chuối nõn, hình như là đồ sứ Limoges2. Thấy tôi thích ông cho tôi một cái, tôi ngại. Tôi không thích số chẵn, anh lấy bớt cho tôi một cái, ông nói.

Hồi ấy tôi thấy ông Tám không làm gì nhiều; chỉ quanh quẩn chăm sóc mảnh vườn và vào rừng kiếm thuốc nam. Chẳng thấy ông giao thiệp với ai ngoại trừ với những người đến mua thuốc.

Khoảng hai năm sau ngày ông Tám tới làng, lại thấy xuất ông Tám đưa một bé gái về nuôi, lúc ấy cô bé chỉ mới khoảng ba bốn tuổi gì đó. Cô bé trắng trẻo, khác với đám con nít ở làng quê rất nhiều. Con nhỏ cũng ít đi đâu và đôi lúc nói chêm đôi tiếng gì không phải là tiếng Việt, ai cũng bảo hình như nó nói tiếng Miên, tiếng Chàm gì đó. Cô bé thỉnh thoảng cũng qua nhà tôi chơi. Tôi và mẹ  tôi không ai bảo ai, chẳng tò mò hỏi gì về mẹ con nhỏ, hay bất cứ những gì có liên quan tới gốc gác của cô bé, vì hình như chúng tôi sợ ông Tám, và thoáng thấy có một cái gì đó không thường nơi ông.

Vào độ ấy ông Tám khoảng tuổi bốn mươi; ông không có cái vẻ thần bí, lập dị của những ông đạo, ngoại trừ lúc nào đầu ông cũng đội một cái mũ len, cũng không có vẻ gì quan cách. Hình như ông có của chìm, vì chẳng thấy ông lam lũ gì nhiều, ngoài chuyện hốt thuốc và chỉ lấy tiền cho có lệ. Nước da ông đen tai tái. Dáng ông cao lớn, chững chạc, tuy hơi khom, mặt có những nét gẫy, thô như một chiếc mặt nạ làm bằng vỏ cây, nhưng đôi môi lại đỏ ướt, và hơi dày. Ông ít nói và chẳng mấy khi cười. Dân trong làng tự nhiên nể và sợ ông, nhưng có vẻ hơi thắc mắc khi không thấy ông đi nhà thờ, đi chùa gì cả, tuy rằng chùa nhà thờ có đủ, trong cái làng nhỏ bé của tôi. Chuông, mõ thi nhau.

Nhà, ông tự thiết kế lấy, khá khang trang; cột gỗ săng đá; vách ván dầu lông; mái lợp bằng những thanh tre rạo, chẻ đôi, sơn xanh, ghép sấp ngửa như ngói âm dương. Chung quanh trồng toàn mai tứ qúi và cây thuốc. Nhà chẳng mấy khi mở cửa; ông chỉ tiếp khách – đúng hơn các người bệnh – ở trong căn chái phía đông. Căn chái phía tây có lẽ là phòng của Nhàn thì phải, vì đôi khi thấy cô bé mở cửa sổ vén màn nhìn sang nhà tôi, nhìn bâng quơ, hay nói vói với mẹ tôi. Nhàn cũng thỉnh thoảng qua nhà tôi, thường thì đưa hộp quẹt qua cho mẹ tôi mượn, hoặc đi qua xin mận và cũng đôi khi qua để nhổ tóc ngứa cho bà. Tôi thấy Nhàn vẫn hay chơi với các đứa trẻ hàng xóm: Chơi ô làng hoặc nhảy dây, có khi còn dám cỡi bò. Những khi thấy Nhàn cỡi bò như thế, ông Tám chỉ đứng nhìn có vẻ vui và không nói gì. Nhàn là một đứa trẻ phát triển bình thường bên người cha có vẻ không bình thường dưới con mắt chưa chắc gì là bình thường của tôi và của bàng dân thiên hạ. Nhàn sống như những đứa trẻ khác, chỉ có khác là Nhàn không phải đi chăn bò, hay đi hái rau cho heo ăn, những công việc mà hầu như không một đứa trẻ nào ở đây tránh khỏi.

 

Hồi đó tuy nhà nghèo nhưng tôi cũng đău được hai cái tú tài và bắt đầu đọc được sách ngoại ngữ. Thỉnh thoảng tôi qua nhà ông Tám chơi, nói về sách này sách nọ mà tôi đã đọc được. Ông Tám chỉ cười và thỉnh thoảng chỉ nói chêm một vài câu, những câu hóm hỉnh nhưng cũng đầy minh trí của một người có học, học cao nữa là đằng khác, làm tôi phải há miệng ngạc nhiên. “Phe quốc gia thiệt là sang, cả nước còn chiến tranh như thế mà sinh viên và các tu sĩ vẫn được hoãn dịch để chuẩn bị cho một tương lai hậu chiến. Vậy mà có một tay ký giả Tây cả gan nói cái dân Việt là một dân tộc hiếu chiến; đền đài miếu mạo chẳng có, chỉ có chiến tranh. Belliqueux3 sao được mà belliqueux!”  Nói xong ông nhìn tôi như thể ân hận vì nói hơi nhiều. Tôi thấy ông như một nồi nước sôi đang đậy kín vung, loại vung của thứ nồi áp suất. Tôi không thấy ông trưng bày sách vở gì ngoài mấy cuốn sách thuốc. Tôi là một học sinh, sau đó là sinh viên, được hoãn dịch vì lý do học vấn, một gã thanh niên vô tâm trong một đất nước đang có chiến tranh tàn khốc. Ðúng là sống nhàn bên đào mận và chỉ thao thức chuyện nước non một chút khi trong làng có anh nọ anh kia đi lính phương xa bị tử trận, may đưa được xác về nghĩa địa quê chôn.

Mỗi lần trong làng có ai chết trận, đều thấy ông đi phúng điếu. Chỉ có những dịp như thế – ngoại trừ những lúc đi thăm bệnh nhân – ông mới đến thăm các người trong làng. Nhiều người, kể các chị quả phụ, lại đâm ra thắc mắc tiền ông làm thuốc nam quanh năm chẳng được bao nhiêu, lại chẳng thấy ông làm việc gì khác, nhưng không biết sao ông lại sống thảnh thơi như thế và lại còn có tiền để phúng điếu, và phúng điếu rất hậu hĩnh. Có kẻ nghĩ rằng có lẽ ông Tám được hưởng gia tài của tổ tiên cha mẹ để lại, có kẻ lại ngờ rằng ông được của, vì ông hay đi vô rừng, đi dọc bờ biển kiếm thuốc nam, biết đâu chừng ông được của Chiêm của Hời, nhưng không ai dám hỏi ông. Tuy ông có cái tên rất bình dân, nhưng ông vẫn có cái xa cách của một kẻ thi ân, cái uy nghiêm của một bức tượng thánh. Sợ, nên người ta không dám tự tiện đến gần, nói chi đến chuyện hỏi han.

 

Qua định cư được Pháp vài tháng, lãnh được mấy ngàn trợ cấp tôi vội vã  dục Nhàn gởi quà về cho ông Tám, không gì ông cũng đã chi cho tôi ba cây vàng cho chuyến đi, Nhàn chỉ ừ hử cho có chuyện, đôi lúc lại nói ba Tám chẳng cần gấp đâu. (Nhàn lúc này đã là vợ. Nhờ duyên số, dĩ nhiên, và cũng nhờ những mũi thuốc cô nàng chích cho tôi – cô nàng hồi ấy là y tá thứ thiệt  mà tôi nào biết –  những mũi thuốc nhờ  mấy ảnh trên kiếm. Giở  mông chích riết, rồi thương luôn, thương mạnh nữa mới kỳ!  Và khi tôi đang viết những dòng chữ này, nàng đang đẩy thằng Chín, con của chúng tôi đi chợ.)

Ðộ ấy tôi lại hay tò mò vào thư viện đại học Sorbonne tìm đọc các luận án của các sinh viên Việt Nam để xem thời trước họ đã học hành viết lách như thế nào mà lại lừng lẫy như báo chí từng ca tụng. Tình cờ tôi đọc được một luận án có tựa đề Le Viêtnamien avant la Colonisation francaise (Con người Việt  nam trước thời kỳ thuộc địa Pháp) . Ðây là một đề tài mà từ ngày phải ở tù tôi nghĩ là cần phải viết, cần lắm. Tác giả là một sinh viên tên Nguyen Thanh Tam, lại có cả cái hình nhỏ ở bìa sau, khuôn mặt như ông Tám. Tôi sững người; các mục đồng ngày xưa khi nhìn thấy Chúa Hài Ðồng cũng chỉ sững sờ đến thế là cùng. Tôi luýnh quýnh thuyết phục người quản thủ thư viện cho tôi mượn cuốn sách rồi vội vã đón tắc xi – thường tôi chỉ đạp xe đạp hoặc đi xe buýt – về nhà ngay. Nhàn đi đâu đó với con, vẫn chưa về. Tôi vừa đi đi lại lại trong phòng như gà mắc đẻ, vừa căng mắt nhìn vào mẩu hình. Ðích thị là ông Tám. Ðường đường là một vị tiến sĩ mà lại đội cái mũ len dị hợm. Hay ba Tám lại thích bắt chước André Gide4, tác giả cuốn Khung Cửa Hẹp.

Chỉ cần nghe tiếng chuông cửa là tôi ào ngay ra cửa; nhưng tới hai ba bận: Khi thì bà đầm già hỏi có con mèo cái màu này màu nọ chạy qua đây không, khi thì thằng nhỏ bên cạnh hỏi TV nhà ông có hình không, sao TV nhà tui bấm hoài không ra hình… Lần cuối, một tên Tây trắng trẻo sạch sẽ ở lầu ba chui đầu vào, ngang ngược đua cái bao vỏ mì tôm: “Có phải cái bao mì tôm này là do mầy xả ở cầu thang phải không, vì ở đây chỉ có mày là dân ăn loại mì này!” Thằng này đúng là dân kỳ thị thứ thiệt: Hiện nay thiếu giống gì mấy thằng nhãi mũi lõ nhai mì tôm nhãn hiệu me xừ Lee như nhai sô cô la ngoài đường. Ðang bực bội vì khi không lại vướng phải cái thằng khỉ gió này, tôi thoáng thấy, sau cái lưng gồ ghề của nó, Nhàn đang đẩy thằng Chín về, với hai thùng mì tôm treo tòng teng nơi xe, la ơi ới:

– Anh ra giúp đưa đồ vào cho em. Gì mà đứng thộn ra vậy!?

Tôi quên béng chuyện bị oan, đẩy cái thằng hộ pháp qua một bên, vọt ra ngoài, la lớn:

– Nhàn ơi, anh có cái này hay lắm!

– Bộ trúng độc đắc hả?

– Nếu mà đúng như anh đoán, thì còn hơn cả độc đắc!

– Nói gì mà hồi hộp vậy!?

Tôi chạy ngay vào nhà đưa cuốn sách cho Nhàn xem, giữa trời tuyết đổ, bất kể lời dặn dò của bà quản thủ thư viện là phải giữ cho cẩn thận vì thư viện đại học chỉ còn vài bản. Và chưa chi tôi đã bật khóc:

– Nhàn ơi, có cái luận án này mà người viết sao giống như ba em y đúc, có đội cả cái mũ len đen.

Nhàn nghiêm sắc mặt – các vị chủ khảo khi xuớng danh chỉ nghiêm sắc mặt thế là cùng –  nói:

– Thì ba Tám chứ ai vào đó. Em biết từ lâu rồi!

Tôi vừa hét vừa  giơ tay ra như muốn tát vào mặt cô vợ cưng của tôi :

– Thiệt hả! Mà sao em lại không nói cho anh biết !?

Cô nàng vẫn điềm nhiên lại còn cười tủm tỉm:

– Em đã hứa với ba Tám là sẽ không tiết lộ tung tích về ba, nhưng ba em biết chắc thế nào anh cũng sẽ biết, vì anh là con người… thích sưu tầm đồ cổ. Chính anh đã có lần tâm sự với ba em là nếu anh qua Tây được anh sẽ bỏ công nghiên cứu những tác phẩm, những luận án của các sinh viên Việt Nam du học bên Tây thời thuộc địa, để biết đâu sẽ tìm ra câu giải đáp cho cuộc chiến tranh phi lý Quốc – Cộng.

Tôi khóc ròng như mỗi lần nhìn đỉnh Mont Blanc5 chất ngất. Và Nhàn cùng khóc. Thằng Chín cũng khóc. Rồi nàng đưa ống tay chùi nước mắt, quệt mũi, và cười, cười còn tươi gấp trăm lần tôi tỏ tình với chị :

– Em còn có món đồ cổ cho anh….

Ngày  tháng  năm

Các vị giám khảo đã chấm đậu luận án của mình với summa cum laude6. Mừng. Cô đơn tràn về. Hay là mình đi Les Alpes7. Sao lại vậy?

Ngày… tháng… năm…

Lên cao mình thấy lòng cô đơn chi lạ. Các cha trong dòng muốn mình trở về dòng để khao tân khoa. Mình lại thích đến một nơi vắng vẻ. Cha tu viện trưởng chấp thuận. Ai bảo tu viện là nơi anh tỉnh nhất. Trái lại thì có. Chỉ có trời đất mới vô ngôn.

Ngày… tháng… năm…

Trèo lên được đỉnh núi khá cao sau nhà mát. Mặt trời. Nhìn mặt trời. Quê nhà mình hướng ấy. Mình khóc nức nữ?. Không có ai ở đây để chia sẻ sự thành công của mình.  Mình có biết mặt mũi cha mẹ mình ra sao đâu! Năm đói. Ông cha xứ nghĩa phụ của mình cũng mất từ lâu. Con Lài, con Lý, hay vô quét nhà xứ, giờ chắc chồng con cả rồi. Có chăng chỉ còn tu viện mà mình đã sống cả tuổi thanh xuân, với tiếng kinh ra rả như tiếng ve cuối hạ; với nghi lễ, tư tưởng, ngay cả áo dòng, rập khuôn Tây phương.

Ngày…  tháng…  năm…

Có con nhỏ sinh viên Việt Nam nào đó, không hiểu sao, biết mình lên đây, lại gọi điện thoại cho mình. “Mời anh về tham dự buổi đón tiếp cụ HCM do tổng hội sinh viên tổ chức. Tờ L’ Idée Contemporaine8 hôm qua có bài phân tích luận án của anh. Cái anh ký giả đó còn bạo miệng: ‘Giá mà người Pháp được đọc tác phẩm này sớm hơn, biết đâu sẽ không có cuộc tái chiếm Ðông Dương. Người Pháp không biết rằng người Việt yêu nước rất mù quáng. HCM là một tay phù thủy và ông ta đang có đầy đủ lửa củi để nấu một vạc bouillabaisse9 kinh khủng’  Thôi, thôi, cho tôi xin:  Âu châu văn hoá lẫy lừng thế kia mà cứ choảng nhau lia lịa từ xưa đến nay. Khói lửa thế chiến chưa tàn trên đất Âu Châu. Bọn người Âu là chúa tham lam mà lại là sư bốc phét, cứ đọc mấy lời hịch của Napoléon cũng đủ rõ. Nói chi cho xa: Mới đây cái anh Churchill, và cả De Gaule lẫn cái anh Hitler, mồm mép như nhau. Chỉ khác một bên thì cứ la hét om sòm, còn một bên lại ra vẻ ta đây là con nhà quan.  Mình chẳng qua chỉ là một kẻ góp nhặt dông dài, cùng lắm như một kẻ sưu tầm đồ cổ, sợ mất, thế thôi, chứ làm gì mà ghê vậy! Tuy nhiên thằng này có lý khi hắn linh cảm về một nồi bouillabaisse như thế.

Ngày… tháng… năm…

Ậy, ậy, cái ông chủ tịch nước VNDCCH vỗ vai mình, lại còn, vừa mân mê cái cúc áo dòng của mình, vừa nói với mình một câu mà tới giờ này, mỗi lần nhớ lại, còn muốn ói. Người đâu mà xạo đến thế là cùng. Ấy vậy mấy anh, mấy ẻm sinh viên xem ra cảm động lắm lắm. Sẽ có khối đứa lao đầu vào hang cọp vì những lời như thế. Bố TÐT không trật đàng nào. Cụ khi không lại còn khen cái luận án của mình nữa chứ. Thật như Ðức Chúa Trời thông biết mọi sự. Chắc bố NMT đã mớm cho cụ chứ gì.

Cũng thiệt lạ mấy cái anh Tây khoa bảng: Một đằng chính mấy ổng chấm điểm cao bản luận án của mình, một đàng cứ bô bô: “Viêtnam, c’est HCM”, bởi vì nếu đem những mẫu người Việt Nam chính thống mà mình đưa ra trong luận án ra đối chiếu, chẳng thấy cái ông này có chút gì là Việt Nam cả. Hay tại họ uống rượu vang nhiều quá. Có cả mấy cô người Việt đến chào mừng lãnh tụ. Mình thấy các bạn trẻ hí hửng chào đón HCM, mà thương; mình thấy lão đang xách cổ bao chàng thanh niên thiếu nữ như các bạn ấy, vứt vào vạc dầu sôi, hay nói theo chữ nghĩa cái thằng ký giả George Flaubert, vào cái nồi bouillabaisse terrible.

Ngày 14 tháng Tám

Cha bề trên kêu về để mừng lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, bổn mạng của dòng, mình xin nán lại Paris để nghe con nhỏ Nguyễn Thị Phương Nam trình luận án tiến sĩ nông học về những giống lúa nước Việt Nam. Cha bề trên tu viện F., trước khi đi tu là một nhà dinh dưỡng học, ông chịu ngay. Ổng thả một câu thòng thiệt nhức nhối: “Trước khi có cái xác để  Madame về trời, Madame cũng phải ăn chớ!” Ðúng quá chớ còn gì nữa.

Hôm đó mình không thấy được Ðức Mẹ Maria –  chắc là chẳng bao giờ thấy – mà có thấy đi nữa chắc gì đã đẹp đẽ, thiết tha như một công chúa Tiên Dung Phương Nam đang đứng trong giảng đường, thao thao về cây lúa Hùng Vương. Nghe sông Hồng mênh mông. Lại chùi nước mắt. Quái, kỳ này sao mình lại hay mủi lòng thế! Hồi ở trong tu viện có lúc nào mình khóc đâu. Hay tiếng kinh rền rỉ suốt ngày, rồi sách vở này nọ đã tha hoá mình? Mình nhìn con nhỏ đăm đăm. Thổ nhưỡng, khí hậu, độ Ph… bắt đầu như nước đổ lá môn. Con nhỏ trình bày xong luận án lúc nào không hay. Ðang khát nước, làm nhớ tới trái cam Bố Hạ mà một bà theo chồng qua Pháp tình cờ biếu mình hôm xin lễ bằng an cho xứ nhà, mình giơ tay hỏi: “Thế cô có bao giờ nghĩ đến một milieux politique 10cho cây trồng không? Chắc cô cũng biết là dân vùng Caucase đã nhổ bật rễ những vườn đào, mà người Tàu đã có lúc cho người cỡi thiên lý mã sang mua về tiến các vị vua chúa Trung Hoa, để trồng khoai lang tây? Tôi nghĩ là với chiều hướng chính trị trong cuộc chiến hiện tại, cô có nghĩ rằng giống cam Bố Hạ của Việt Nam cũng sắp bị bị tuyệt chủng như thế?” Mấy anh Tây đành chịu mang tiếng bất lịch sự đồng loạt quay lại nhìn tôi. Tôi thấy trong mắt của Phương Nam hai vì sao dữ tợn.

Ngày…  tháng…  năm…

Mình vẫn còn thích nấn ná lại Paris ăn ít bữa tiết canh vịt và đọc thơ tình. Ai bảo máu không ngon. Ðọc thơ tình giữa Paris mới thú, càng thú hơn khi đọc trong thư viện đại học cạnh các em. Ðọc thơ, cũng như ăn nhậu, chắc cũng phải có năm sáu điều kiện gì đó, phải không cụ Tản Ðà. Tạm thời vứt mẹ cái áo dòng đọc cái tình thư cho tiện. Mấy thằng CTT, và TBL làm thơ tới quá chớ. Mình ngờ ngợ bóng dáng của Prévert11 trong thơ mấy đứa hơi nhiều. Cũng hay, chớ có sao đâu! ‘Thế bồ đang đọc Prévert à, thối thấy mẹ!’- Con nhỏ có đầy đủ lễ bộ của con đầm trong thơ CTT, vừa phán, vừa cạ cạ núm vú vào lưng, không biết thiệt hay giả.  “Ê, coi chừng cái miệng của mầy, mầy nên biết mầy đang nói chuyện với Monsieur Abbé12 đó nghe chưa!” Mình  quay lại thấy hai vì vệt sóng nhỏ trong mắt người em tóc nâu. Démons et merveilles.

Ngày… tháng… năm…

Les Sables Mouvants

Démons et merveilles

Vents et marées

Au loin déjà la mer s’en retirée

Démons et merveilles

Vents et marées

Et toi

Comme une algue doucement carressée par le vent

Dans les sables du lit tu remues en rêvant

Demons et merveilles

Vents et marées

Au loin déjà la mer s’est retirée

Mais dans tes yeux sont restées

Démons et merveilles

Vents et marées

Deux petites vagues pour me noyer.

(Hình như bài này một bài thơ tình của J. Prevert, tôi đã đọc đâu đó. Khi đọc bài này tôi thắc mắc:  Chép thơ tình vào nhật ký thì chẳng có gì lạ, dù người chép là một linh mục Nguyen Thanh Tam, tuy nhiên tôi vẫn thắc mắc tại sao “cụ” Tám lại không ghi một bài thơ tình bằng tiếng Việt, mà thơ tình hay trong văn chương Việt thì chẳng thiếu; bởi vì một khi ông đã dành tới một phần tư luận án để nói về ngôn ngữ và văn chương dân tộc Việt, hẳn ông phải yêu tiếng Việt lắm.  Tôi cũng thấy ông có gạch hai chữ  deux petites vagues (hai vệt sóng nhỏ) và ghi deux méchantes étoiles ( hai vì sao dữ dằn) thế vào, nhưng ông lại xoá và ghi lại  deux petites vagues như cũ.)

Tạm dịch:

Cát Lún

Liêu trai, kỳ diệu

Gió và thủy triều

Nước đã ròng lắm

Liêu trai, kỳ diệu

Gió và thuỷ triều

Và em

Như cọng rêu gió ngàn ve vuốt

Êm êm

Em lơi lã mơ trên cồn

Nước đã ròng lắm

Nhưng trong đôi mắt em khép hờ

Hai vệt sóng còn nằm lại

Liêu trai, kỳ diệu

Gió và thuỷ triều

Hai vệt sóng nhỏ nhận chìm

Anh.

Ngày…  tháng…  năm…

Ngày mai mình xuống Marseilles về quê, về miền Nam. Mấy bố TÐT, NMT đã về, về miền Bắc, mình cũng về chứ. Sắp đi mình mới thấy yêu cái đất nước Pháp này và đặc biệt cái tu viện đã cho mình cơ hội thấy được mình. Một tháng trên biển, một tháng cho tâm tư.

(Mấy trang sau nữa bỏ trống, rồi tới trang gần chót tôi thấy có một phong thư đựng tấm bưu thiếp chụp khuôn viên  đại học Sorbonne với mấy cây phong thu vàng và phần sau chỉ thấy ghi địa chỉ của người nhận ,nhờ chuyển cho Nguyen Thanh Tam, và mấy sợi tóc nâu.

Trang sau nữa lại là một phiếu thư viện có hình vẽ, bằng bút mực xanh lá cây, chân dung một người đàn bà, tóc thề, mắt mơ màng và dưới khoé mắt là những hạt lúa thật được gắn vào, trông như những giọt nước mắt đang rơi. Có dòng chữ: Biết bao giờ gặp lại cùng một giòng sông! Mặt bìa sau có nhãn hiệu của nhà sản xuất văn phòng phẩm Gérard et Fils, Paris.)

(Cuốn hai: Bìa hơi sặc sỡ, có dòng chữ “Nhật Ký” in khá bay bướm và “Hãng giấy Ðồng Nai, Biên Hoà.” )

Ngày…  tháng…  năm…

Thiệt tiếc hết sức, cái tập nhật ký mình ghi trên tàu không biết mất đi đâu. Chắc mấy người dọn phòng quẳng lộn vào thùng rác mất rồi. Thôi cũng không sao. Chiến tranh đang nuốt dần những suy tư xanh thẳm ấy.

Ngày…  tháng… năm…

Tiếng chó sủa dữ dội đằng vườn trái hồng, tiếp giáp với mé rừng. Mình mở cửa đi ra. Quái có ai bỏ bao bì gì dưới gốc hồng mình hay đái trộm về đêm. “Ủa, sao lại gạo không vậy nè!” Mình thấy có bóng người thấp thoáng ngoài hàng rào. Có cả tiếng thì thào, tiếng sắt chạm vào nhau. Mình chợt hiểu. Cách đây một tháng có ông đại tá tỉnh trưởng đến thăm nhà dòng và nói chuyện khá lâu với cha tu viện trưởng và cha quản lý. Hôm đó mình tính qua phòng cha bề trên mượn số báo L’Express13, tình cờ nghe ba vị nói chuyện gì có vẻ trầm trọng lắm. Mình không gõ cửa, bỏ về phòng. Nghe đâu lõm bỏm mấy tiếng: Việt cộng, sống còn, tiếp tế…

Ngày…  tháng…  năm…

Tổ cha cái thằng JJS, thằng này hồi ở Sorbonne là chúa hồ đồ, học thì nhác mà cứ thích làm lãnh tụ, lại chưa hề đến Việt Nam mà cứ la toáng lên nào là đế quốc, tư bản, giải phóng, thuộc địa mới… Làm như cái nước Pháp nhà anh nhân từ lắm. Chẳng qua không ăn được, đạp cho đổ. Lại còn được cả cái lão Sartre phụ hoạ, nổi đình nổi đám bên đó. Merde. Thôi về ấp con nhỏ Simonne cho dân Annam này nhờ. Mẹ cái chữ nghĩa trong cuốn L’Être et Le Néant14 của nó lúc nhúc âm binh. Chẳng có cao kiến cái con mẹ gì tác phẩm của hắn. Cái tụi sinh viên bắt đầu giàu lên, rững mỡ. Mà rỡng mỡ đọc sách của trự, hiểu sao nổi. Chỉ cần đọc cái tựa đề thôi cũng đủ chất để huênh hoang. Và không gì huyênh hoang bằng những cuộc biểu tình thời thượng. Mẹ cha nó, cái mốt phản chiến quả là thích hợp với cái tính khoe mẽ của mấy anh dòng dõi gà trống; chơ’ còn gì nữa! Phải viết mấy bài vạch cái rỡm đời của bè lũ. Cái thằng Sartre cứ ỏng a ỏng ẹo là con người bị gắn vào cổ cái ách tự do, và con người phải xoay xở hay nói như ngôn từ của hắn là con người phải tự xác lập cho mình một bản thể. Thì miền Nam cũng như miền Bắc, hiểu như một cộng thể, đều thi nhau xác lập cho mình một bản thể. Sống chết mặc chúng nó. Cớ sao hắn lại tước đoạt khỏi miền Nam cái tự do mà ông đã dùng không biết bao nhiêu giấy mực để hô hào – dù hắn chỉ làm công việc vẽ rắn thêm chân đã có từ đời nào trong thần thoại và triết học Hy lạp. Mi không nhìn ra là cuộc chiến tranh này là một cuộc chiến tranh này là cuộc chiến giữa Karl Mark và Socrates giữa Moscow và Athène sao? Hút thuốc mù trời, cà phê cà pháo tối ngày, trí óc có bình thường đâu nữa mà suy nghĩ cho có ngành có ngọn. Viết lách sau này của chả chắc khác gì khói thuốc là bao. Mình nghi ngờ mọi suy nghĩ của những người hút thuốc. Những phát ngôn của hắn lại có sức công phá bằng cả ngàn tấn bom, thế mới chết. Thiệt rầu cho cái đất nước mình. Ai bảo nước không có vận. Ôi, vận nước và khói thuốc lá!

 Ngày…  tháng…  năm…

Về nước cả mấy tháng rồi mà vẫn chưa thích hợp với khí hậu. Bức bối cả mình. Trời thì nóng quá, mà thức ăn chỉ có cơm và mấy con cá trích. Tháng đầu thấy cha bề trên còn bưng vào phòng cho mình mấy ly nước cam giao thời. Nay hết rồi. Cũng đúng thôi. Cha là cha của trăm người. Ai biểu đi Tây về chi cho khổ. Trong dòng ai cũng kính phục đức độ của ngài. Nhưng mình thoáng thấy có cái đuôi cáo lòi sau lớp áo dòng. Ðôi mắt của ngài cũng có hai vì sao sắc cạnh. Mình sợ những đôi mắt như thế.

Chắc là phải viết vài bài gởi cho mấy cha giáo bên đại học Louvain, nhờ mấy vị tìm nơi đăng. Mấy tay khoa bảng Hà nội đang múa mép như gậy đánh vườn hoang ở bên ấy, sao trí thức miền Nam trùm chăn kỹ quá vậy, hay là đang làm dáng trí thức, đang cố kiếm cho mình một địa vị? Bộ không biết rằng khi cái gã Lénine tước đoạt được nước Nga thì mọi cái đỏm đáng, đều bị chôn vùi tàn nhẫn giữa rừng tuyết giá Tây Bá Lợi Á, kể cả chữ Danh to tày đình.

Ngày…  tháng…  năm…

Cả hai bên tổn thất nhân mạng nặng nề. Lúc nào cũng nghe súng xa gần dội về. Mấy bài viết của mình đã được tờ L’ Esprit15 đăng. Nhưng giá được tờ Le Monde15 hay Le Figaro15 đăng thì vẫn hay hơn. Nhưng rồi nghĩ lại, dù bài mình có xuất hiện trên những tờ ấy nữa thì cũng chẳng ăn thua gì. Khung cảnh huỷ diệt có chiều kích thế giới trong sách Khải Huyền16 đang xảy ra trên nước nhỏ bé của tôi. Chữ nghĩa của một ký lục quèn có nghĩa lý gì trước đạo quân Bóng Tối.

Ngày…  tháng…  năm…

Hôm nay nhận được bức thư của con nhỏ Edith. Bày đặt uớp dầu thơm Chanel số 5, vạn dặm tới đây còn thơm. Bố đưa thư chắc thế nào cũng có dấu hỏi, cha bề trên chắc lại đặt cái dấu hỏi to hơn, nhưng biết đâu ngài lại mỉm cười thông cảm. Ngài còn đẹp trai hơn mình nhiều, cũng du học Sorbonne như mình, thế nào mà chẳng có em tán. Có điều ngài cáo hơn mình nhiều Con nhỏ viết là nó đang ở trong ban tổ chức biểu tình phản chiến; và sinh viên cùng công chúng, hàng trăm ngàn người, đang rầm rộ xuống đường ở Paris. Nó có đọc bài viết của cái “ông Tây” nào đó trên tờ L’ Esprit, mà nó đoán đó là bút hiệu của mình. ‘Cái lối viết như đập vào mặt những tên đội đủ thứ lốt, thiên hạ chỉ có mình anh. Cứ đối chiếu mấy bài báo viết cho tờ Universitas cũng đủ biết.’ Phải công nhận con nhỏ thông minh. Nhưng đến lúc mình thấy cần đề phòng con nhỏ này. Phải viết thư xỉ vả cái tính hồ đồ (?) của con nhỏ mới được!!!

Nhớ hôm về chơi trang trại gia đình nó ở Bordeaux, có bữa khi hai đứa đang đi dạo ngoài vườn nho, chính nó à lát xô ôm hôn mình, may mình không làm tới, nếu không bây giờ chắc lại là có chuyện… Nghe nói mấy anh Cộng sản thích sưu tầm các hành vi bê bối của các linh mục để hạ thủ khi cần. Bữa đó ông già lại nhờ mình ban phép lành cho bữa ăn, mình bảo là phép lành mình bỏ lại trong nhà thờ rồi. Ông già cười ha hả. Cái dân Tây vùng này đây cũng ngang tàng như dân Quảng.

 

Ngày…  tháng…  năm…

Hôm qua mình có hỏi cha quản lý vụ mấy bao gạo dưới gốc cây hồng đêm nọ. Cha chỉ cười. Phải làm như thế để sống còn. Hay là các vị cố tình ủng hộ. Bên Âu châu người ta bắt đầu nói về một nền thần học giải phóng. Ðã đến lúc không nên tuyệt đối tin vào các linh mục Công giáo như là những chiến sĩ tiên phong chống lại chủ thuyết mà Công giáo hay gọi bằng cái tên ‘chủ nghĩa tam vô’. Bên Paris, đã có mấy tay linh mục Việt Nam trẻ mon men đi đêm với nhóm “Việt kiều yêu nước”. Lại còn tổ chức hội thảo, cố vặn óc để tìm ra những nét tương đồng của chủ nghĩa Cộng sản với những giá trị Kitô giáo. Ða số tu sĩ trong dòng biết việc tiếp tế nhưng họ hoặc đồng ý với các vị bề trên, hoặc vì đức vâng lời đành im lặng, nhưng có vài thầy tỏ ra không hài lòng. Nhất là mấy tập sinh mình đang dạy Triết.

Ngày…  tháng…  năm…

Cha bề trên nhất kêu mình lên, ngỏ ý muốn giao cho mình làm bề trên nhà tập. Mình trả lời ngay là mình không nhận nếu nhà dòng còn tiếp tế cho phía bên kia như thế. Bởi vì khi làm cha tập sư, tương đương với bề trên ba trong dòng, mình có một trách nhiệm trong hành vi tiếp tế lén lút như thế. Cha ấy và cha bề trên nhì cha quản lý đồng ý chuyện tiếp tế nửa tháng hai tạ gạo cho phe bên kia, và nghe đâu có sự thoả thuận ngầm với đại tá tỉnh trưởng tiểu khu, vì lý do sống còn của nhà dòng. Mình trả lời là chính nhà dòng với những cơ ngơi đồ sộ đã trói tay các vị. Nhớ lúc nói chuyện tản mạn với các tập sinh, mình đã nói với các tập sinh là cơ ngơi của nhà dòng gần giống như Tử Cấm thành Bắc Kinh, mà mình đã có dịp đi thăm trước khi về nước. Không phải chỉ có mình suy nghĩ như vậy, chính cha bề trên cũ, đã già, mỗi lần bó buộc phải đi trên nền gạch bông xa hoa của nhà dòng, ngài đã phải chạy cho nhanh để khỏi phải dẫm lâu trên nền đá hoa xa hoa. ‘Nếu cần cứ giải tán nhà dòng!’ Gớm, mình nói như đang nói chuyện với các giáo sư của mình ở Paris!  Cha bề trên đỏ mặt không nói gì.

Ngày…  tháng…  năm…

Hôm nay cha bề trên lại kêu mình vào; và vừa cười ngài vừa đưa cho mình mấy mẩu báo có đăng mấy bài thơ tình mình gởi đăng trên mấy tờ Ðất của tổng hội sinh viên Việt Nam ở Pháp. Ai đó không biết đã gởi kèm trong thư gởi cho cha bề trên và nhờ chuyển cho mình. Biết mình là tác giả, lại còn biết mình đang ở trong cái tu viện heo hút nữa mới tài. Mình gật đầu cảm ơn cha và chẳng lấy làm xấu hổ. Mẹ, mấy tên đầu bò, hễ cứ có anh anh em em nhất định cho đó là thơ tình lãng mạn! Hay là mấy tay Vixi bắt đầu tức hộc máu vì những bài báo của mình gởi đăng bên ấy. Con nhỏ Edith cả gan gán cho mình là réactionnaire17. Ừ, cứ giỡn với lửa đi! Cả cơ ngơi sản xuất rượu vang của bố mày, và cả mày là kẻ đang được tự do khua môi múa mép bên trời tây kia, đều đang nhờ những đứa phản động như Monsieur Abbé này đó con ạ!

Ngày…  tháng…  năm…

Anh chàng Paul Mambasa, đang làm giám mục ở bên Phi Châu, viết thơ bày tỏ lo ngại cho đất nước của hắn vì cái ông tổng thống của xứ nó, một thi sĩ có tiếng quốc tế, đang bắt đầu thử xây dựng xã hội chủ nghĩa theo mô thức Phi châu. Nó hỏi ý kiến mình xem phải làm gì đây. Hành động ngay, lên tiếng ngay, không kẻo lại muộn. Merde18, người chứ phải cứt à, sao mấy bố đè cổ người ta ra mà thí nghiệm như vậy! Hắn còn khoe có một bà goá già bên Ý, má nuôi của hắn, hứa là khi mất sẽ cho nó một triệu đô la để… xây nhà thờ. Hắn nói là hắn chịu cái câu ca dao Việt Nam mà mình dã dịch cho nó nghe: Dù xây chín bậc phù đồ … Hắn nói với số tiền ấy hắn xây được cả mấy chục cái nhà thờ nguy nga, thôi thì chia bớt cho mầy một cái để mày xài chơi. Hắn còn bồi thêm: “Chưa chắc tao đã xây nhà thờ; cái xứ sở của tao cò biết bao người còn đói rã họng ra, biết bao trẻ dốt nát mù chữ. Ai bảo bà ta tin cái thằng con dân cày chính cống Mambasa này thì rán mà chịu!”

Ngày… tháng…  năm…

Anh chàng Linh, trong suốt giờ dạy Triết của mình hôm qua, có vẻ bồn chồn, khó hiểu. Khi mình đã lượt qua các hệ phái vô thần trong triết học Tây phương xong, chú ta bặm miệng hỏi: “Vậy Cha có tin Chúa không?”  “Có ngu mới không tin vào Thượng đế. Tuy nhiên tôi không tin vào những cái gọi là tín điều về Chúa như giáo hội Công giáo bắt chúng ta phải tin. Nó như những sợi dây siết cổ giáo hội Công giáo.”  “Như vậy, Cha không thể ở trong nhà dòng này được nữa!”  “Tại sao không, chính nhà dòng là nơi cho chúng ta cái môi trường tốt nhất để tìm thấy bản ngã đích thực của mình. Chúa chỉ hiển lộ trong những kẻ đã phủi sạch khỏi lòng mình những kiến thức, kể cả kiến thức triết học kinh viện mà Giáo hội Công giáo rất hãnh diện.”

Ngày…  tháng…  năm…

Mình đã nói những điều ghê gớm. Không hiểu tại sao mình lại nói như thế. Biết đâu công trình học hỏi mười một năm bên trời Âu chỉ dùng được một lần đó với mấy tập sinh chiều hôm ấy.

Ngày… tháng… năm…

Vẫn không thấy cha bề trên nói gì. Ngài vẫn nhã nhặn, nhiều lúc hơi quá, như thường lệ. Ngài lại tận tay đưa cho mình mấy bức thư tẩm nước hoa, dù đây không phải là công việc của ngài. Và cuời nụ cười kẻ cả. Trong Kinh Thánh không thấy diễn tả kiểu cười của bọn giả hình Pharisiêu. Nếu có, chắc phải y hệt như cái cười của cha bề trên hôm đó. Hồi ngài còn làm giám đốc đệ tử viện, ngài đã bày trò kiểm duyệt thư các chú, dù các chú ấy có khi đã mười tám, đôi mươi. Lại còn chia các đệ tử thành đoàn, đội. Và còn có buổi kiểm thảo xây dựng (trong chúa Ki tô) mỗi tối thứ bảy cho toàn trường;  còn đoàn, tháng họp một lần vào chiều thứ năm,  và  đội thì vào thứ tư.  Y như Cộng sản. Mình nghe cha Hồng, bạn cùng lớp, hiện đang làm giám đốc đệ tử viện, kể lại: “Tao chúa ghét mấy cái trò khỉ đó. Ai cũng có nhu cầu được tôn trọng.” Vong thân cùng mình!

Ngày… tháng… năm…

Cha bề trên hôm nay gọi mình lên và giao cho mình và thầy Micae lên ÐL tìm đất lập nhà con. Một cha xứ  ở ÐL đã kiếm dùm. Chỉ lên xem lần chót, trước khi ký khế ước và giao kèo. Ðây là một đồn điền của một người Pháp muốn bỏ về nước. “Cha biết rành tiếng Pháp nên thương lượng với ông Tây dễ hơn.”  Ngài cũng nói là ngài muốn cử mình tạm làm bề trên đầu tiên cho nhà con đó. Mình hơi giật mình. Thương lượng còn được, nhưng tại sao lại sai mình làm bề trên. Mình chắc chắn là chẳng đủ thánh thiện để làm một vị bề trên đúng nghĩa. Vả lại vùng đó là một vùng mất an ninh.

 

Báo Ðức Mẹ Lộ Ðức, ngày tháng năm: Theo tin tức từ nhà dòng mẹ  PT thì trong một chuyến đi để mua đất lập dòng ở ÐL, thầy An Tôn Lê Chính Trực đã bị bọn Fulro, cũng có thể là Cộng sản, bắn chết; may cha Nguyễn Thanh Tâm chạy thoát được, nhưng bị lạc, mãi ba ngày sau mới trở lại được nhà dòng. Chúng đã cướp chiếc Honda và một số tiền lớn nhà dòng dùng để mua đồn điền của người Pháp, ông George Daniélou.

 

Báo Dân Ta, mục Từ Thành đến Tỉnh, Tám Chui phụ trách:  Mẹ mìn tái xuất giang hồ . Ngày tháng năm .Hôm qua, có một người đã dụ dỗ bắt đi một bé gái mồ côi, hai tuổi, trong khi bé đang chơi với các trẻ khác trong sân. Bé có nút ruồi nâu to bằng hạt bắp. Theo như xơ giám đốc, đã biết bi bô đôi ba tiếng Pháp. Mẹ của cháu đã đưa cháu từ Pháp về và nhờ các dì giao đứa con lại cho cha của cháu, trước đây đã du học ở Pháp, nuôi, bởi bà muốn cho con của mình được sống và lớn lên trong một đất nước đang tạo nên những thiên hùng ca. Và phần bà, bà cũng đang bận góp phần vào giai đoạn lịch sử này, bà không thể cáng đáng chuyện nuôi con được. (Nguyên văn lời của xơ giám đốc đã nói với Tám Chui này, chơ tui mần chi mà nói được những lời hay ho quá cỡ thợ mộc như vậy!) Các xơ chưa kịp thực thi ý định thì sự việc xảy ra.

Tạp Chí Ngược Dòng: Cụ Nguyễn Hữu Ðạo, một thời từng là cố vấn về vấn đề đối ngoại cho chính phủ nước VNDCCH, nhưng vì những bài phân tích trong tờ Nhân Loại của nhóm Làm Người, về những ấu trỉ của chính phủ trong quan hệ với Trung Hoa và cụ thể là với Thủ tướng Chu Ân Lai vào thập niên 50, ông đã bị trù dập tơi tả trong suốt 30 năm trời. Khi thì phải sống trong chuồng trâu, khi thì tá túc trong miếu hoang, chỉ vài năm mới đây được ở trong một cái chái che cạnh một trường làng nọ. Ấy là nói nơi ở, còn cái ăn, cụ đã phải đào trộm khoai của hợp tác xã, câu cá trộm, hoặc có người thương cho – chuyện này hiếm. Ấy vậy mà cụ sao lại có tới ba vạn đồng. Có lẽ chờ khi được phục hồi, in sách, làm báo, của cụ, dĩ nhiên. Ấy vậy khi đọc được tập kịch thơ Thanh Tâm Thị Kính của Hữu Lam, một người tới nay chưa hề có thơ đăng, cụ sướng quá, đưa ngay cả gói tiền dành dụm cả mấy chục năm trời để bạn in thơ, vì “Thơ của nó ghê gớm quá!” – Cụ nói như vậy. Hữu Lam cảm ơn tấm lòng kẻ sĩ chính thống của cụ, nhưng không lấy: “Cụ tâm cảm được thơ của con như thế là con không sợ cô đơn rồi. Còn tiền, con cảm ơn cụ lắm, nhưng con không nhận đâu, bởi con sẽ có tiền để in mà, in cả thơ con lẫn thơ cụ, biết đâu chừng cụ nhỉ?”

Có kẻ thạo chuyện trong đám nhà văn Kinh Bắc nghe chuyện, bĩu môi: “Cái lão Hữu Lam này sẽ đưa mấy xấp đơn thuốc nam của lão để trả tiền nhà in chắc!”

 

Bergen, 4 . 00

 

(1) Chuyện trời bể: Vào những dịp sinh nhật HCM… trại cải tạo phải lao động thêm ngày chủ nhật; ví du,ï một toán khoảng 40 người cuốc thi đua với các toán khác, có khi cuốc cả mẫu đất, để dâng lên bác, và để tranh giải từ 1 tới 2 ký đường táng.

(2) Limorges: Nơi làm đồ sứ nổi tiếng của Pháp. Ðặc biệt đồ sứ men trắng.

(3) Belliqueux: hiếu chiến .

(4) André Gide (1869 -1851), văn sĩ Pháp, tác giả Khung cửa hẹp, Những người làm bạc giả..

(5) Mont Blanc, rặng núi giữa Pháp và Ý, với đỉnh núi cao nhất châu Âu 4810m.

(6) Summa cum laude: tối ưu với lời khen ngợi.

(7) Les Alpes : Dãy núi lớn nhất và dài nhất châu Âu, 1200km, trải dài từ Nizza – Savona tới Wien – Marburg, rặng Mont Blanc nằm trong dãy núi này.

(8) L’ Idée Contemporaine: tư tưởng hiện đại

(9) Bouillabaisse: Món cá hầm tạp pí lú của Pháp/ Teribble: kinh khủng.

(10) Milieux politique: môi trường chính trị.

(11) Jacque Prévert (1900 – 1977) Thi sĩ Pháp.

(12) Monsieur Abbé: tiếng người Pháp tôn xưng các tu viện trưởng dòng nam, hoặc linh mục coi xứ.

(13) L’Express: tốc hành

(14) L’Être et le Néant. Hưũ Thể và Vô thể, tác phẩm triết học chính của triết gia Jean Paul Sartre.

(15) L’Esprit: Tinh thần/ Le Monde: thế giới/ Le Figaro: tên riêng

(16) Khải Huyền: Cuốn sách cối cùng của Kinh Thánh, nói về sự hủy diệt thế giới – ít ra theo nghĩa đen.

(17) Réactionnaire: phản động.

(18) Merde!: Ðồ cứt đái!: Tiếng chửi thề của Pháp.

 

 

Nguyễn Văn Thà

 

https://s2-ssl.dmcdn.net/MzVmh/526x297-ZVu.jpg

Một cảnh tại Trại tị nạn Đảo Bidong (Pulau Bidong)

Mỗi người có một cuộc đời, nhưng lượng thời gian trong đời mà mỗi người có được, cho chính mình, lại nhiều ít tùy theo người mình ở cùng, cái xã hội mình sống chung; và màu thời gian lại thiên hình vạn trạng.

Ðảo Bidong ngày đó có rất nhiều màu xanh: của biển, của cỏ cây nhiệt đới dư thừa nước mưa, của mênh mông gọi mời quên lãng nhưng vẫn không mênh mông đủ để nuốt đi vũng tối quá lớn của rất nhiều người. Họ đã thoáng thấy một chút màu ước vọng; nhưng màu ấy tắt ngay trong bão tố Con Tạo, hoặc bị xé tan trong điên loạn súc sanh. Họ, như hàng triệu con dân xứ Việt khác, đã trốn chạy, hầu kiếm cho mình màu cuộc đời riêng.

Nhưng rồi bao hình hài đồi nghiêng cỏ dại, cỏ dại mọc nhanh.

Và cũng nhiều thật nhiều hồn nhỏ thân kim dập vùi biển lớn, những trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới, chưa hề âu yếm ở đầu môi1.

Và có kẻ vẫn sống với vết thương của chuyến hải hành.

Vết thương thường hằn sâu.

Rất sâu.

***

Ông Chinh là một người hay chữ. Qua Na Uy đã lâu. Khi thằng con một của ông chuẩn bị vào đại học, ông bỏ gia đình ở ẩn. Ông không thể chờ được nữa. Và ông cũng chẳng cần phải chờ cho tới khi nó tốt nghiệp, vì ông đã chuẩn bị từ lâu: Dạy cho nó cách học, truyền cho nó kiến thức ông có, và cho nó đi Hướng đạo, nên nó học giỏi, tháo vát, lại biết thương người, thích làm chuyện bao đồng, những yếu tố mà ông nghĩ sẽ giúp nó thành công và hạnh phúc trong đời.

Ông lên ở cao nguyên Hadanger2, trong một nhà mát nhỏ. Ở núi không tốn nhiều, nhất là ông có thói quen ăn uống nhẹ nhàng, dưỡng sinh.

Có người nói là ông chán bà vợ nhan sắc; có người lại bảo ông là người mát giây; phần ông, ông chẳng nói gì, bởi ông kinh nghiệm phân bua rồi cũng chẳng đi tới đâu.

Thằng Phúc, con ông, sáng nay gọi điện thoại di động cho ông. Nó nói chuyện khá lâu với ông; nói về thời tiết cuối hạ tuần rồi, nắng đẹp suốt tuần ở nơi nó ở, về biển xanh và những con cá nó câu được; và cuối cùng nó báo cái tin nó quyết định sẽ qua Ðức học ngành đồ họa công nghệ ở Berlin.

Thảm thảo nguyên miền cao ông Chinh ở ẩn gồm những chòm cây thấp trăm tuổi, những tầng rêu xanh vĩnh cửu, những cụm đá lặng màu thời gian; hằng hà sa số; tất cả đều già mà không cỗi, chân như nằm đó, như sinh linh từ muôn muôn kiếp trước hội về nghe đất trời, mê quá ngồi lì, sướng quá ở luôn. Thường thì các cụ im ắng nghe đất trời, uống mật ngọt của lặng thinh, nhưng lắm lúc cũng thì thầm lời yêu mến với nhau. Không thì thầm với nhau sao được khi ta mình ken kín thế kia. Cái ken kín của dấu yêu hằng có từ thửa Nhật Nguyệt vừa về; cái chật chột ấm êm ngày Núi Sông mới tỏ. Có những hôm trời trong gió lặng, các cụ bị thinh không hoa khôi, không khí tinh ròng, thầm lặng vô tận làm cho chết trân. Nhưng đừng tưởng các cụ chỉ dẫm chân một chỗ, nằm ngơi nghỉ một nơi! Có những bữa, chỉ đợi gió lên, các cụ lại lau nhau lít nhít xôn xao chân cẳng thăm thảo nguyên, nhưng rồi giông tố, bão bùng, các cụ sững sờ với cái uy nghi trời đất, ngẩn ngơ với chớp giật mưa sa. Lại dậm chân một chỗ không chừa. Cứ đam mê chuyện trời ơi như thế nên các cụ trăm năm chưa ra xa chỗ dựa đến nửa phân. Thôi thì gởi hương cho gió. Nhắn với ai cuối nẻo cỏ hoa rằng lòng đã phụ lòng.

Hôm nay ông Chinh xuống phố mua thức ăn, mượn mấy cuốn sách, và ghé nhà người quen, mà ông mượn địa chỉ, lấy thư. Ngoài mấy cuốn báo tiếng Việt, ông còn nhận được thư của con ông, báo tin nó đã kiếm được nơi ăn chốn ở đàng hoàng ở Berlin, và kể là nó đã nấu được canh chua ngon đủ mùi đủ vị như canh tập tàng của ba Chinh, vì ở Berlin có nhiều quán Việt, quán Thổ. Ngoài ra, báo tin mẹ đã về Việt Nam, mẹ có vẻ vui và có lẽ ở bên đó lâu.

 

Cô Hồng hồn mỏng mà lại thích đọc tiểu thuyết nặng ký; thường là nặng tình duyên, tình dục. Cô yêu thầm những nhân vật nam mềm mỏng, lịch sự, cả trong lời nói cũng như trong khi làm tình. Yêu lắm mà chẳng thấy ai như thế; chỉ thấy quanh cô những người đàn ông cứng cỏi, thô lỗ, và hay văng bọt mép khi nói năng. Cha cô lại thuộc loại người như thế; làm cho cô đôi lúc đâm ra nghĩ ngợi: “Ðàn ông là cái giống ác độc như thế; không biết Trời sinh ra họ mà chi?” Cái kết luận tạm thời về đàn ông đó được củng cố thêm, khi cô, một bữa đi chơi về khuya một mình, bị một kẻ trời tối không rõ già trẻ, bụm mồm kéo vào rẫy mía cạnh đường hiếp dâm. Cô kể lại cho mẹ; mẹ kể lại cho cha, nhưng ông lại không tin cô nhỏ. Cô bị đòn nặng và bị cha chửi đồ này đồ nọ tục tĩu đến nỗi cô đã phải thét lên: “Ðàn ông là cái giống ác độc! Ðàn ông là cái giống ác độc!” Tiếng thét làm cha cô phải sững người chùn tay; như thể tiếng thét đó đã ném vào mặt ông, đại diện cho cái giống đàn ông lúc đó, một sự thật kinh hoàng bị chèn họng đã quá lâu trong đời của riêng con gái ông và trong bao thế hệ đàn bà. Ông chỉ sững, cái sững của một bạo chúa bỗng nghe được lời ngay nhưng vì thói quen đàn áp đã đâm rễ sâu, trung ngôn nghịch nhĩ lẽ thường, nên kẻ nói lời chói tai là cô Hồng chỉ chuốc đại họa vào mình: Cô bị đòn  nặng, bị chửi tục tĩu hơn nữa.

Nhưng cũng may cô không có bầu.

Chuyện cũng qua, không ai biết, ngoài cha mẹ cô, và (có lẽ) cả tên hiếp đêm. Chuyện rồi êm, nhưng lòng cô chẳng êm. Cô thù đàn ông. Tuy nhiên cô đã đến tuổi mười tám đôi mươi; cô phải có một tấm chồng. “Cũng phải lấy thôi!” Nhưng lòng cô lo sợ, vì quanh cô người ta hay nói về những chuyện trinh trắng. Mất trinh thế nào cũng bị rắc rối, rắc rối nặng, rắc rối dai dẳng, có khi cả đời, dai như đỉa trâu; trâu còn quỵ huống chi người, thân đàn bà phận mỏng.

Cô Hồng lòng mỏng và thân cô cũng mỏng. Cái mỏng manh nơi hồn nơi xác cộng với đôi mắt lắng lo của cô đã hút hồn thầy giáo Chinh mới đến dạy học trường làng. Cô có cái sắc đẹp của những nường ái phi mền mệt, con hầu nâng dậy coi đà mệt thay3hay của những nữ tu u uẩn cõi trên, nên ngày cô Hồng dẫn em tới trường làm lễ khai giảng, thầy bị chết đứng, thầy mê đến độ bài ngỏ với phụ huynh, viết cả mấy trang, đọc được dăm dòng, thầy đành thu xếp câu cú để kết luận cho mau, kẻo người ta lại cứ tưởng thầy bị lên cơn sốt rét ác tính.

Và thầy Chinh lấy được cô Hồng.

Không có chuyện gì như cô đã lo xảy ra cả. Hai người sống khổ mà êm. Lại sinh được con. Một thằng con trai. Cô bắt đầu bớt ghét đàn ông. Nhưng rồi mãi tới một ngày nọ thầy Chinh mới thấy rằng cô Hồng còn môi mỏng: Cô nói nhiều, nói quá nhiều, giọng kim khí, những chuyện thầy không thích nghe, y như cái loa đầu ngõ. Cả hai có cái dai dẳng, kiêu căng của một người đang nắm chân lý trong tay, đã có đáp số sẵn. Thế rồi một ngày kia, cái bộ não của thầy Chinh bị bung, và nó bất chợt ra lệnh cho bàn tay của thầy Chinh giáng một bạt tai như trời giáng vào cái miệng đỉnh cao trí tuệ ấy. Sau vụ bị tát đó, câu nằm lòng “Ðàn ông là cái giống ác độc.” có một giá trị phổ quát tuyệt đối, như hai với hai là bốn vậy. Và nó ghim vào lòng cô Hồng chặt như sắt cắm bê tông, nhưng vòng tay của cô Hồng mới chớm thương thầy Chinh giờ lại lỏng dần, và cuối cùng xuội lơ như tàu lá chuối héo. Ðã thế, trời lại quá nóng, đói triền miên, họp hành cha chú; thầy loay hoay; thầy đâm ra dở người; thầy thô lỗ; cái vẻ mềm mỏng lịch lãm nơi thầy coi như mất tiệt, cô Hồng có lúc nhận xét như vậy.

Khi hai người vượt biển đến đảo Bidong được mấy tháng, thầy Chinh còn được vợ xác định thêm danh phận: “Ông là cái đồ khốn nạn.” Nghe, thầy tá hỏa tam tinh, nhưng rồi thầy cũng chững lại, mình đóng cửa dạy mình, riết rồi thầy đâm ra hoài nghi cả chính mình: biết đâu mình cũng “khốn nạn” thật, vì chuyện gì cũng có thể xảy ra ở những cái chuồng người nóng nảy chật chội tạp nhạp đông người, đáo bỉ ngạn mắc cạn đồng khô.

Tuy nhiên, thầy Chinh nếu là “cái thứ khốn nạn”, thì chỉ “khốn nạn” ở trên khu F nơi vợ chồng thầy ở; khi xuống khu A, khu B, nơi có các văn phòng, trường học, thầy như cá gặp nước, vì ngoài chuyện thầy dạy tiếng Anh ở trường high-school của các bà xơ Úc phụ trách, thầy còn làm thông dịch nói tiếng Anh nhanh như gió, lại là trưởng ban báo chí của trại. Những lúc như thế, thầy trở lại con người lịch lãm, mềm mỏng như thời mới tốt nghiệp sư phạm, thủa mới yêu cô Hồng. Thầy được nhiều người để ý. Thầy được lắm kẻ nể vì.

Lúc rảnh thầy hay dẫn đứa con trai nhỏ ra ngoài bãi biển, không bao giờ có cô Hồng đi cùng. Những mảnh thời gian hạnh phúc nhất của thầy là những lúc cha con với nhau.

 

Ðồi nghiêng chiều cuối năm lăm nhăm hàng trăm nấm mồ nhỏ như những bụm đất bọn trẻ chơi xong để đó. Cuốc dẫy cỏ, đắp thêm chút đất, thắp một nén hương. Gọi là một chút xót thương.

– Anh gì đằng đó ơi!

– Cô gọi tôi?

– Dạ, nấm mộ nầy ai đó để  mấy chén gì nhỏ như chung rượu…

Thầy Chinh nói vói:

– Chà, chắc người nằm dưới mồ vốn là bợm nhậu…

– Hay là mình xuống khu F kiếm cho ông ta một xị?

– Bộ không sợ mấy ông Task Force Mã Lai4 hay sao?

– Thây kệ, em biết có người bán.

Và cô nàng chạy lẹ xuống đồi. Cô là một cô gái đẹp, khoẻ. Thầy Chinh chép miệng không biết vì thèm rượu hay vì vướng phải ngải đảo hoang.

Khoảng mươi phút sau cô nhỏ chạy lên, với một cút rượu dấu trong người. Thầy Chinh nói sảng:

– Rượu này hẳn ngon phải biết; uống một ngụm say suốt đời.

Cô gái ngộ ngay công án, giật bắn, rồi mỉm cười rạng ngời còn hơn trò Ca diếp5 bội phần.

– Cái cô Hạnh này hay nhỉ, làm gì đứng đó, lại đây giúp tôi cắm mấy thẻ nhang cho xong – Anh Trác, cố vấn người Việt, nói với cô gái, từ đằng xa.

– Chờ em một chút anh Trác, em còn bận cái này.

Và cô lấy vạt áo lau mấy cái chung men trắng đã lem luốc đất cát, rồi rót rượu vào, rót độ lượng, rót đầy.

– Mời chú Hai cạn chén rượu lạt cuối năm – Rồi cô quệt nước mắt, chạy nhanh về phía anh Trác.

Cô thật bận rộn chuyện thương người.

 

– One, two, three; one, two, three…

– Ba nói gì vậy ba?

Ông Chinh ậm ừ:

– Thì ba nhẩm tiếng Anh cho nhớ.

Nhưng thực ra thầy Chinh đang ghẹo cô Hạnh, cô Nguyễn Thị Ðức Hạnh, (mà thầy tất bật dò hỏi đầy đủ luôn cả họ cùng tên lót, ngay sau bữa tảo mộ,)  đang chạy bộ dọc bãi biển. Cô ta thiệt không giống ai: Chạy nhơn nhơn như mấy bà đầm cố vấn. Cô Hạnh quay lại nhìn ông mỉm cười, má đỏ au au mận hồng đào Mỹ Thuận. Thầy Chinh chép miệng tựa thằn lằn đêm hôm.

Suốt cả tuần sau, thật lạ lùng, thầy Chinh và thằng nhóc vừa ngồi được dăm phút trên bãi biển, lại thấy cô Hạnh chạy tới. Và thấy đếm “one, two, three!”  hoài cũng kỳ, thầy chuyển sang đếm “một, hai, ba!”

– Ba làm gì vậy ba?

– Ba tập nói tiếng Việt!

Lôgích! Nhưng thằng nhỏ chẳng cảm thấy lôgích chút nào, vặn ngay:

– Ba lớn mà còn học tiếng Việt, hả ba!

– Ừ, học, học, học nữa, học mãi…

Thằng cu nghe ba nó nói cái chi đó lạ và kỳ cục quá, bèn không lục vấn nữa, cúi xuống chơi với mấy vỏ sò mà nó cứ tưởng tượng là xe, miệng tu tu.

Mấy hôm sau, hôm Chủ nhật thì phải, cô Hạnh không chạy bộ nữa mà thung dung từ hướng quán nước đi lại phía cha con thầy Chinh. (Ðúng ra chỉ có mình thầy; thằng cu đang đuổi bắt mấy con còng đằng bụi dứa biển gần đó.) Cô mặc một bộ đồ đầm mát trể tràng màu trắng, vải sợi thô, chân quê mà sang, một kiểu thời trang rustique, đầu lại đội một chiếc nón rơm rộng vành xơ xơ sợi lác. (Không biết kiếm ở đâu hay vậy!) Lại gần thấy môi một chút son, má một chút phấn, và một thoáng nước hoa ngây hanh cát biển, phảng phất hoa ngải đảo Nam.

– Cô bữa nay không chạy… ?

– Không đâu thầy… mà thằng nhỏ con thầy cứ lủi thủi chơi một mình, tội nghiệp?

– Cháu cũng hay chơi ô làng vỏ sò với tôi, khá thú vị, không đến nỗi đáng thương như cô tưởng. Cha con tranh nhau thắng.

– Thầy mà lại tranh với cháu nhỏ? Chắc thầy lại giả vờ thua cho cháu vui!

– Ừ, thì cũng có những trường hợp mình phải giả vờ thua để cho người khác vui lòng. Tôi hay thua kiểu đó. Còn cô, cô có phải giả thua bao giờ chưa?

Khi không cô Hạnh ngượng ngập, cúi đầu:

– Hạnh, ngược lại, đã thua thiệt sự. Trong chuyến đi vừa qua Hạnh đã thua… Rồi… có lúc nghĩ có thua thêm nữa cũng chẳng sao… Chạy hoài cũng mệt… Nhiều lúc thua thêm, như thế mà hay…  Mà cháu Phúc đâu?

– Nó bắt còng đằng kia.

– Chuyện Dã Tràng buồn ghê!

– Ừ, buồn.

***

Chiều nắng nghiêng. Thầy Chinh ngồi dưới bóng dừa bờ biển hóng mát cho loãng bớt những chuyện bực dọc cơm bữa. Cô Hạnh nhẹ nhàng đến bên cạnh thầy Chinh, tươi môi, tươi mắt, tươi mái tóc cột cao khoe gáy chờ chi.

– Không cần nhìn cũng biết Hạnh đang đến.

– Sao biết?

– Tự biết lấy!

Cô đấm vào vai thầy Chinh:

– Xạo! – Rồi lôi trong túi xách ra mấy số báo Newsweek, và một chiếc hộp giấy xinh xinh – Em mượn mấy số báo Newsweek mới nhất của cố vấn Anderson cho anh…

– Chà, thích thật! Mười mấy năm mới có mà đọc lại.

– …và em có cắt một lô hình các kiểu xe du lịch trong mấy tờ báo Mỹ cho cháu Phúc bỏ trong hộp này. Hi vọng cháu thích.

– Sao Hạnh biết ý nó hay vậy? Nó rất thích xe.

– Thì có bữa chạy qua đây, thấy nó cứ vừa đẩy vỏ sò, vừa giả kêu tiếng kèn xe: “Tu tu tu. Tu tu tu” mà! – Rồi cô ngập ngừng – Và em cũng có một chút tiền chú của em bên Ðức gởi qua, tiền của hãng bảo hiểm bồi thường cho bà nội em bị xe hơi đụng…

– Vậy sao!? Tội nghiệp bà; xin chia buồn với cô!

– … mà em không dùng gì nhiều, anh cầm mua bánh, mua đồ chơi cho cháu.

Thầy Chinh có vẻ cảm động, nhưng vẫn chống chế:

– Sao biết tôi không có tiền?

– Nghe trên loa rao tên người nhận thư mà bao giờ có tên anh hay tên chị ấy đâu

Thầy Chinh chép miệng.

***

Cái hộp đựng mấy tấm hình xe ấy, thằng Phúc tới nay vẫn còn giữ. Nó đã mười chín tuổi, và lai tính thầy Chinh: hoài cổ, và hay suy nghĩ những chuyện không giống ai. Và nó có trí nhớ thật tốt. Mới đây, khi rời thảo nguyên đi thăm con, trước ngày con qua Berlin học, thằng Phúc kêu ông Chinh vào phòng riêng nó, và chỉ cho ông xem một tấm hình trong tạp chí Photography International6, rồi nói tĩnh bơ:

– Cô người mẫu này giống cô Hạnh hồi bên đảo quá, ba há! Cô gái trong báo cũng dong dỏng, mềm mại, bận bộ đồ mát trắng, đội nón rơm rộng vành, chỉ khác cô này nón có cài một cành hoa hồng còn búp, và có mái tóc vàng.

Rồi nó lại nhìn ông Chinh, chép miệng:

– Không biết bây giờ cô Hạnh ở đâu?

– Cô ấy có lẽ đang ở Berlin. Cô có người chú đang dạy ngành cơ khí ở đó.

– Sao ba biết?

– Sau bữa cô cho con xe giấy ít hôm, cô và ba hay ra tiệm chạp phô Mã Lai… mua kẹo cho con; cô nói với ba cô sẽ định cư ở đó.

Nó trầm sắc mặt lại, nói với ông, bằng tiếng Na Uy:

– Livet er kort, pappa!  (Ðời người ngắn ngủi, ba ạ!)

– Con nói sao!?

– Người Tây họ hay nói “Ðời người thì ngắn ngủi”. Ở đây, nơi Âu châu này, ngoài xã hội, cũng như trong nhà trường, người ta phân tích, phân tích sự kiện, phân tích tình huống cụ thể nằm trong một khoảng không gian, thời gian nhất định; phân tích để giải quyết, để thay đổi, nếu cần.

– Xem ra người Tây họ áp dụng cái triết lý Yin Yang thường xuyên và nhuần nhuyễn hơn người Á  đông mình.

– Vâng, có thế họ mới sống được, và sống hạnh phúc. Người ta không được phép loay hoay quá lâu. Ðấy là một hình thức tự sát.

– Người Việt mình có một đặc ngữ rất hay: Chết dần chết mòn…

– Ðúng thế đó ba! Nhiều, rất nhiều người đã chết dần chết mòn, đã để cho đời mình bị gặm nhấm liên tục, dai dẳng. Những côn trùng nhỏ, gậm mãi cuối cùng cũng đốn ngã được cây lớn, không kém luồng sét đánh, đôi khi hiệu quả hơn. Người ta phải thay đổi nếu cần phải thay đổi.

***

Thảo nguyên mênh mông tuyết trắng. Các cụ cỏ cây đá cuội đang đắp chăn tuyết ngủ khì. Mấy bữa nay ông Chinh chỉ uống trà mật ong cầm hơi. Nghe như cái hóa  kiếp đang dịu dàng đến trong thân thể. Một ngọn tháp7 dựng lên từ tim; và ông đang đứng bên gờ tháp ấy: Nơi đấy thôi chẳng còn gì, chẳng còn đớn đau, bất hạnh, chẳng còn đời. Vậy mà một cái gì đó như nỗi cô đơn vẫn còn lẩn khuất trong cõi vô cùng tranh tối tranh sáng lòng ông; cái khuôn mặt cuối cùng của một đời, mảnh dung nhan gây thương gây nhớ cứ bị xua đuổi tới lui trong vùng  chẳng bao giờ yên sóng trùng dương vọng động. Từ khi cái hạc về Không, nhìn đời nửa mắt, làm chồng nửa thân. Hạnh ngộ, hạnh phúc, hạnh hảo, hạnh vận, bất hạnh, vô hạnh, đức hạnh, đứt hạnh, đứt đường tơ, tơ vò trăm mối.

– Ba, ba làm gì mà lâu bắt điện thoại vậy? Ba hứa với con sẽ luôn luôn mở điện thoại sẵn sàng mà. Ba có sao không?

– Không. Mà con có khoẻ không?

– Con khoẻ mà vui nữa… mà con có chuyện này muốn nói với ba…

– Bộ con đậu học kỳ này?

– Vâng, con đậu.

– Vậy thì ba mừng. Con ráng học, con đừng lo cho ba. Ba hạnh phúc. Hạnh Phúc!

– Ba có Phúc là con, còn cô Hạnh…

– Hả? Con nói gì!?

– … Con đã kiếm được cô Hạnh của ba (nó nhấn giọng) rồi! Ở ngay Berlin này.

– Thiệt không, mà sao kiếm được giữa cái thành phố to lớn ấy?

– To mà hoá ra nhỏ. Con chỉ cần ra mấy quán bán đồ Việt Nam mấy bữa thứ bảy là gặp được.

– Bộ con còn nhớ mặt? Mà cô ấy ra sao?

– Con nghĩ con không thể nhớ lại mặt cô ấy được, vì lâu rồi, cô ấy phải thay đổi, nên con nảy cái ý treo cái bảng các tông trước ngực, có viết hàng chữ lớn: Tôi Cần Tìm Cô Nguyễn Thị Ðức Hạnh, tàu MB 825, Pulau Bidong. Và đứng trước quán này tới quán khác chờ. Nhiều cô cứ tưởng con đang cố tìm lại người yêu xưa, bụm miệng cười.

– Sao con tài vậy?

– Bộ ba không nhớ con là dân Hướng đạo sao? Tháo vát. Nhanh nhẹn.

– Rồi sao nữa?

– Cô Hạnh, cuối cùng, có ai đó nhắn lại, cô đến tiệm gặp con.

– Vậy hả!? Cô ấy nay ra sao? Mà cô nói gì không?

– Cô Hạnh vẫn còn như hồi đó. Cô mời con về nhà nấu phở cho một mình con ăn. Cô nói nếu con thích, con có thể về ở với cô, vì nhà bây giờ chỉ có mình cô. Con nhắc lại chuyện xe giấy cho cô nghe, và nói là con đang học ngành đồ họa công nghiệp. Con còn nói với cô: Khi ra trường con sẽ làm nghề vẽ kiểu xe; biết đâu vẽ được các kiểu xe ăn khách, có lương cao, con sẽ biếu cô chiếc xe thiệt, kiểu của chính con vẽ. Cô mỉm cười và rươm rướm nước mắt…

– Rồi sao nữa? – Và có lẽ  không đủ kiên nhẫn với cái trò mèo vờn chuột nhắt của thằng con láu cá, ông Chinh đành làm mặt dày hỏi dấn – Cô ấy nói gì về ba!?

– Cô Ðức Hạnh nói: “Ðàn ông là cái giống ác độc.”

 

Oslo, 15. 4. 02

 

(1) Trinh tiết…môi: Từ bài Gái Ðồng Trinh, của Hàn Mặc Tử (1912 – 1940).

(2) Hadanger: Thảo nguyên nổi tiếng trên miền cao Hadanger, của Na Uy. Ðẹp não lòng, mỗi mùa mỗi vẻ.

(3) “Con hầu”…: Tản đà dịch từ nguyên tác chữ Hán câu:  “Thị nhi phù khởi kiều vô lực.”  của Bạch Cư Dị, tả quý phi họ Dương, trong bài Trường Hận Ca.

(4) Task Force: Lực lượng đặc nhiệm Mã Lai được sử dụng để trông coi dân tị nạn mà chính phủ Mã Lai hồi ấy, trên giấy tờ, coi như  “dân nhập cư bất hợp pháp mà chẳng có nơi ở” (illegal displaced immigrant) . Người Mã Lai theo đạo Islam, cấm uống rượu, cho nên cấm bán rượu trên đảo tị nạn Bidong, thuộc lãnh thổ Mã Lai. Nên có rượu nấu lậu bằng gạo của Liên Hiệp Quốc phát. Gạo trắng tinh, dẻo, thơm, phát ăn không hết.

(5) Ca diếp: Ðệ tử được Thích Ca truyền cho chính pháp, nhờ ông cười mỉm chi với Thích Ca, khi Thích Ca đưa cành hoa sen trước đám đông nghe Thích Ca thuyết giảng. Ðám đông ấy có tối dạ đến như thế chăng, hay vì lý do nào khác?

(6) Photography International: (Tạp chí) Nhiếp ảnh Quốc te.á

(7) “Một ngọn tháp…vọng động” : Lấy ý từ bài thơ Der Einsame: Kẻ Cô Ðôn, của Rainer Maria Rilke (1875 – 1926) .

 

Nguyễn Văn Thà

 

https://i1.wp.com/www.caycongtrinh.com.vn/_/rsrc/1506998436143/cay-cong-trinh/cay-hoa-gao/c%C3%A2y%20hoa%20g%E1%BA%A1o.jpg

 

 

Bây giờ mỏi bước đường đời

Ði đâu cũng chỉ nhớ trời một phương

Cánh hoa gạo đỏ bên đường

Nhớ nhà rưng rức hồn nương mây về

Nguyễn Thị Vinh

 

Khi Trực đi tù về, tù quá lâu, anh thấy làng xóm thay đổi quá nhiều. Khu rừng sau làng tưởng muôn đời xanh lá âm u, đã bị chặt sạch trơ gốc, và cỏ tranh xâm chiếm.

Một số dân từ ngoài Bắc mới vào cất nhà ở đó, và một số từ những vùng khác ở miền Nam tới, một trong những gia đình đó là vợ chồng ông Quân, mà người trong làng gọi là “ông bà Sài Gòn”.

Ông người Sài Gòn là một mẫu người chừng mực, chừng mực từng lời ăn tiếng nói cho đến bước đi; người ta thấy nơi ông một sự điềm đạm, tuy có vẻ xa cách.

Vợ ông, tên Chiêu, trẻ hơn ông nhiều và giống ông, như cha với con. Mấy tay ba trợn, nhất là mấy tên trảo nha, bắt đầu bàn tán, thèm thuồng thấy rõ; nói tục nói tĩu chuyện chồng già vợ trẻ; có kẻ còn phúc đức tội nghiệp cho bà Chiêu.

Hai người sống trong một căn nhà tranh khá xinh xắn, tươm tất; trước nhà có một giàn bầu, vuông vắn, chỉnh chu che trên một chiếc sân lát gạch thẻ đỏ, có kê mấy chiếc ghế mây và một chiếc bàn cũng bằng mây kiểu của những người nhà giàu Sài Gòn hay dùng; chung quanh giàn, ông Quân còn kê những chậu bông giấy đủ màu, và thả những bụi tóc tiên làm rèm, như một phòng khách ngoài trời.

Có những hôm, trưa nắng, đi rẫy về, Trực thấy bà Chiêu hay ngồi thêu đan dưới giàn bầu, hoặc đọc sách. Ðôi khi đi rẫy qua nhà bà, Trực còn để ý thấy bà hay cài hoa, không phải trên đầu hay bên vành tai, như các cô gái Thượng hay như những thiếu nữ ở các đảo Nam Thái Bình Dương, mà lại ngậm ngang nơi miệng.

Ðôi khi thấy ông Quân ngồi cạnh bà Chiêu, nhìn bâng quơ lên giàn bầu. Thiệt thanh thản ở một vùng, chiến tranh tuy đã hết từ lâu, nhưng chẳng yên ổn gì. Hai vợ chồng không lam lũ gì nhiều. Người ta nghi là họ ra ở đây để kiếm cách vượt biên. Chính quyền xã và đám công an biên phòng để ý theo dõi. Vợ chồng “ông bà Sài Gòn” vẫn bình chân như vại. Người ta ngứa máu bắt ông đi làm thuỷ lợi, nhưng có lẽ ông có tiền, có đủ để làm cái lọng che thân cho những ngày tá túc ở cái xã bát nháo cờ quạt loa kèn. Dần dần con nít trong làng không còn gọi ông bà Quân là “ông bà Sài Gòn” nữa, mà gọi là “ông-bà-hay-cho-bầu”.  Ông bà Quân Chiêu không những hay cho bầu, mà còn cho những người đi rẫy được múc nước mưa thoải mái từ những mái vú lớn trước thềm nhà.

 

 

Một mẩu đối thoại dưới giàn bầu giữa bà Chiêu và Trực, sau lần xin nước mưa thứ…

– Bà cười rất tươi, mỗi khi có người xin nước; tại sao?

– Tôi vẫn ước ao mình là nước.

– Bà tham lắm. Nước là mẹ đẻ của muôn loài.

– A !

– Tôi không bao giờ muốn làm nước.

– A !

– Tôi muốn làm lửa.

– ……

– Lửa làm sôi nước.

– ……

– Lửa đốt cháy.

– ……

– Ðốt cháy tấm lòng.

– ……!

– Ðốt cháy những ước mơ.

– Ðừng! Ðừng!

– Ðốt cháy những bài thơ.

– Ðừng! Ðừng! Ðừng!

Và bây giờ bà Chiêu là nước. Nước mắt. Dập tắt lửa điên vô lối.

 

Lửa điên vượt biển lớn, nước ở lại.

Cuối cùng lửa điên cũng qua được tới Anh; và rồi sóng lớp phế hưng của những vun quén bản thân, dù trong trường hợp của hắn chỉ là vun quén tri thức vô bổ, đã nhận chìm, xoá nhoà mọi chuyện nhỏ lẫn chuyện to của những ngày tháng cũ quê xa.

Nhân dịp thằng em mùa hè lái xe qua Texas  ăn đám cưới một đứa bạn của nó, hắn xin quá giang cốt đến đó để xem cái trang trại làm bối cảnh cho bộ phim tập Dallas trứ danh mà hắn rất thích. Trên đường, tình cờ hắn thấy vườn nhà ai đó có trồng một giàn bầu dài sai trái thòng xuống ảo ánh như những giọt nước mắt cẩm thạch xanh, những giọt nước mắt chỉ có trong thần thoại. Hắn tính nhủ thằng em dừng lại để xem giàn bầu, nhưng lại thôi, vì thấy nó đang vội vã; sợ làm phật lòng nó, nó lại cáu, làm tan đi khung trời lơ mơ cũ của mình, và biết đâu nó lại mắng tạt vào mặt; vậy mà chạy thêm cả chục cây số, nó bỗng buột miệng:

– Anh Trực có còn nhớ ông-bà-Sài-gòn-hay-cho-bầu không? Hồi tui về Việt Nam người trong làng kể lại là sau một đêm gió mưa, sáng trời tạnh, đi rẫy, người ta chẳng những không còn thấy ông bà ấy đâu nữa, mà ngay nhà của họ cũng biến mất, chỉ còn rơi rớt lại mấy lá bầu xanh. Người lớn thì đinh ninh rằng hai ông bà đã đi lọt rồi, và cho rằng đám dân ngoài rẫy đã hôi của, lấy đi không những đồ đoàn trong nhà, mà cả cột kèo, rui mè, tranh lạt cũng dọn đi sạch bách trong một đêm, và bọn họ phải kín miệng vì sợ công an. Nhưng mấy đứa con nít lại khơi khơi nói là ông bà ấy đã bay lên trời rồi.

Khi đi quanh quẩn dưới những giàn hoa hồng đài các sang trọng trong trang trại ở Dallas, hắn lại nhớ tới giàn bầu cũ, và nghĩ miệng mấy đứa nhỏ chắc là thiêng, là đúng, vì những người có lòng lành như thế thường không ở hẳn một nơi mà hay cỡi mây lướt gió đi gieo hạnh phúc cho người.

 

Khu kinh tế mới La Ngà, nằm cách quê hắn khoảng năm mươi cây số, cạnh trại cải tạo Ðức Linh, còn gọi là khu kinh tế mới người Hoa vì đa số là dân từ Chợ lớn bị đưa tới định cư ở đó. Mới tới mấy năm mà họ đã khai hoang được hàng trăm mẩu đất trồng mía và có giàn máy sản xuất đường. Cuộc sống của họ bắt đầu phồn vinh, phồn vinh thứ thiệt, bởi  làm kinh tế là nghề ruột của người Hoa. Ða số nói sõi tiếng Việt, nhiều người còn nói y boong giọng Sài Gòn, không nói lớ kiểu như kép Văn Chung hay diễu. Họ vẫn lịch sự với đám cán bộ quản giáo, cán bộ canh tù mặt sắt thỉnh thoảng ra hạch sách kiếm chác. Với tù cải tạo họ vui vẻ, tuy kín đáo; lén lút dấm dúi cơm, đường, những miếng đường quý báu cho đám tù đói khổ thèm ngọt, và những quả bầu từ những giàn bầu xanh biếc, sai quả trước nhà họ.

Riêng đối với hắn, những người Tàu ở đó còn cho hắn một món quà khác, đó là màu đỏ rực trời của hai cây hoa gạo mà họ đã chừa lại giữa làng không đốn. Những bữa trưa nắng chang chang, vác bao lúa cả năm sáu chục ký, nặng, xót xáy, lội quảng đường lầy lội cả chục cây số về trại, thấy được bóng hai cây gạo đỏ rực xa xa, hắn lại mỉm cười đỡ khổ. Hai cây gạo cao lớn, cành đen bóng, đường hoàng ngự trị, tuổi cây dám cả trăm năm, nhưng chúng cứ như còn đòi vươn lên, vươn lên mãi cho đã, cho thoả chí bình sinh; chưa có những lớp vỏ sần sùi, vì dường như đất màu mỡ, ánh mặt trời quanh năm, mạch nước sông La Ngà làm cho chúng trẻ mãi, tạo cho chúng cái dáng hiên ngang bóng lưỡng hạnh phúc như của những lực sĩ chạy trăm mét huy chương vàng Mỹ Da đen. Nghe nói ông chủ làng là một người Hoa trước đây có học kinh tế ở Hương Cảng về. Ông tổ chức thành công vùng kinh tế mới về mặt kinh tế. Hắn nghĩ ông và các người đưa đến quyết định không hạ hai cây gạo đỏ để lấy thêm đất trồng trọt là những Hồ Dzếnh mới.

Họ để lại một màu đỏ chứa chan hi vọng. Cái màu đỏ ấy khác màu cờ rất nhiều. Nhìn và cứ muốn nhìn mãi cái màu của sự sống, của máu đang luân chảy châu thân, loại máu tốt chưa vướng phải thán khí hoặc một loại vi trùng độc hiểm nào. Hoa gạo rơi đỏ cả nền đất bùn đen, như một tấm thảm điều Ba tư hạnh phúc, vẫn giữ nguyên màu sáng thế tươi nguyên.

Người Tàu ở đó còn kiến tạo cả một cái phà vận hành bằng dây cáp bắc ngang sông. Người Hoa dùng, dĩ nhiên; và nhà nước của trại cải tạo cũng sử dụng miễn phí, hay còn gọi nôm na, xài của chùa. Cái phà đã giúp cho công việc khai thác rừng và làm ruộng của trại, góp phần mang lại lợi tức khổng lồ cho nhà nước. Tuy người Hoa đã khéo léo làm hài lòng kẻ có quyền, chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, nhưng rồi, đầu năm 1981, mấy tháng sau khi hắn ra khỏi biệt giam, được đưa trở lại toán 4 sản xuất, khi toán dừng bên bờ sông La Ngà chờ phà, hắn thấy phà còn đó, nhưng nhà cửa bên kia sông của người Tàu, lớp bị phá, lớp bị cháy rụi, chỉ còn trơ lại những nền đất. Mấy cái hộc thờ thần, cái còn ngay, cái nghiêng ngả nhưng màu sơn chưa kịp ngả màu sương gió, còn đỏ tươi, những đống rác lem nhem, những mảnh áo quần chưa cháy hết, giấy má cháy dở bay tấp vào những bụi hoa dâm bụt, bụi gai.

Hắn nghe các bạn tù xì xào. Tiếc. Kẻ thì tiếc cục đường, miếng bầu, tiếc những vắt cơm của các nị, các ngộ, có anh lại xót vì các Hoa nữ mắt lá răm mất dấu mất tăm.

Nguyên do có lẽ là từ ngày có khu kinh tế mới người Hoa được thiết lập cạnh trại, tù trốn trại ngày càng nhiều và thường là lọt. Có một số bị bắt lại; và nghe đồn là những kẻ bị bắt lại khai là họ có nhận được sự giúp đỡ của người Tàu, nhưng cũng có lẽ chính quyền muốn chiếm đoạt hàng trăm mẫu mía đường tốt tươi của người Tàu để cho trại tù khai thác.

Một buổi trưa được phép nghỉ dưới gốc cây gạo để ăn trưa, hắn lúi húi luợm mấy bông gạo về phơi nấu nước, hắn bỗng thấy có mấy mảnh giấy cháy dở dính quanh một cục bùn đen khô. Vốn là người mê chữ, hắn vạch vạch phủi phủi xem thử, thì thấy một mảnh có in một bài thơ tiếng Anh nói về những tiếng chuông, hắn đã đọc đâu đó, nay đã quên tên tác giả; một mảnh khác cũng toàn tiếng Anh, ghi danh mục các đại học của Anh, có nét bút nguyên tử, có lẽ là loại bút Bic ngoại (vì, dù đã lấm lem mưa gió, nét chữ vẫn chưa nhoà) gạch dưới chữ Columbia University, gạch đậm nhiều lần, và còn viết kèm bên cạnh mấy chử Hán “Vị hà! Vị hà! – Tại sao! Tại sao! ” , với những dấu chấm than vẽ hình những giọt nước mắt to, và chúng cũng có vẻ giống như hai chiếc đinh đóng tàn nhẫn xuống, nếu căn cứ theo nét sổ sắc mạnh mà đoán; lại có cả một mảnh giấy hoa tiên có lẽ là từ một tập thơ do nhà xuất bản Hoa Tiên ấn hành, có in bài thơ tiếng Việt, cháy lem nhem:

 

Hôm qua… (cháy lăm nhăm) …về

Với một cành hoa gẫy

Sương nặng gieo đầu tre

Lạnh tràn theo gió đẩy

(lem nhem vài dòng, đọc không được.)

 

Ðêm qua bên láng giềng

(chữ lại mờ quá, không đọc được.)

 

Cô gái nhỏ thung dung

Qua miếng vườn hoa nhỏ

Ðất nằm im dưới cỏ

Hoa tạ màu nhớ nhung1

(cháy từ đây trở xuống; hắn không biết bài thơ còn thêm câu nào nữa không.)

 

Bài thơ nước Việt, câu thơ xứ Anh, và tên một nơi chốn nâng trí tuệ con người lên cao, bị dính chặt vào cục đất đần độn. Ba số mạng bùn bị trộn với trùn. Hắn khẻ nhẹ cục bùn khô, cẩn trọng bóc, và cuối cùng cứu được ba mảnh giấy. Cho giấy và cho mình. Cục đất và những bầu trời vời vợi. Vết cháy và những suối nguồn lộng lẫy. Và hắn cứ đinh ninh sở hữu của ba mảnh giấy ấy phải là của một cô gái. Con gái mới có những giọt nước mắt lớn, mơ ước trùm trời, và thù hận dữ dằn như thế! Qua hàng chục lần kiểm tra đột xuất, rồi chuyển trại mấy lượt, hắn vẫn giữ được ba mảnh giấy lem luốc ấy như  những chứng từ duyên trái vu vơ.

Một năm sau ngày khu kinh tế mới La Ngà bị dẹp bỏ, hắn được thả. Hắn nhẹ tênh qua sông, nhìn lại khu kinh tế mới, nhìn phế tích của những gượng dậy gãy gục mà hắn biết hắn khó mà quên.

 

Sau khi tốt nghiệp khoa khảo cổ, chuyên ngành trùng tu cổ bản, hắn, hên, được làm việc ngay tại đại học Columbia, nơi hắn tốt nghiệp. Hắn là người có công phục chế một số văn bản quan trọng mới tìm được hoặc tìm được đã lâu nhưng chưa được xử lý đúng mức, như bản cổ thư bằng đất nung Kinh Uống Rượu mới đào được từ dưới chân tường cổ thành của người Assyria, nay thuộc Irắc; bản Kinh Têm Trầu, một loại sutra tối cổ viết trên thẻ lá dừa của Ấn độ; và một cuốn khác mới được một du khách Mỹ tình cờ tìm được ở sa mạc Gobi, mà có lẽ Thành Cát Tư Hãn (người rất thích tìm hiểu các trào lưu tư tưởng kiến thức từ các thày cả giáo phái Kitô giáo Nestorien xa lắc cho đến các thày chùa Trung Hoa láng giềng) đã tịch thu từ các thư khố triều đình Trung quốc, và đã đánh rớt trên đường về quê chăng? Sách có tên Âm vực Biểu tượng Kinh, khắc trên xương, có từ đời nhà Thương; đã được nhà xuất bản Chiêu Dương, Hương Cảng, chụp, và in lại bằng khải tự  năm 197… Sách đã gây xôn xao dư luận một thời ở đó, cũng như ở các trung tâm Hoa học của các đại học trên thế giới, vì sách viết về nhiều chuyện có tầm mức quan trọng đến nỗi nó làm người ta phải xét lại lịch sử cổ đại Trung Hoa mà, qua các triều đại, các sử gia đã cương ẩu hơi nhiều. Ngoài ra, trong sách có một chi tiết nhỏ: Vua Thần Nông, vị vua thích hoa cỏ nhất của Trung quốc vào cái thời mà tiên nhiều hơn người, đã khuyên các cô gái đồng trinh (xử nữ) nên cài hoa ở hạ địa khẩu, hầu xua đuổi tà thần một sừng, mà chữ Hán gọi là độc giác chi quỉ. Hắn rất ngạc nhiên khi đọc đến đoạn này, nên sau đó đã tò mò đọc các cổ thư, tài liệu khác của Tàu để xem lời khuyên trên vua Thần Nông có cái ý bậy bạ như hắn chợt nghĩ, hay đây chỉ là một món thuốc vườn chống độc trùng mà ngài tổ sư thuốc bắc Thần Nông kê cho các cô mới lớn. Một trong những tài liệu hắn tình cờ đọc được đó là một phúc trình của các nhà khảo cổ Trung Hoa đăng lại trong tạp chí khảo cổ của viện đại học Hương Cảng đề cập đến những khám phá mới về nền văn minh thuộc lưu vực sông Dương Tử. Hắn thấy trong bản phúc trình đó còn có một hình chụp một cái chum bằng đất sét nung có chạm nổi hình một đoàn thiếu nữ vén váy qua khe, có cô ôm bầu trái, có nường ngậm hoa gạo ngang miệng, và dưới hình chạm còn lờ mờ hàng chữ viết bằng cốt giáp tự: xử nữ quá giản – gái trinh qua khe. Hắn suy nghĩ không biết chuyện ngậm hoa gạo ngang nơi miệng của các nàng gái trinh này và chuyện cài hoa ở hạ địa khẩu theo lời bảo ban của ngài Thần Nông kể trên có sự liên quan nào chăng; hoặc giả chuyện ngậm hoa gạo ngang nơi miệng như thế chỉ là một tín hiệu của các nàng đã tới tuổi cập kê gởi các chàng tài tử phong lưu.

Và thỉnh thoảng hắn cũng được mời nói chuyện trong một số chương trình truyền hình tạp lục của Anh, nói về những đề tài lẩm cẩm kể trên.

Khoảng một tuần sau buổi nói chuyện cuối cùng, về đề tài hoa gạo trong khảo cổ, hắn nhận được thư do đài chuyển, viết bằng tiếng Anh. Thư có cái văn phong cẩn thận của người ngoại quốc chưa dám phóng bút. Trong thư, vị đó thắc mắc một câu có hơi ngoài lề: Tại sao ông Trực là người Việt Nam qua Mỹ tị nạn – giống dân mà người nào trong đầu cũng đều có một ông vua – không chọn học những ngành hái ra tiền mà lại chọn cái ngành, thứ nhất, tốn nhiều thời giờ để học cho tới nơi tới chốn, thứ hai, lại là cái ngành chuyên phủi bụi thời gian như thế. Hắn đọc thư, tự nhiên lên đồng, viết thư trả lời ngông: Chẳng qua vì hoa gạo ven sông; và sợ người viết thư không biết cây gạo là gì, hắn còn chú thêm tên cây bằng tiếng La tinh cho đúng bài bản, và còn giới thiệu cuốn Cây cỏ Việt Nam  của Phạm Hoàng Hộ, và cuốn Thực vật Á  châu Nhiệt đới của James Lin để xem cho tường.

Thư đi đã lâu mà hắn chẳng nhận được một lời phúc đáp bình phẩm gì về lá thư, nhưng rồi hắn cũng quên như đã từng quên bao nhiêu ngông ngạo trong đời. Và hắn nghĩ người gởi hẳn cũng hối tiếc cho cái xốc nổi vô ích tốn thời giờ của mình, vì đã mất công gởi thư, mà lại nhận được những lời lẽ mát giây như thế.

Trong một buổi họp mặt thường niên của các cựu sinh viên đại học Columbia, toàn ông to bà lớn. Có cả người tận bên Ðài loan, Hương Cảng, và bên Nhật qua. Ai nấy đều hỉ hả. Quần áo lịch sự chải chuốt. Ðỏ rượu chát sum vầy. Họ là những người thành công, những kẻ bận rộn với cái hiện tại ngon lành của mình và cũng muốn thông báo cho mọi người biết cái ngon lành của mình dưới những bộ dạng, lối nói đầy khiêm tốn. Hắn cũng là một người đã tốt nghiệp nhưng không thành công được như họ. Vẫn chiếc quần jeans, áo sơ mi rẻ tiền và chẳng được phẳng phiu như những tờ cổ thư hắn chỉnh lý. Hắn là con người của những cổ bản hơn là cổ phần.

Xôn xao tiệc rượu vườn ngoà, cỏ cây xanh nõn một màu, nhưng đằng góc vườn đứng bơ vơ một cây du Nhật Bản mỏng manh lá đỏ. Ðỏ rượu chát sum vầy, máu bầm lữ thứ. Và xuân tuy mới sang, vậy mà lá du chưa chi đã đan kín cành, nhưng lá còn mềm, chưa cứng đủ để lao xao tiếng loài người, ví dụ, “Chào… anh cây gạo.”

Huống hồ còn bằng giọng Sài Gòn ngọt ngào.

Lại càng là chuyện không thể.

 

Oslo, 02. 07. 02

 

(1) Ðêm qua thu…: Nguyên bài thơ với tựa đề Thu, của Huy Cận: Hôm qua thu mới về, Với một cành hoa gẫy Sương nặng gieo đầu tre, Lạnh tràn theo gió đẩy / Thu tới trong vườn bên, Ngợ ngàng màu cúc mới. Ðêm qua bên láng giềng, Êm tựa nhàn thu tới /  Cô gái nhỏ thung dung, Qua miếng vườn hoa nhỏ. Ðất nằm im dưới cỏ,  Hoa tạ màu nhớ nhung. (Thi sĩ Bùi Giáng, trong cuốn Ðường đi trong rừng, cho bài thơ này là bài thơ mùa thu hay nhất trong nền văn chương thế giới.)

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Văn Thà

https://i0.wp.com/a9.vietbao.vn/images/vn899/150/2018/06/20180622-me-hoac-ve-dep-cua-co-nguoi-mau-da-den-nhu-than-1.jpg

Trực được cha mẹ thương nhiều. Thương nhiều, và thương khác thường, vì anh là con trai một, và cũng vì cuộc đời anh nhiều gian nan.

Khánh Hội vốn là nơi quần tụ của những tay anh chị. Sau năm 75 lại còn  là nơi lẩn trốn của những thành phần có tội với nhà nước; thường là những tội chẳng liên quan gì đến chuyện lật đổ chính quyền: tội hình sự, trốn kinh tế mới, vượt biên không lọt. Trực phạm vào loại tội cuối cùng, cũng vào trốn ở đó.

Trước đó Trực cũng đã cố lẩn tránh trong các khu rẫy hẻo lánh của người quen ở Long Khánh nhưng không ổn, vì những con mắt bao dung hiền lành của dân quê bao thủa đã thoái hoá bởi cái chính sách hộ khẩu vô nhân của nhà nước mới. Rồi vào ở đại nhà bà cô ở quận Một, Sài Gòn, cũng không yên với những con mắt thị thành. Những con mắt trần gian1. Cái chế độ kiểm soát đường đi nước bước của người dân như những vòi bạch tuộc khổng lồ vươn ra cả nước. Nó xoi mói, nó bóp nát con người.

Nhưng ở Khánh Hội cái vòi bạch tuộc gớm ghiếc đó bị tê liệt phần lớn. Một phần vì công an khớp, một phần các tay anh chị xem ra bận rộn vì những chuyện khác ngon lành hơn là chuyện tâu trình. Và đấy cũng là nơi sinh sống của những người dân hiền lành bình thường như gia đình ông y tá Ðức, gia đình cô gái đối diện nhà ông…

Nhà ông y tá Ðức là một loại nhà sàn khá tươm tất cắm trên một đám sình bên đường cùng với mươi cái chòi xập xệ chung quanh. Nhà ông lan can nho nhỏ,  cái bằng tre khá nghệ thuật. Ở một góc gần cửa ra vào, chổ nối liền với cây cầu nhỏ khum khum vươn ra đằng ngõ hẻm, đặt một chậu hoa giấy cao cả thước; lá trốn đâu hết, cây cành kết kín bằng muôn trái tim hồng he hé; ngàn cánh hoa nhẹ nhàng thanh khoái như những lá tình thơ đầu đời của những nàng thiếu nữ một lần ghé qua cài lại. Phía trên chậu hoa, lủng lẳng một bảng hiệu vuông, đã nhạt màu, có vẽ hình chữ thập đỏ chiếm gần hết bảng, và dưới chữ thập đỏ là hàng chữ: Y tá Trần Hữu Ðức, 25 năm  kinh nghiệm. Chữ viết nghiêng, màu xanh lơ đậm, khá mỹ thuật của những bảng hiệu ở Sài Gòn trước kia. Nhà ông xinh xinh như một nhà mát ven hồ.

Trực nghĩ các người sống trong những mái nhà sàn này chắc là đã quen với mùi sình, nếu không thì làm sao người ta, như ông y tá Ðức chẳng hạn, có thể sống ở đây ngày này qua ngày khác, đã thế còn đủ ung dung để chăm bón được một chậu hoa giấy thơ mộng như vậy. Lúc Trực còn lóng ngóng trước cầu khỉ tính vào nhà ông y tá để nhờ chích thuốc lao, anh còn nghe được cả tiếng ca vọng cổ mùi rệu từ nhà ai cuối đầm: Mười năm tình cũ dìa đây  Ðầm sen hương  mới  anh Hai cưới nàng  Tình tang ơi ới tình ớ tang Sen bao nhiêu cánh thương nàng bây ầy ấy nhiêu… Và có cả tiếng cô nàng nào đó đang hát tân nhạc, nhạc Trịnh Công Sơn, nghe đâu như: Mùa Xuân yêu em  Ðồi núi thênh thang Hồ nước long lanh ngàn cánh vàng.

Rồi Trực, cũng như họ, quen dần, và sống ở đó được cả sáu tháng. Gần chục năm nay, có thể nói đây là thời gian êm đềm nhất của Trực. Êm đềm vì không phải lo lắng gì chuyện cư trú, dù chỉ là tạm trú.

Chính ông y tá Ðức, sau khi chích mũi Streptomicine, bắt đầu rà rà hỏi chuyện Trực, và khi biết anh cần một nơi ở tạm để trị bệnh, ông cười hề hề:

“Cậu cứ ở đây với chúng tôi, vụ hộ khẩu khỏi lo.”

“Sao mà ngon lành quá vậy!? ” – Trực kêu lên, sướng như hồi nhận được giấy phòng thích hai năm trước đó.

Nói như thế quả không ngoa chút nào cả. Vì lúc trước, tuy phải ở trong tù lâu năm, nhưng những  năm dài trong vòng giam hãm của những con người đại diện cho một chế độ chủ trương và áp đặt một  ý thức hệ tồi tệ nhất trong lịch sử văn minh loài người, Trực đành chấp nhận nó như một thiên tai. Nhưng khi được thả về, lòng Trực vẫn còn hy vọng, không phải về cái ăn cái mặc mà Trực biết đã tả tơi lắm rồi, nhưng ít nhất về những cái cội rễ làm nên con người vẫn còn đó, dù có phôi pha. Thế mà, khi về  quê, Trực bàng hoàng nhận ra là niềm hi vọng về một nhân tính tương đối như thế cũng chỉ là ảo vọng. Những người quen, những người chòm xóm của anh, trước đây tắt lửa tối đèn có nhau, nay làm cái chuyện tố giác người khác một cách rất tự nhiên. Nhiều người đã biến hình như thế. Quá nhiều. Ðấy là lý do làm Trực phải trốn chui trốn nhủi mấy năm nay. Phải chăng bốn tên trảo nha đóng chốt ở xã Bình Trị của Trực, chỉ trong vòng mấy năm, đã thành công trong việc đập tan cái lòng nhân ái mà tổ tiên bao đời ra sức dạy dỗ, bồi đắp? Có  còn gì để mà tin vào tính bản thiện của con người được nữa không?

Vậy mà chỉ sau mấy tháng ở quận Tư Khánh Hội, Trực cảm thấy dần dần tin yêu lại con người. Anh ở đấy sáu tháng, không một lần bị hỏi hộ khẩu. Nghĩa là những tay du đãng, những chị bán dâm, dân xích lô, chợ trời, chẳng ai hơi đâu đi làm cái chuyện đâm thọc, dù họ biết dư anh chàng thanh niên ở trong nhà ông Ðức, không trốn nghĩa vụ, trốn kinh tế mới, cũng trốn vượt biên. Y tá chích thuốc đâu mà chẳng có, việc gì mà phải tốn tải  ăn ở nhà ông Ðức y tá tay ngang!

Nhờ tiền công chích thuốc, tiền thuê nhà (thuê giường thì đúng hơn) Trực trả, ông bà Ðức có thêm một lợi tức nhỏ để đủ mua ngày vài lon gạo mốc, dăm mống cá nhỏ, một bó rau muống, và một bó que củi bần nằm lọt trong lòng tay. Trực còn là người để ông quảng cáo cho các bệnh nhân khác tài nghệ chích thuốc của ông: “Cái anh Trực này bằng này cấp nọ cũng chịu là tui chích hay…”  dù Trực chẳng bao giờ nói về cái thành tích học vấn vốn  chẳng có gì đáng hãnh diện của mình. Chắc có lẽ vì đôi kính cận, vì cái thói hay đọc sách.  Và xem ra cũng vì thế mà con nhỏ nhà bên kia đường hay lảng vảng trước thềm làm ra cái vẻ đứng hóng mát nhìn qua nhà ông Ðức.

“Bà Ðức ơi, con nhỏ nhà trước mặt tên gì vậy?”

Ông Ðức đỡ lời ngay:

“Người ta con nhà cách mạng, con cán bộ gộc nằm vùng đó ông! Con nhỏ tên là Phượng Vân, đang học trường cao đẳng nghệ thuật thành phố. Nó cứ bị tụi trong xóm gọi là “Vân Mát”. Có lẽ vì cái tính nó cứ hay nói những chuyện tàng tàng không giống ai. Ðang học, bỏ ngang… Gì thì gì,  đừng có xớ rớ mà chết đó nghe ông. Ông như cá nằm trên thớt.”

Bà Ðức cười:

“Cứ gì mà phải vướng vào cô ấy. Mù loà đã lâu như tôi mới thấy rằng tấm lòng mới đáng quí. Như con nhỏ Dên Ðen thỉnh thoảng qua giúp nấu cơm nấu nước cho chúng tôi đó! Nó thật tốt; mà bơ vơ tội nghiệp. Cha thì đã đành rồi, còn mẹ, mà mẹ bỏ đi đâu, cả năm sáu tháng giời nay chưa về. Hay là mình nói với nó nấu nướng giúp cho cậu ấy, rồi cậu giả công cho nó.”

 

Ðêm đã sâu lắm, những thoáng gió khuya mát lành, nhẹ nhàng như những vạt áo lụa vô hình rón rén lướt qua khu phố loài người lúc này đã xếp lại cái nanh vuốt của mình. Cái sột soạt của gió làm cho đêm càng thêm yên ắng. Ðường phố nhỏ bày ra những đìu hiu thường tại mà nắng ngày lấn át mất tăm, cái đìu hiu nẻo về quê cũ mà thị thành tàn nhẫn xua đi.

Ðàn bò vào thành phố, đêm buồn vắng buồn hơn  Ðàn bò vào thành phố, không buồn ai hỏi thăm Ðàn bò tìm giòng sông nhưng giòng nước cạn khô Ðàn bò bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn Rồi một hôm đứng mơ mây ngàn…2

“Ðêm khuya khoắt mà ai đang hát!?”

“Em, em đang hát về những lạc loài muôn kiếp nhân gian!”

“Mà cô là ai ?”

“Em là anh… anh… anh… anh…

Và anh cũng là em… em… em… em…”

Nghe  như vọng âm  dội về  từ Ba Ngàn Thế Giới.

Rồi tình âm lọt thỏm về Vô.

 

Ðài truyền hình CBS độ rày hay thực hiện và trình chiếu các chương trình về Việt Nam thời hậu chiến, một cuộc chiến mà họ kiếm được bộn bạc, và giờ còn muốn kiếm thêm nữa. Ðó là chương trình về các cựu chiến binh Hoa Kỳ đang lâm vào cảnh khủng hoảng tinh thần, sa đọa nghiện ngập; hoặc về những chuyến đi thăm lại chiến trường khủng khiếp mà thủa thanh xuân họ đã phải trải qua, hối hận khóc lóc, cạnh mấy anh nón cối hom hem gân cổ tung hô thần thánh.

Hoặc những chương trình về các con lai Mỹ.

Phim có đoạn chiếu cảnh các cô gái Việt lai Da đen đang làm việc trong các xưởng lắp ráp điện tử, hoặc trong các viện bào chế dược phẩm. Cô nào cũng áo khoác làm việc trắng tinh, mủ trùm đầu cũng trắng, có cô còn đeo cả kính cận, trông ra cái vẻ giai cấp tiên tiến cùng mình. Họ nói tiếng Mỹ giọng vẫn còn lanh canh tiếng rao hàng gánh; và tiếng cười họ trong trẻo, mà dù có kiểu cọ  mấy, cũng vẫn không dấu đi đâu được cái gốc con cô Bảy, thím Ba. Có kẻ thành công có, nhưng cũng có kẻ thất bại.

Rồi tới khúc phim giữa, trình chiếu một người mẫu đang nổi tiếng người Việt lai Mỹ đen Black Lotus. Cứ theo lời bình luận của chủ nhiệm tạp chí thời trang Idol, vốn là một nhà văn làm phóng viên ở Việt Nam lâu năm, thì nàng có thân hình hấp dục của những loài mãnh thú cái Phi châu, nhưng đôi mắt nàng là đêm sao xứ Việt, và người ta có thể nghe từ trong đôi mắt ấy tiếng sóng Biển Ðông u uẩn niềm riêng.

Khúc sau chiếu cảnh gia đình êm ấm của kiều nữ Black Lotus. Có tiếng nhạc Jazz thấp thoáng dấu chân du mục. Nàng cười an lành cạnh anh chồng người Việt  da vàng. Và nàng tựa má lên đỉnh đầu chồng mình, tay phải vòng qua ngực chàng và bám lấy cổ chàng như gìn vàng giữ ngọc. Phóng viên còn cho biết thêm: Chồng cô làm nghề quản thủ thư viện, lương chỉ bằng một phần năm mươi của Black Lotus; hai người đã có một con trai, tên cháu là Truc; Truc dịch ra tiếng Anh có nghĩa là Integrity, mẹ cháu cho biết thêm như vậy.

Cuối thu. Trực còn hai tuần nghỉ phép chưa đụng tới. Con nhỏ đốc công cứ hối Trực đi nghỉ để cho cô ta dễ thu xếp nhân lực cho mùa Giáng sinh bận rộn nhất trong năm.

Và, sau khi đã gởi tiền về giúp người thân ở Việt Nam, cái nợ lòng cả năm nay coi như thực hiện xong, Trực cảm thấy thanh thản. Và cái thanh thản đó biến thành lâng lâng lúc Trực bấm máy biết trong trương mục cũng còn kha khá, rồi cái lâng lâng đó trở thành sung sướng, khi thấy số tiền đó đủ cho anh làm một chuyến du lịch, du lịch sang Nga!

Hồi ở Việt Nam, Trực đã mê mùa thu Nga La Tư qua những bức tranh vàng rượm màu thu thần thánh với nét cọ hào phóng của Levitan, in lại trong những cuốn tranh giới thiệu các danh hoạ Nga anh mua được ở nhà Fahasa. Mới đây lại đọc được mấy bài ký Nga du của PPM; tác giả viết về đá Nga thiệt hay. Rồi chợ Vòm ở Mạc Tư Khoa, cái chợ mà, qua bài viết của một người đã từng lăn lộn ở Nga, cho thấy cái sức sống mãnh liệt của Con Người Việt, cái giống người, như loài lan rừng, chỉ cần một chút vỏ cây mục, hay một hốc đá, và một chút ánh sáng là có thể sống, lại còn vươn lên đẹp đẽ. Và rồi những giáo đường củ hành danh tiếng. Công trường Ðỏ, điện Cẩm Linh. Ấy là chưa kể cái xác của ông Lê Nin, cũng nên xem cho biết, để xem cái xác đó là xác thật hay chỉ là búp bê bằng sáp như lời đồn đãi về cái thi hài hiện nay của người học trò kiệt xuấ tcủa ông, ông HCM.

 

Mạc Tư Khoa cuối thu linh thiêng lắm! Cái linh thiêng của trời biếc, của màu thu phô ra lần chót trước khi bước vào cửa tử.

Những ngày như thế không gì thích hợp cho bằng đi thăm những nhà thờ củ hành với cái lối kiến trúc nhắc về một cõi huy hoàng siêu việt, mà con người hoặc hờ hững, hoặc chối bỏ, nhưng chốn vĩnh hằng ấy vẫn kiên nhẫn chờ mong.

Nhà thờ của tu vịện Chúa Ba Ngôi, bắc Mạc Tư Khoa, lộng lẫy trong trời xanh độ lượng nắng tơ ươm, với những chóp đỉnh vươn lên tràn trề sức sống hiến dâng như những bầu vú vun tròn của Bà Mẹ Nga rộng rãi ban tặng cho con cái mình giòng sửa sung mãn từ những cánh đồng Nga đất đen màu mỡ lúa khoai.

Mới sáng sớm mà trước nhà thờ đã nhiều du khách, có cả du khách đầu đen châu Á. Chắc là người Nhật, (cứ nhìn cái kiểu lúc nào cũng cứ lăng xăng chụp ảnh cũng đủ biết) , ngoại trừ một thiếu nữ đang đứng yên lặng ngắm nhà thờ; cô như đang uống cho bưa cái tuyệt vời của công trình con người đang giao hoà với vẻ rỡ ràng Tạo Hoá. Trực bỗng nãy ra cái ý định làm quen. Biết đâu lại xảy ra nhiều chuyện hay: Hỏi cô ta về mùa thu Hoa Cúc Phù Tang; và biết đâu lại được nghe những bài hài cú mong manh lá thu, xót xa sương núi. Why not?  Và biết đâu chừng -Trực cười nụ – tơ vàng nhân ngãi lại có dịp trói đời hai người! Vì mùa thu là mùa của kiếm lạnh ghê người chặt đứt mọi phồn tạp lá hạ, thu về những mạch sống chưa chung.

“Con ni chi wa! Anata wa Ni hoóng dìn đề xừ cá?”  (Chào cô, cô có phải là người Nhật không?)

Con nhỏ người Nhật xoay lại, sững sờ nhìn Trực, và kêu lên bằng tiếng Việt, lại còn chơi luôn một hơi giọng Sài Gòn, gấp gáp như trời sắp sập đến nơi:

“Trời ơi, có phải anh Trực đó không? Em là Phượng Vân, ở Khánh Hội, nhà trước nhà ông y tá Ðức hồi đó đây… Anh là Trực đây mà! Gặp anh mừng ghê… Anh Trực biết không, em linh tính thế nào cũng gặp lại anh… Mà anh ở nước nào sang đây vậy?”

“Vâng, tôi nhớ ra cô rồi… Tôi từ Mỹ sang, mà cô sang Nga từ hồi nào?”

“Em sang đây làm mướn cho người Nga, đã năm năm, sau khi anh bỏ Khánh Hội ra đi mấy hôm. Hết làm thuê rồi. Em có sạp hàng đằng chợ Vòm. Hôm nay bỏ một bữa chợ đi xem nhà thờ.”

“Tại sao?”

” … Tại vì Trời Ðất dun dủi, tại vì em mê môn lịch sử kiến trúc giáo đường Nga… Mà mình ra cái quán cà phê đằng kia nói chuyện cho ấm.” – Rồi bỗng nàng nửa đùa, nửa nghiêm trang – “Và anh Trực nghe đây!”

Trực trố mắt:

“Nghe cái gì?”

“Lần này em không để cho cái phẩm hạnh vớ vẩn nào đó làm tuột anh một lần nữa. Lần này em nhất quyết bắt cho được anh!”

Nàng ăn nói như thể nàng đã viết sẵn kịch bản cho hai đứa, kịch bản về một cuộc đời chung đôi, mà nàng đã viết vụng về khi còn ở bên quê nhà Khánh Hội.

 

Mẩu đối thoại trong quán:

“Phượng Vân nói là Phượng Vân linh tính có ngày sẽ gặp tôi?”

“Em cứ linh tính như vậy, không biết tại sao. Anh biết không, nhiều lúc cái gọi là linh tính cũng có dựa một phần nào đó trên những yếu tố khả thi? Ví dụ em sẽ gởi thư hỏi ông bà Ðức về địa chỉ của anh. Ông bà ấy đã dùm bọc anh một thời gian khá dài, trước khi anh có cơ hội vượt biên. Nếu không có ông bà, biết đâu bây giờ anh đang kẹt trong một trại cải tạo XYZ nào đó. Chẳng lẽ anh lại không tỏ lòng biết ơn ông bà ấy, dù chỉ bằng một lá thư? Và, ví dụ, em sẽ đăng báo tìm anh; anh là con người thích sách vở mà lại!”

“Như vậy là hồi đó đã thương dữ lắm?”

“Chớ sao nữa! Thương trằn trọc, ngày đã đành, mà đêm cứ mãi hé cửa sổ nhìn sang… Và này, anh có biết không… nếu không nhờ em nói với ba em, anh đã bị tóm ngay từ những ngày đầu? Ông Ðức kẹt tiền cứ cho anh ở đại để kiếm chút đỉnh sống qua ngày; chứ Khánh Hội nếu có dễ ở là đối với những thành phần khác kìa, còn anh đã đeo kiếng, đã thế lại lúc nào cũng dại dột cầm sách trên tay…”

“Phượng Vân nói gì với ông ba?”

“Ðất nước mình cần những người cầm sách như anh ấy…”

” ……”

“Sao anh lại khóc?”

 

Mẩu đối thoại ở trong phòng ngủ nhà Trực, Harlem, New York, Hoa Kỳ:

“Hồi đó đêm đêm bộ không thấy người ta nhìn sang hay sao mà cứ ngồi nghe con nhỏ Dên Ðen hát hoài vậy?”

“Biết quá đi chứ, nhưng những đêm ấy anh mê đắm, trầm luân theo tiếng hát của Dên hát những bài ca hoang dại. Nhất là bài Du mục, cô ấy  hát hay diệu vợi, cứ nhắm mắt như thể đang đắm mình xuống tận vực thẳm, như thể uống cho hết cái đắng đót của thân phận lạc loài. Dòng giống của cô ấy vốn là một dòng giống luân lạc từ bao thế kỷ. Cô ấy càng bị bơ vơ trong cái xã hội Việt Nam kỳ thị hiểu theo nghĩa hợm hĩnh, kiêu ngạo thái quá. Ðã thế sau 75, cô ấy giống như một bãi phân trâu trước mắt của những kẻ chiến thắng. Ruồng rẫy. Ðói khổ. Thương quá!”

“Mà anh cũng thích cô ấy chứ, em muốn nói về mặt thân xác? Phải công nhận con nhỏ có cái thân hình thiệt sexy ; thân thể của người nữ Phi châu nó có cái hấp lực của loài mãnh thú, cái hồn hậu thô nhám sáng thế nguyên sơ.”

“Anh có thích đấy! Lúc đầu ông bà Ðức kêu cô ấy đến để giúp thổi cơm cho anh. Nhưng lấy ý tứ mà suy, thì thấy ông bà ấy cố ý muốn tạo cơ hội cho anh quen với cô ta. Cho đỡ buồn! Ðỡ buồn mà chẳng sợ rắc rối, vì cô không phải là một đối tượng đáng gì để cho những người đàn ông con Rồng cháu Tiên dây mình vào. Mà đỡ buồn thật, vì cô ấy đúng là một perle noire5 trong tranh của Gaugin, nơi đồ gốm của Picasso, hoặc trong tiểu thuyết của Pháp… Ðã thế cô còn có giọng hát đầy u uẩn của đêm tù tội, của những nhọc dài kéo lê từ muôn kiếp về.

Thấy anh có vẻ trân trọng cô, cô cảm động thực sự. Và, đằng gì cô ta cũng đang vào lứa tuổi mười tám đôi mươi. Cái tiến trình tình dục là một tiến trình tự nhiên, và phải nói là mạnh mẽ, nhất là cô lại chịu ảnh hưởng di truyền từ dòng giống cha cô.

Thế rồi, một đêm, Dên bỗng ngỏ ý với anh: ‘ Em thế nào cũng đi được theo diện con lai. Anh Trực cưới em đi, cứ làm giá thú với em! Cưới giả cũng được… Qua Mỹ anh bỏ em cũng được. Em biết anh đang bị kẹt. Anh ở đây lâu nguy hiểm!’

Và Dên khóc. Yêu mà không dám mong báo đáp. Những giòng nước mắt bóng tối thương anh…”

“Tội nghiệp con nhỏ! Sao anh không chịu cưới?”

“Thì cũng xui! Có hôm em gái của anh ngoài quê đưa tiền vào cho anh tiêu; bà Ðức vui miệng kể chuyện anh với cô Dên cho nó nghe. Dĩ nhiên sau đó mẹ anh biết được, đích thân đi vào Sài Gòn gặp anh; bà khóc lóc: ‘ Mẹ nuôi con ăn học. Mẹ nuôi con tù tội. Bây giờ lại nuôi con đi trốn. Con mà lấy con mọi đó, mẹ nằm lăn giữa sân mẹ chết! ‘ Vả lại, anh đâu có giấy tờ hộ khẩu hợp pháp để mà làm giấy giá thú. Anh thiệt khó xử hết sức. Còn chưa biết tính sao, thì đùng một cái, mẹ anh cho người vào đưa anh đi vượt biên gấp. Lúc đó Dên lại đang về thăm bà ngoại đâu dưới Vĩnh Long. Thương nhau mà khi ly biệt chẳng thấy mặt nhau.”

“Con nhỏ, mấy tuần sau khi anh bỏ Khánh Hội mà đi, chết dưới sình…”

“Hả! Em nói sao!?”

“Ba em viết thư qua cho em kể rằng mẹ của Dên sau một thời gian dài trở về, không thấy Dên đâu, bà hoảng đi tìm, mà không thấy, thì khoảng tuần sau thấy xác Dên nổi lên trên đầm sình. Có thể cô ấy đã tự tử, nhưng cũng có thể đêm hôm bị té xuống cầu khỉ, hoặc bị ai hãm hiếp rồi giết chết quăng xuống sình phi tang. Ba còn nghe mấy người bán hàng rong kể là có đêm, đi bán về khuya hai ba giờ sáng, họ thấy xác của cô ta  nằm chơi vơi trên đám sen trắng mọc trong đám sình cạnh nhà sàn của cô… Có phải sen nâng cô như đỡ lấy mảnh linh hồn thanh khí?”

” Chao ơi!”

………….

“Em biết không, có một đêm, khuya khoắt yên ắng, đang hóng gió trước hiên, anh nghe có tiếng người nữ hát bài Du mục, anh nghe cả tiếng thì thầm hư huyễn. Sau này, khi đã mặn nồng, anh có kể lại cho Dên nghe, và hỏi đó có phải là tiếng hát, tiếng thầm thì của Dên, Dên lắc đầu không biết.”

“Hồn của Dên đó anh!”

“Vào thời điểm đó Dên đã chết đâu!”

“Kiếp người là quá khứ hiện tại vị lai hiện tại vị lai quá khứ vị lai quá khứ hiện tại…”

“Em nói gì vậy!?”

“…Việt Nam Nga Mỹ Nga Mỹ Việt Nam Mỹ Việt Nam Nga… Chốn nào đi nữa thì tất cả cũng chỉ là sợi tơ nhện ngắn chưa đầy gang, mong manh sợi liền sợi đứt, của cái mạng nhện có tên Ta Bà Thế Giới treo giữa Vô Thỉ Vô Chung.”

 

Oslo, 19. 10. 01

 

(1) Những con mắt trần gian: Tên một bài hát của Trịnh Công Sơn.

(2) Ðàn bò vào…: Trích từ ca khúc Du Mục của Trịnh Công Sơn.

(3) Idol: Thần Tượng

(4) Harlem: Khu phố người Mỹ Da Ðen.

(5) Perle noire: Ngọc trai đen, đặc ngữ người Pháp hay dùng để chỉ những người đàn bà đẹp Da đen.

(6) Ta Bà Thế Giới là cõi Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới, gồm Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, Ðại Thiên Thế Giới; và mỗi Ðại Thiên Thế Giới có 1000 Trung Thiên Thế Giới; mỗi Trung Thiên Thế Giới lại có 1000 Tiểu Thiên Thế Giới = 10003 thế giới = một tỷ thế giới. Từ ngữ Ba Ngàn Thế Giới” hoặc “Thế Giới Ba Ngàn” dịch từ đó. Ngoài ra “Ta Bà” còn có những nghĩa khác (theo Từ Ðiển Phật Học của Ðoàn Trung Còn) .

Nguyễn Văn Thà

https://i1.wp.com/www.vnnphoto.com/forum_vnnphoto/gallery/9-030412194858.jpeg

*Amore somnoque gravata

et vestibus versicoloribus:

Trỉu nặng tình ái cùng ngủ nghê,

và áo xống thì đủ màu đủ sắc .

                         (?)1

** Người nô lệ da vàng ngủ quên

 trong căn nhà nhỏ;

đèn thắp thì mờ.

Trịnh Công Sơn

 

Quê hương ai mà chẳng muốn trở về. Cổ kim thơ bàng bạc những khói sóng mây trắng, những rau dền mắm ruốc. Ôi, những thứ đó, xa rồi mới nhớ! Mà tại sao lại nhớ? Trời Tây nầy cũng mây bạc, khói sầu; và quán kẻ Nam nào chẳng rau mắm đầy dư? Vậy mà lòng vẫn cứ nhớ. Ấy là nói cái lòng nhớ quê hương yên ả bình thường, nhưng một khi mảnh cố thổ ấy xác xơ, tàn lụi, cái lòng nhớ ấy lại pha thêm nỗi ngậm ngùi. Càng xác xơ lại càng ngậm ngùi. Có kẻ đâm ra giận phường bạc ác, hăm he xé xác; có kẻ chạy quanh kiếm tiền để về; nhưng cũng có kẻ chỉ biết chảy nước mắt, xót ruột.

Và giống như tình yêu đôi lứa, tình đất nước làm cho khách đa tình sầu vô kể. Khốn cho ai ôm một lượt hai thứ ấy vào lòng. Cái anh chàng Trực phải sầu ngất ngư, vì cả hai thứ ấy có lúc đã hè nhau đổ vào hồn mỏng chàng muôn vàn đấu hào quang. Hai mươi năm rồi mà vẫn chưa tha. Ða tình đa lụy. Cho nên mới “Nhị thập niên xa mã, Hạc hoàng nguyệt khổ căn: Hai mươi năm xe ngựa,  Trăng vàng hạc còn đau.”

 

Chùa Lá Dừa nằm trên một ngọn núi cao khoảng ngàn mét trông ra biển lớn. Thực ra chùa tên Lá Dừa nhưng chùa xây bằng gạch; có cả chùa trên lẫn chùa dưới. Chùa có cái nét kiến trúc đơn sơ, màu chìm, vốn là nét đặc trưng của nền kiến trúc Việt Nam. Chùa không làm cho khách vản cảnh phải mệt mắt, chẳng phồn tạp sắc màu làm ta phải phân tâm chia trí, tâm viên ý mã loanh quanh. Ở đấy đã nằm sẵn Con Người. Ở đấy đã bàng bạc Chân Như. Người vào đấy mà tắm gội nguồn sinh. Ta chỉ vào đấy để bắt lại sự  sống. Chùa đã có những vị cao tăng trụ trì, mải tới giờ phương danh còn đọng lại. Ðặc biệt vị sáng lập chùa có vẻ lập dị, vì nhìn bức vẽ truyền thần của ngài, thấy ngài không khoác tăng y mà lại mặc áo dài Việt Nam, cài tả nhậm và bới tóc củ tó; sắc mặt diễu diễu và cả những nếp nhăn cũng mềm mại, chứ không quả đoán, nghiêm nghị, rối rắm gãy nếp như những vị kế nhiệm; nhất là những vị đời nay. Chùa là một thắng cảnh nức tiếng gần xa, nhất là từ khi chùa có được một tượng Phật nằm dài hơn ba chục mét. Ngoài ra ở đấy còn có văn bia cổ, và rất nhiều hoành phi, câu đối. Thứ thì khắc vào cột chùa gỗ lim, thứ thì ẩn hiện trong những bức hoành tráng sơn son, thếp vàng, hoặc do những mảnh đồ gốm bể ghép lại.

Kỳ ấy vào tháng Ba, tháng Tư, miền Nam nước Việt trời chuẩn bị vào mùa mưa, nên trời khô và bầu trời xanh vô chừng. Trung đội biệt kích của Trực, sau mấy tháng vất vả rừng sâu cao nguyên lại được về tiểu khu Bàu Tó nghỉ quân, và được điều lên đóng cạnh chùa. Không hẳn là nghỉ quân, vì trung đội còn phải trấn thủ vòng ngoài cho một đài ra đa đóng phía trên chùa. “Tôi được bên hải quân thông báo cho biết là các anh sẽ về nghỉ quân và nhờ các anh coi chừng vòng ngoài dàn ra đa. Tiện đây ban chúng tôi cũng nhờ các bạn theo dõi xem nhà chùa có kiếm cách tiếp tế cho tụi nó không. Tôi đã nắm được một số nguồn tin là cứ hằng tháng nhà chùa cấp cho tụi nó ba tạ gạo. Phải tìm cách triệt, dù đó là tự nguyện hay bị bắt buộc nộp để sống còn. Tôi cũng biết là đại tá tỉnh trưởng phải làm ngơ cho mấy thầy. Vì sợ mấy thầy. Ðánh đấm dấm dớ như vậy đó, thiệt nản hết sức! Chẳng có gì đáng ngại đâu, trung úy! Chỉ có mấy thằng du kích lèn quèn, nên các bạn vẫn có thể xả hơi được… ” – Ðại úy Trung, bạn Trực, trưởng ban Hai tiểu khu, cựu  hiệu trưởng một trường trung học Bồ Ðề, cho biết như thế.

Trực khi không triết lý lan man:

– Thì cũng tại cái óc dân mình nô lệ đã quen nên mới có cơ sự như thế! Thói kính trọng quá đáng các vị tu hành làm tê liệt đi cái lý trí độc lập vốn dĩ là dụng cụ số một để xây đắp một nền văn minh đúng nghĩa… Ở Việt Nam chưa ai dám nói: Chúa đã chết, Phật đã đổ. Thoạt đầu, và ngày nay còn một số người ở trời Tây vẫn còn dè bĩu câu nói sấm sét kiểu đó của Friedrich Nietzche, nhưng đa số cũng dần dần hiểu đó chẳng qua là một câu nói nhằm thức tỉnh lý trí con người ra khỏi cơn mê muội mà đủ loại thẩm quyền phủ trùm lên bao thế hệ. Người dân mình còn bị những thứ uy quyền đó đè nặng, mà không hay, có khi còn tán trợ nữa là đằng khác.

Trung nhập giòng một cách tự nhiên:

– Trái lại tôi thấy người Tây phương họ đã thức tỉnh, đã nhận ra được vị trí của họ trong xã hội, tuy rằng đôi trường hợp dẫn đến quá khích. Ðiều quan trọng là bắt đầu lấy lại cái tự do căn bản ấy, đó là sự suy nghĩ độc lập, cái đã. Rồi từ từ các luồng suy nghĩ khác nhau sinh ra bởi lối suy nghĩ độc lập sẽ điều chỉnh lấy nhau… Những điều chỉnh ấy diễn ra trong một thời gian cụ thể, trong những môi trường cụ thể, bởi những con người cụ thể…  Nếu có cái nhìn rộng lớn, cuộc chiến hiện tại là hậu quả của việc người Tây phương đã xử dụng vụng về cái lý trí độc lập ấy… cho nên họ lại rơi vào một thế lực khống chế khác, có khi còn tàn bạo hơn những thế lực hiện diện trước, trong thời của Nietzche. Và những người lãnh đạo đầu óc nô lệ của nước mình cứ tối mặt đâm đầu vào bất kể.

Sai lầm mới là người. Phải đau đớn thôi! Có người gọi đó là cái bi tráng của kiếp người, có người gọi đó là vô duyên cắc cớ. Nhưng tựu trung có lẽ món quà tặng tuyệt vời con người có được chính là cái khả năng suy nghĩ độc lập ấy.

– Tôi thấy hình như anh muốn nói đến biện chứng pháp, mà lại có pha chút vị Thiền, ít nhất là loại Thiền nhập môn mà tôi đọc trong cuốn Vào Thiền của Thích Ðại Chiếu!

– Cuốn đó (và các cuốn sách sau này) của ông là một loại “sách gia dụng” kiểu Sách Dạy Nấu Chay của bà Triệu Thị Chơi vậy thôi! Thôi cũng được đi, ít nhất ở phần đầu với cái phần thiền trong mỗi giây phút! Nhưng khi bắt đầu bàn tới những địa hạt tương đối thâm sâu, thì tác giả lại bắt đầu dùng một lô từ ngữ Phật học chữ Hán khó hiểu, rồi trộn thêm một mớ Pali, Sankrit phiên âm ngang dọc. Tư tưởng thì rối rắm, lối viết của những người chắp vá những mảng văn mượn của tác giả nước ngoài, mà lại dịch không trơn tru, vì tác giả không nắm được ngôn ngữ của văn bản, và cũng không nắm vững kiến thức về vấn đề mình đang khai thác… Dân quê mùa nghèo khổ chẳng ai quan tâm loại tư tưởng kiểu đó, nhưng cái lớp làng nhàng chữ nghĩa trung lưu lại hay thích, thích rồi mê loạn. Cái lớp này mới là đáng sợ. Bởi họ cũng lại là giai cấp “thầy”, mà lớp quần chúng dốt nát lại hay khúm núm, nể trọng họ; đại họa một phần từ đó mà ra…

Ấy là chưa kể các bản dịch kinh Phật dịch rất tồi, lại đầy dẫy chữ Hán, rất nhiều trường hợp không cần thiết; chính tôi đây mỗi khi đọc kinh Phật lại phải ôm từ điển mà tra, phải phân câu lại mà đọc. Huống gì dân không đi học; họ cứ thế mà tụng; tụng mà chẳng hiểu gì, hoặc hiểu lộn xộn. Cứ tụng riết loại kinh bản như thế, trí óc họ dần dần mê muội tê liệt, thành một loại âm binh cho các tay giảo hoạt như Thích Ðại Chiếu, hoặc bọn trí thức rỡm điều khiển.

Và, ở Ta cũng như ở Tây, bọn trí thức nửa mùa đó học Thiền có khi như theo một cái mốt thời thượng, và cũng có khi vì cần để lấp đầy một khoảng trống họ thiếu, họ cần. Ðã thế Thích Ðại Chiếu, khi bí, xoay xở tạo ra một lối trình bày tư tưởng u u minh minh về những lý thuyết của các đấng u u minh minh. Vì u hiển, kinh hãi vốn là nguồn mạch của sùng kính, nên không lạ gì nhiều kẻ theo ông ta. Nhưng cái điều tai hại cho dân tộc mình là khi ông mang cái kiến thức dở sống dở chín ra mà làm chuyện quốc gia đại sự… và biết đâu sau này lại chẳng le te dạy khôn thế giới với mớ kiến thức bát nháo đó.

Trực cười nụ:

– Ngoài kiến thức bát nháo như anh nói, tôi còn nghe nói Thích Ðại Chiếu đã phá cái xuất thế tục chi giới , một giới quan trọng làm nên tăng sĩ; nó làm cho bá tánh kính trọng các thầy, nhờ đó các thầy có một vị thế mà dạy dỗ, hô hào. Nếu phá giới thì thầy cháy, thầy như con số không, thế mà thầy Ðại Chiếu vẫn cứ phây phây là vì sao?

– Tình báo họ nắm được tin tức cụ thể, cả tên tuổi của người tình của thầy Ðại Chiếu, những chuyến đi đêm của thầy, nhưng chính phủ cũng chẳng làm được gì, vì ông ta là một tay giảo hoạt, mồm mép, và vì thiện nam tín nữ đã quá mê muội rồi! Chính phủ khó xử, phải e dè, kẻo lại bị mang tiếng là bôi nhọ, đàn áp Phật giáo như những lần trước…

Trực thở dài:

– Thế mà trong nước ông ta vẫn được các Phật tử, và đặc biệt được sinh viên học sinh kính trọng như anh nói thì đã đành, ngoài nước người ta còn tôn xưng Thích Ðại Chiếu là chiến sĩ đấu tranh cho hoà bình.

– Trực biết đấy: Thì cũng vì ở Tây Phương cái lớp trí thức làng nhàng kể trên có nhiều. Cứ xem cái chuyện ông ta cứ đòi hoà bình, cứ đòi hoà hợp hoà giải dân tộc với cái Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và người Tây đang hùa theo cũng đủ biết. Cái tổ chức này, như có ông nhà báo đã phân tích: “Ngay một người với kiến thức bình thường cũng biết là từ nhân sự, phương tiện, và tổ chức nhất nhất đều do Cộng sản Hà Nội sắp đặt. Và hàng ngày ai cũng thấy rõ mỗi ngày hàng ngàn tấn khí giới cùng với hàng ngàn lính Bắc Việt theo đường mòn HCM xuôi Nam không phải để đi chơi.”

Rồi nữa: Ông ta gắn cho Cộng sản cái những tính chất như hoà hợp, hoà giải, là những tính chất Cộng sản không thể có. Làm như thế chẳng khác gì ta cho “Trí nhớ thì màu xanh3” hay “Vua César là một số nguyên tố” vậy. Cho nên ông kêu gọi hoà hợp hoà giải có nghĩa là chỉ có miền Nam hoà hợp hoà giải một mình, là ngưng chống lại Cộng sản, để cho Cộng sản làm gì thì làm. Mà Cộng sản là ai, là như thế nào, chẳng lẽ ông ta lại không biết? Hay ông ta lại là người không tưởng? Tìm kiếm một Niết bàn cho dân tộc bằng đường lối Cộng sản, và không muốn cho người miền Nam nắm bắt lấy cuộc đời mình từng giây từng phút như ông kêu mời? Một vua Trần Nhân Tôn, thiền sư thứ thiệt, định hàng quân Nguyên cho dân khỏi khổ, thì một Trần Hưng Ðạo rất tỉnh thức, đã đạt- đạo Ðời: “Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng mà Tông Miếu, Xã Tắc16 thì sao?” Nếu không thì nước mình đã trở thành như nước Tây Tạng từ khuya rồi!

Rồi để cho cái màn phản chiến phản quốc của mình có trọng lượng, ông lại đem ra cái thuyết vô nhị mang tính siêu hình, hình nhi thượng, để cổ võ chuyện đạo đức hình nhi hạ như tha thứ, hoà hợp, chín bỏ làm mười, kiểu I can not take sides chống lại tên hiếp dâm, cũng không ủng hộ bé gái 12 tuổi bị hiếp và sau đó bị giết chết, như trong bài thơ My True Self  của Thích Nhất Lang4.

Cái thuyết vô nhị ởm ờ, với cái lối minh hoạ phi luân, amoral, theo kiểu đó của ông ta, nếu có đúng tuyệt đối đi nữa, thuyết đó sẽ mang tính phổ quát, và nó chỉ có trong thế giới Lý Tưởng; còn Con Người nó còn bận rộn, nó còn phải vật lộn với cái hiện sinh cụ thể của nó tại thế này, nó đang “thiền”, nó đang xoay xở điều chỉnh, và nó phải hành động, và hành động như thế nào là tùy nó ý thức cuộc đời cụ thể ra sao. Nó có cái nhìn về cuộc đời như chính Thiền Lão thiền sư : “Ðản tri kim nhật nguyệt. Thùy thức cựu Xuân Thu? – Sống ngày này biết ngày này. Còn Xuân Thu trước ai hay làm gì ? “ Không nên đưa cái tri thức cuộc đời xưa cũ để giải quyết những vấn đề hôm nay, trong giây phút hiện tồn. Cái ý đó mà Thiền Lão đã thưa với vua Lý Nhân Tông, cả ngàn năm sau, Krishnamurti (mà nhóm trí thức Phật giáo thân Thích Ðại Chiếu rất ưa chuộng) , nói đi nói lại trong mấy chục cuốn sách của ông.

Tôi biết chắc là con người hành thiền thứ thiệt đó của miền Nam phải take sides, họ phải chém, phải bắn lại kẻ sát nhân, trước khi có một nơi an toàn để mà nghe chuyện Thiền, để mà hành thiền. Ðể cho nhân loại có giờ mà góp nhặt cát đá .

– Rồi thầy Ðại Chiếu cũng bàn đến chuyện bất bạo động nữa đó anh Trung!

– Cái bất bạo động của Thích Ðại Chiếu cũng là một hình thức bạo động. Tôi còn nhớ cũng chính Krishnamurti trong một cuộc hội thoại về bạo động ở San Diego College; sau khi đề cập về bạo-động-dễ-thấy, ông đã nói về một loại bạo động khác: “Nhưng làm sao giải thoát khỏi loại bạo động ở chổ cố gắng để trở nên một vai vế nào đó; loại bạo động tu tập kỹ luật theo một mẫu mực; cố gắng trở thành một kẻ nào đó; chịu nhẫn nhục, hay hành hạ chính mình, tàn nhẫn với chính mình, để trở thành người bất bạo động. Làm thế nào để cho tâm trí được giải phóng khỏi những dạng bạo động như thế? 2

– Thiệt lạ, miền Nam có nhiều vị bằng này bằng nọ, nhất là mấy vị tu sĩ Phật giáo, cũng như Công giáo, mà chẳng thấy ai phân tích, tranh luận những chuyện  sinh tử như vậy…

Trung bĩu môi:

– Biết đâu, mấy bố hoặc lười chảy thây, hoặc tuy có bằng cấp, nhưng cũng chỉ làng nhàng thôi, nên cứ để cho mấy ngọn bút giảo hoạt cứ đàng hoàng dọn cho dân mình những món ăn tinh thần hổ lốn. Bao lâu dân tộc mình chưa có một tầng lớp trí thức nhân văn chính quy, siêng sắn, có đầu óc phân tích, sẵn sàng đối diện với nguỵ trá, thì dân tộc mình khó mà ngóc đầu lên được. Cứ như tình trạng trí  thức văn hoá ngày hôm nay, thì dân tộc mình cũng chỉ sẽ làm nô lệ thôi, dù dưới hình thức khác. Cái anh Trịnh Công Sơn nói thế mà linh: Người nô lệ da vàng Ngủ quên trong căn nhà nhỏ. Căn nhà nhỏ của trí tuệ…

– Anh nói, buồn quá!

– Với cái nền văn hoá như thế, chắc chắn đất nước mình sẽ phải chịu nhiều cơn dông bão khốn nạn!

Trực vung tay:

– Cái văn hoá của người Phật tử mình, ngoài chuyện như anh phân tích, nó còn có mang tính chất bắt chước mù quáng. Một loại văn hoá nô lệ. Ví dụ chuyện treo cờ Phật giáo. Cờ quạt là chuyện rập khuôn Tây Phương: Người Tây họ gán cho lá cờ một bản thể thiêng liêng, cho nên mới có chuyện họ chào cờ, hôn cờ, đốt cờ… ; là một chuyện tới nay các hiền giả Tây phương họ cho là chuyện vớ vẩn, absurde. Từ trước Phật giáo nào có cờ! Mãi tới đại hội Phật giáo thế giới năm 1950 ở Columbo, Tích Lan, các vị đại biểu Phật giáo cố kiếm  cho  các giáo hội Phật giáo trên thế giới một lá cờ chung, như một trong ba sự kiện quan trọng mà đại hội đã quyết định, nhằm tạo ra một sự thống nhất cho các môn phái Phật giáo trên thế giới, (dù rằng thống nhất có nghĩa là cơ cấu; giáo hội mang tính cơ cấu cũng là một sản phẩm Tây phương; và cơ cấu là bước đầu xuống dốc cho bất cứ nguồn mạch tâm linh sâu thẳm nào.) Nhưng dẫu sao đi nữa các vị đại biểu còn biết dùng lá cờ Phật giáo như một dấu chỉ thống nhất, và cũng là một hình thức trình bày một số điểm trong giáo lý nhà Phật5. Bản thể và biểu ý là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Chính vì gán cho lá cờ một bản thể theo quan niệm tào lao của Tây phương, nên mới sinh ra chuyện bất bình, đấu tranh, hại dân hại nước. Phật giáo là một đạo phá chấp, tại sao họ lại tự mâu thuẫn, mà chấp đến như thế? Mà chấp vào một vấn đề phi Phật giáo! Văn hoá nô lệ là chỗ đó. Nô lệ lề thói suy nghĩ Tây Phương. Tôi nghĩ một  ngôi chùa uy nghi là chùa không cờ quạt gì cả. Như ngôi chùa mà thửa còn bé mẹ hay đưa tôi đi lễ Phật.

– Nghe anh Trực nói làm tôi nhớ chuyện cụ Phan Thanh Giản: Lúc tàu chở phái đoàn của cụ ghé vào một hải cảng trên đuờng về nước, theo yêu cầu mấy ông Tây trắng Tây đen, cụ đã đưa chiếc khăn gói trầu ra làm quốc kỳ, và cho họ chào mệt nghỉ, và cụ cười ha hả.

Trực vẫn say sưa:

– Ngay cả chuyện tự thiêu vì đạo pháp, hay tệ hơn nữa mượn cớ đạo pháp để giải quyết những vấn đề cá nhân dung tục, cũng là một biểu chứng của thói nô lệ văn hoá, cóp nhặt từ Tàu, hay nói đúng ra từ Phật giáo Tàu. (Chẳng khác gì Hồ Chí Minh bợ nguyên con chính sách đấu tố của Trung Cộng.) Vì có bằng cớ cho ta biết là Ðức Phật ngài cấm chuyện tự thiêu như trong kinh Na-tiên-tỳ-keo kinh do bồ tát Long Thọ, tổ sư truyền chánh pháp của Phật tổ, soạn, mà tôi có đọc, qua bản dịch của Warren9.

– Chà chuyện gay cấn chớ chẳng chơi! Phật nói gì trong kinh ấy, anh Trực?

– Vì đây là chuyện nhức nhối, nên tôi nhớ nguyên văn là: “Hỡi các tì keo, chớ có để ai tự hủy mình, và bất cứ  ai tự hủy mình, hãy xử kẻ đó theo luật định.”

– Còn Phật giáo Tàu đó chủ trương ra sao chuyện tự sát, tự thiêu?

– Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh12, dĩ nhiên là một kinh riêng của Phật giáo Bắc tông Tàu, có kể đến bồ tát Dược Vương nguyện xả thân để chữa bệnh cho bá tánh, và: “Ngài khoác áo có đính châu báu, tẩm dầu có hương thơm, và một khi đã nhiếp tâm đến mức đại định, ngài đốt thân xác mình. Ðám sáng chiếu rọi đến các thế giới vốn nhiều như cát sông Hằng. Và các vị Phật trong các thế giới đó, ngay lập tức, ca ngợi ngài Dược Vương.” Theo giòng lịch sử, cũng đã có một số trường hợp các thầy tăng Tàu hy sinh thân xác mình như một biểu lộ của lòng sùng mộ đối với Ðức Phật hay chư tổ, hoặc để phản kháng sự đàn áp Phật giáo. Thỉnh thoảng cũng có những trường hợp các thầy chỉ cắt cánh tay, hoặc cắt ngón tay, ví dụ, trường hợp nhị tổ Thiền tông Huệ Khả đã cắt cánh tay để biểu lộ tấm lòng tha thiết cầu đạo với sơ tổ Bồ đề Ðạt ma. Những hành động như thế, cộng với việc vua Ðường Hiến Tông cho rước cốt Phật về đặt trong bảo tháp trong hoàng cung để thờ, và một số lạm  dụng khác của nhà chùa, đã khiến Hàn Dũ10, nhà Nho, nhà luận chiến số một của Trung Hoa thời đó, đã dâng biểu can gián vua và bài xích Phật giáo…

Trung tiếp lời:

– Ngoài ra, anh Trực ạ, tôi nghĩ văn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, như các Kinh Thư cổ khác của các tôn giáo khác trên thế giới, là một loại văn đầy huyễn thoại apocalyptique, mang ý nghĩa tượng trưng rất cao; nó mở ra nhiều  kiểu giải thích khác nhau, nhiều khi mâu thuẫn nhau, tuỳ kiến thức, tính khí cụ thể của  người chú giải, và sẽ dẫn đến những áp dụng tương ứng. Phật giáo của mình lại sao y chánh bản lối giải thích huyễn tượng, và ứng dụng lới giải thích đó của Tàu. Chết người là chổ đó. Người ta đốt mình cũng đốt… Nô lệ là chỗ đó.  – Và Trung lắc đầu  – Rầu thiệt là rầu!

 

Tiếng súng lạch tạch dưới núi. Có tiếng đại bác dội về.  Lòng Trực còn man mác những lời phân tích của bạn anh. Chùa và núi yên ắng như một cõi đâu. Cái yên ắng vô duyên giữa mùa chinh chiến, nhưng đôi lúc, cũng ấm lòng chi lạ. Mùi nhang thoang thoảng trong trăng. Lại còn cả tiếng suối. Tất cả đều mềm, đều mài mại thủa thanh bình nào đó. Cho tôi thoáng cảm mùi nhang Cung đàn xa vắng một lần rồi thôi11 , câu thơ rơi rụng Trực lượm được giữa Trường Sơn máu lửa. “Gã thi nhân nước Việt ngoài ấy tội nghiệp đến như vậy sao! Mà do đâu?”  Và Trực ngủ chẳng được. Anh lững thững đi xuống chùa dưới. Khi đến gần, anh thấy một cô gái áo lụa vàng, hoặc giả là lụa ngà nhuộm ánh trăng, đang thơ thẩn trong sân trước, thỉnh thoảng lại cúi xuống ngửi hoa bụi này, vơ vẩn bụi kia.

– Hoa dạ lý đêm nay thơm thanh hơn đêm qua.

– Cô là ni cô?

– Em ở dưới làng lên đây tính vào chùa đọc thơ cổ đêm trăng, nhưng hương hoa chưa thả em ra.

– Trời đất!

– Anh nói sao?

– Không có chi; tôi chỉ cảm ơn Trời Phật.

– Nam mô A di đà Phật!

Và nàng bật cười ngọc vỡ, làm những con hạc vàng trên tà áo lụa vỗ cánh chực bay. Trực ngu ngơ:

– Hèn chi cái ông sư Phạm Thiên Thư, trang kinh ông cứ ăm ắp dáng Kiều thơm.

– Anh đọc vài câu nghe thử!

– Mười con hạc trắng về tha  Như Lai thường trụ trên tà áo xuân  Vai nghiêng suối tóc tơ huyền  Ðôi gò đào nở trên miền tuyết thơm.

– Thí chủ nghĩ sai rồi. Thầy Thiên Thư muốn nói về cái bất nhị…

Trực khi không gằn giọng Quan Công Mặt Ðỏ:

– Cô nói gì? Cô nói gì? Cái bọn ởm ờ cả lũ!

Nói xong Trực cúi đầu, như xấu hổ vì tức giận vô duyên.

Và khi ngước lên, chẳng còn thấy cô gái đâu.

Trực nghe có tiếng gì như tiếng chim đập cánh hốt hoảng mái tây chùa.

Tối hôm sau, trăng mười sáu, giữa khuya anh lại xuống chùa. Anh mừng rỡ thấy cô gái hôm qua đã đứng đó, dường như cô đang mằn mò đọc các câu đối nơi các cột chùa. Anh chưa dám hỏi han gì. Cũng thử đọc đỡ đôi câu cho đỡ ngượng. Câu nào cũng vương ít nhiều Thiền vị như:

 

Ðạo bản vô nhan sắc,

   Tân tiên nhật nhật khoa6:

Ðạo vốn không màu sắc,

Ngày phơi vẽ mới tươi.

 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô…

   Thịnh suy như lộ thảo đầu phô7.

Thân như bóng chớp, có thời không…

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

 

Nhưng cô Hoàng Hạc bỗng khựng lại:

– Trời đất, ai đã viết câu thơ thoáng nghe nhẹ như sợi trăng, mà lại bùng bùng sấm sét?  – Và cô đưa tay chỉ vào hai cột lim có khắc câu  “Ðê đầu vạn quyển quy hương lý   Quán diệp Phật kinh nguyệt cô tâm8” 

– Xin cắt nghĩa cho nghe!

– Ðể tôi thử dịch. Coi nào…Cúi đầu vạn… quyển về quê cũ. Xỏ lá… kinh Phật trăng cô tâm. Trời… đất!

-Vậy sao!? Vậy sao!? Nghe cô dịch Nôm xong, tôi mới nhận ra cái thâm ý của câu thơ, và hiểu ra tại sao ai đó lại cho khắc câu đối ngay chổ hai cột này. Vì từ trong hành lang nhìn ra, nếu để ý, cô sẽ thấy, hai câu thơ như nhìn thẳng ra bốn mảng phù điêu tròn to như cái nong có khắc chữ Phạn sơn son, gắn nơi bức tường chắn mảng núi. Lúc nãy tôi đã tò mò thử đọc, vì tôi khi học môn Phật học ở đại học Vạn Hạnh, có học chút ít tiếng Pali. Thử đọc, nhưng tôi chẳng hiểu gì. Tuy nhiên khi nhìn kỹ bốn bức đại tự chữ Pali đó, tôi thấy lối bố trí chữ mài mại hình bốn vị sư đang chăm chú đọc sách, mỗi vị quay về mỗi hướng khác nhau. Và cô xem: bức tường sát ngay mảng núi, nên giây gì như giây bìm bìm đang rủ xuống, như đang xỏ lá qua những lời kinh Phật nguyên ngữ Pali. Xỏ lá kinh Phật, hay kinh Phật xỏ lá, nếu chỉ nhích một chút vị trí của từ ngữ? Ai đó thật thâm, thật táo bạo!

– Thì táo bạo cũng giống như truyện thầy tăng xưa chẻ tượng Phật chụm bếp là cùng… Người đời xưa tâm trí cao minh.

– Còn người đời nay?

– Người đời nay chủm chọe ghê hồn.

– Tại sao lại chủm choẹ ghê hồn?

– Vì có biết bao thằng cuội thời đại đang xé nát vầng trăng? Vầng trăng sắp vỡ đến nơi.

– Cuội  nào? Cuội  nào? – Trực thét lên như những lần xung trận Trường Sơn.

Hạc vàng sợ quá, lại bay.

 

Tượng Phật nằm trên một triền đồi thoai thoải, gần chùa trên. Vành tai tượng to đến độ, người lớn có thể nằm lọt vào đó được. Ðể có được một bức tượng vĩ đại như thế trên núi cao ngàn mét, các thiện nam tín nữ cúng tiền đã đành, họ còn tình nguyện vác từng bao xi măng, gánh từng thúng cát, bó sắt lên núi cao. Cát họ gánh nhiều đến nỗi, sau khi đúc tượng xong, còn dư cả một đống lớn tựa ngọn đồi, cạnh tượng Phật. Tấm lòng mộ đạo của họ quả là bao la. Ngoài cái vĩ đại của tượng, người ta còn thấy cái tài hoa của điêu khắc gia nào đó, qua thần thái của tượng: dáng nằm an bình, đôi mắt trầm lắng, đôi tai thỏng tự tại, và đôi môi viên mãn nụ cười, bàn tay mềm mại bao dung. Về giá trị nghệ thuật, tượng không thua bất cứ tượng Phật danh tiếng nào trên thế giới mà Trực đã có viếng trong các cuộc du lịch hoặc khảo cứu, trong hai thập niên ở nước ngoài.

 

Hai mươi năm sau. Sợ về, nhưng cũng phải về, vì anh phải đi công tác lo chuyện hồi hương cho dân tị nạn Việt Nam bị trả từ Hồng Kông, với các nhân viên tị nạn Liên Hiệp Quốc khác. Rồi Trực cũng kiếm cách xin nghỉ được một tuần về thăm nhà, thăm chùa. Thăm làng xóm, lòng chỉ thêm ngậm ngùi. Và cũng phải đi thăm chùa một chuyến. Dù biết đi chỉ thêm đau.

Trực lựa ngày rằm13. Cảnh vẫn còn như cũ. Nhưng chùa lại quét vôi xanh đỏ loè loẹt khó coi.

Anh ở lại đêm. Trăng vẫn sáng như trăng cũ hai mươi năm. Bồi hồi khôn tả. Tưởng như phút linh cầu đang rạng. Anh cố đọc mấy câu thơ cổ cho đỡ bồn chồn.

– Ông là ai mà đêm hôm khuya khoắt?

– Tôi là người từ xa lên vãn cảnh chùa.

– Dễ chừng đã hai mươi năm – Vừa nói, người nữ cởi chiếc áo màu lam ra, thả xuống đất, phô áo lụa lung linh cổ nguyệt.

– Hoàng Hạc?

– Mỗi tháng cứ độ trăng rằm em vẫn mặc chiếc áo lụa cũ, lên đây nhớ anh… mà, anh ơi… em đã có con với anh!

– Cô nói sao!? Cô mơ hay tỉnh!?

– Sau này, em đã bị bọn phỉnh phờ, khốn nạn hiếp dâm, và đã có thai. Nhưng anh ơi, em đã yêu anh đêm đó, yêu những tiếng giận dữ dưới trăng, yêu Ðặng Dung vung kiếm nguyệt xưa. Anh giận dữ hay núi sông giận dữ? Ôm bào thai vô tội, ôm cả nghĩa non sông. Nhưng, anh Trực ơi, thằng nhỏ em sinh ra sao nó còi nó cọc, dù em cố gắng nuôi con bằng sữa lành, gạo tốt; đã thế học hành chẳng chịu, nó chỉ thích lông bông chơi trò bị gậy? Áo em may cho nó không chịu mặc mà cứ xé tươm, đòi áo giấy cho được mới chịu mặc, và nhất định cho đó là áo sang nhất. Chỉ có mấy con Miên, con Thổ khen là đẹp, vậy mà nó khoái lắm… Mấy đứa nhỏ láng giếng như con anh Ðài chị Loan, con anh Ðại chị Hàn, con ông bà Ba Tân Gia, ấy là chưa kể con ông Thái Lan cổ lổ xỉ, xưa con nhà nghèo hèn, bây giờ đứa nào cũng nên danh nên phận, giàu có hơn người. Nó không biết xấu hổ, mà còn cứ vênh váo khoe khoang. Sao nó lại như thế! Phải chăng cái ô trọc của kẻ hãm hiếp đã trấn át tất cả Trung, Trinh?

Rồi nàng úp mặt khóc:

– Anh ơi, sao anh đã bỏ em mà đi, tuyệt giòng nghĩa khí?

Có tiếng kẻng của đồn công an biên phòng dưới chân núi vang động, hoàng hạc lại vỗ cánh bay đi. Bay về hướng tượng Phật nằm.

Tối hôm sau, Trực lại lên chùa, nhưng chẳng thấy Hoàng Hạc đâu. Anh ngầy ngật lê bước về phía tượng Phật nằm. Chẳng biết tại sao. Nhưng anh vẫn còn đủ tỉnh táo để thấy tượng Phật người ta đã sơn phết loè loẹt; ai đó còn chấm cả một cái nút ruồi kiểu Marilyn Monroe17 vào bên má trái; rồi còn sơn đỏ móng chân, móng tay tượng; tượng Phật giống như – xin lỗi – một anh đồng tính luyến ái nằm trơ trẻn trong các bụi cây ở trong Central Park ở New York. Ban đêm mà còn như thế, ban ngày chắc còn thấy kinh hoàng hơn.

Trực cứ đi vòng vòng bức tượng như một gã thất tình. Cứ tức, cứ tiếc cho bức tượng mà anh đã từng khoe mỗi khi nói chuyện với các giáo sư của anh về nghệ thuật Phật giáo Việt Nam. Rồi anh bỗng thấy phía đằng lưng của tượng một cánh cửa nhỏ giấu sau một bụi cây che rậm. Anh dùng dao đa năng ngoáy đại vào ổ khóa. Cửa mở. Trong bụng tượng Phật thăm thẳm, anh thấy một vùng ánh sáng lờ mờ. Bấm đèn pin, rọi, anh thấy xác một cô gái trẻ da thịt muột mà, trần truồng treo tòng teng nơi một mấu sắt bê tông, người oằn chữ S. Sợi thừng thiệt lớn, và chắc như dây dừa Tam Quan. Trực vất vả kiếm cách và cuối cùng cũng hạ xác cô gái xuống được. Khi cầm sợi dây treo cổ, anh thấy lạ vì đây không phải là dây dừa bình thường, mà lạ một loại dây thừng bện lại bằng giấy, tuy mềm mà dai như da trâu thuộc. Anh lấy dao tỉa ra từng khúc, rồi vuốt ra từng tờ, và tò mò xem thử. Hoá ra đó là những tờ giấy mới có, cũ có, từ chuyện sấm ngôn soán đoạt thủa xưa, cho tới chuyện treo cờ treo quạt, tuyên ngôn, yêu sách đời nay; và tờ mới nhất, loại giấy đánh Fax mới toanh, kể lể trách rằng ai đã phụ ai. Và bây giờ Trực mới để ý thấy chiếc áo lụa vàng, có lẽ của người chết, bị ai quăng nằm trong một góc, sáng hiu hắt niềm riêng, làm anh nhớ câu thơ cũ: Quán diệp Phật kinh nguyệt cô tâm: Xỏ lá kinh Phật trăng cô tâm. Và anh lẩm bẩm: “Phải chăng người xưa nào đó có lúc giận quá, mất khôn? Mà giận điều gì? Hay đây là quỉ thi mời gọi điều chi?”

 

Oslo, Tết dương lịch 2002

 

(1) Câu văn La tinh không rõ của ai mà W. B. Yeats, nhà thơ, nhà văn Ái Nhĩ Lan, (1865 – 1939),  dùng trong truyện ngắn The Tables of Law: Những Tấm Bia Luật; truyện gợi hứng cho tôi viết truyện ngắn này.

(2) Krishnamurti… trích dịch từ cuốn Beyond Violence, nxb Victor Golanz LTD, London, 1983, trang 74.  / Jiddi Krishnamurti  (1895 -1986), sinh ra ở Ấn độ; được hai vị lãnh đạo phái Thông thiên học (Theosophical Society)  khám phá ở Ấn, và được nuôi dạy ở Anh bởi chính hai vị này, và hai vị đã tôn K. như Thầy của Thế giới (the World Teacher) ; vào tuổi thanh niên ông trải qua những kinh nghiệm thần bí làm biến đổi hẳn tâm tư ông; ly khai khỏi mọi tôn giáo, ý thức hệ, kể cả phái Thông thiên học; và chân cứng đá mềm với trách nhiệm cô đơn mà ông  tự đặt cho mình; là một minh sư, một triết gia, một nhà tư tưởng, một người bạn, hoặc là chẳng là gì cả như ông đã tự đánh giá mình, ông đã soi sáng cuộc đời hàng triệu người trên thế giới – trí thức, dân dã, già, trẻ. Ông đã mang lại ý nghĩa mới, nội dung mới cho đời họ bằng cách chỉ ra một lối sống vượt trên mọi tôn giáo cơ cấu. Ông cũng táo bạo đương đầu với  những vấn đề thời đại, và phân tích, một cách chính xác khoa học, sự vận hành của tâm trí con người. Khi ông tuyên bố rằng quan tâm duy nhất của ông là làm cho con người được tự do tuyệt đối, vô điều kiện, ấy là ông muốn tìm cách giải phóng con người thoát ra khỏi mọi dạng điều kiện hoá nằm sâu trong con người, và bó buộc, và làm khổ con người; đó là sự buồn phiền, sự sợ hãi, bạo lực, và sự ích kỷ. Ðể được như thế,  con người cần giải trừ những kiến thức  (freedom from the known)  mà mình tự, hoặc bị gắn vào bởi các loại tôn giáo, các ý thức hệ, các trào lưu tư tưởng, và nhìn thẳng, nhìn tươi mát vào cái hiện tồn của mình (what is) .  Các tác phẩm quan trọng, theo NVT: The first and last Freedom (Tự do đầu tiên và cuối cùng, Phạm Công Thiện dịch) , Commentaries on Living, ba tập (Bàn về Hiện sinh, Trúc thiên dịch) .

(3) Trí nhớ màu xanh… xin xem thí dụ của Rey trong mục Category mistake, The Cambridge Dictionary of Philosophy.

(4) I can not take sides: Ý này dựa vào bài thơ Please Call Me by My True Name (lộng dịch: Hãy  vạch mặt chỉ tên tôi. ) của Thích Nhất Hạnh. Ðại ý: Trong cặp tương phản: Tên hải tặc Thái Lan & đứa bé gái 12 tuổi bị hiếp và sau đó ném xuống biển, ông chỉ giận, chứ không chống lại tên hải tặc đó, và đồng thời ông cũng không đứng về phía cô gái bị nạn. Thái độ của ông cũng tương tự như thế với với cặp mâu thuẩn khác: ủy viên trung ương đảng & thành phần có nợ máu bị đi khổ sai cải tạo…

(5) Ba sự kiện quan trọng được quyết định trong đại hội: cờ Phật giáo, ngày Phật đản, Phật lịch.  / Lá cờ ngũ sắc  có ý tượng trưng cho ngũ căn: tín, tinh tấn, thiền định, chánh niệm, định huệ, và cũng tượng trưng cho ngũ lực tương ứng với ngũ căn; rồi cờ còn biểu trưng cho cái ý ‘ngũ châu nhân chủng’ ; và cũng biểu tượng cho cái ý thánh nhân cũng từ trong cõi Ta Bà, tạp thú ngũ cư  mà ra.

(6) Ðạo bản…Thơ Phạm Thường Chiếu/ Ðào Phương Bình, Nguyễn Ðức Vân  dịch.

(7) Thân như…Thơ Nguyễn Vạn Hạnh/ Ngô Tất Tố dịch.

(8) Quán diệp… và câu Nhị thập niên… thơ Mạt Tỉnh/  Nguyễn Văn Thà dịch.

(9) Tự thiêu : Xin xem cuốn Chinese Religions của Julia Ching, nxb MacMillan 1993, mục Buddhism and suicide : Phật giáo và vấn đề tự sát, trang 148;  có nêu đích danh trường hợp tự thiêu của Thích Quảng Ðức để minh hoạ.  Bà đã có những công trình lớn về Tôn giáo Trung Hoa, giáo sư môn Tôn giáo học ở các đại học tăm tiếng nhất trên thế giới. / Hỡi các tì  kheo… trích từ bản dịch kinh Milindapanha (Na tiên tì keo kinh)  trang 437,  bản dịch của Warren, trích từ tác phẩm Chinese Religions kể trên.

(10) Hàn Dũ: (768 – 823) , người đời Ðường, đậu tiến sĩ năm 25 tuổi, được phong tước Xương Lê bá, giữ các chức vụ phải sử dụ lý trí phân tích nhiều: giám sát ngự sử, giám sát sử quán tu soạn, hình bộ thị lang. Ngoài bài biểu kể trên, còn có bài Nguyên Ðạo, và Nguyên Tính rất sâu sắc, hùng hồn. Ðem thực học mà tu sửa cái học hư văn của người đương thời. Văn đơn giản, mạnh mẽ. Sau bài biểu can gián bài xích đạo Phật, bị giáng xuống chức thứ sử và bị đày ở Triều Châu (Quảng Ðông). Sau làm văn tế đuổi được sấu dữ trong vùng, được gọi trở về lại triều – (Theo Dương Quảng Hàm). Cuối đời theo đạo Phật (mà ông đã đả phá những lề thói kể trên) , nên có câu: Học đáo Xương Lê chung ngộ đạo… Học cỡ Xương lê cuối cùng thấy Ðạo.

(11) Cho tôi thoáng cảm… Thơ Hồ Dzếnh, làm sau mấy chục năm tan nát dưới chế độ Cộng sản miền Bắc.

(12) Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: Một bổn kinh to tát trong đạo Phật, do ngài Cưu ma la Thập dịch từ bản chữ  Phạn ra chữ Hán khoảng năm 400 Tây lịch. Kinh này là bộ kinh căn bản của  tông phái Thiên thai và tông phái Pháp hoa, Bắc tông, (theo Phật học Từ Ðiển của Ðoàn Trung Còn) . Kinh này cũng như các kinh khác của Phật giáo Trung Hoa, xét về nguồn gốc và tác giả, trộm nghĩ vẫn còn là vấn đề cần cẩn trọng nghiên cứu, đánh giá lại. Lý do là, theo học giả Julia Ching, vì nhu cầu quá lớn về kinh của người Trung Hoa, đã sinh ra lắm kẻ tự xưng là đệ tử chính truyền của Thích ca; họ đã bịa bậy các loại kinh để cho có kinh mà bán cho người đi thỉnh, hiện tượng này Julia Ching gọi là sutra industry : chợ kinh ( Về chợ kinh xin xem Julia Ching, Chinese Religions, 1993, nxb the Macmillan Press LTD,  cuối tr. 129 – 130. / Về vấn đề văn bản của kinh Phật xin xem thêm Donald S. Lopez, Jr., 2000, nxb The story of Buddhism…,  nxb HarperSanFracisco, tr 67 – 72, và 109 – 117)

(14) Vầng trăng tròn: trăng viên mãn và các từ mài mại như thế, hay được  dùng trong thơ Thiền và trong đạo hiệu để chỉ sự chứng ngộ. Như trong câu:  Thúy trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh. Bạch vân minh nguyệt  lộ toàn chân. (Thiền Lão thiền sư, đời Lý).

(15) Sấm ngôn soán đoạt: Về nghi vấn lịch sử về chuyện sư Nguyễn Vạn Hạnh tự thả thơ rơi, rồi phao đó là lời sấm báo nhà Tiền Lê, với ông vua đang trị vì Lê Long Ðĩnh, đã đến thời mạt vận, trong âm mưu hạ Lê Long Ðĩnh và đưa Lý Công Uẩn, đệ tử nhà chùa của sư Nguyễn Vạn Hạnh lên làm vua, xin xem mục Nguyễn Vạn Hạnh trong bộ Thơ Văn Lý Trần, nhà xuất bản KHXH, Hà nội /  Riêng nghi vấn âm mưu diệt Lê Long Ðĩnh, xin xem bài “Bệnh Án của Ngọa Triều Hoàng Ðế” của BS Hồ Ðắc Duy, trong điện báo Chim Việt Cành Nam, địa chỉ http://www.phapviet.com/chimviet . Ðại ý: Vua Lê Long Ðĩnh tuy có giết anh chiếm ngôi (có một vị vua trước và một vua sau Lê Long Ðĩnh cũng làm như vậy) , nhưng vua Lê Long Ðĩnh là người biết chăm lo cho dân, cai trị giỏi, cho người qua Tàu xin Tứ thư, Ngũ Kinh và thỉnh kinh Phật Ðại Tạng, và là một vua đã đi chinh phạt 5 lần và lần chinh phạt cuối cùng là 2 tháng trước khi chết. Vậy những cái xấu xa mà xưa nay người ta gán cho vua Lê Long Ðĩnh là do đâu, và có đúng không, và cái chết của ông là do một âm mưu? Bài viết có giá trị vì tác giả đã trưng dẫn và đối chiếu nhiều sử liệu cổ. / Mấy trăm năm thanh bình với Phật giáo là quốc giáo dưới triều Lý cách đây đã ngàn năm vẫn là mẫu quốc gia lý tưởng cho một số trí thức Phật giáo trong cuộc chiến tranh Việt Nam và cả đến hôm nay, thế kỷ 21!

(16) Tông miếu: đền thờ tổ tiên, chỉ tổ tiên. Xã Tắc: Xã là thần mặt đất, và sản phẩm của thần Xã là thần Tắc (thần hạt), vậy Xã tắc chỉ Ðất nước.

(17) Marilyn Moroe: (1926 – 1960) nữ diễn viên điện ảnh của Mỹ, nổi tiếng với sắc đẹp sexy, tóc vàng, và cái nút ruồi duyên nằm dưới  phía trái môi dưới.

Nguyễn Văn Thà

https://c1.staticflickr.com/5/4078/4935314301_2496d36c2e_b.jpg

Khoảng tháng mười gió bấc bắt đầu thổi mang theo cái lạnh phương Bắc; thổi rền rỉ ngày đêm. Lá cỏ héo dần rồi tan nát. Gió đưa cát bụi len vào từng lỗ chân lông; người lúc nào cũng cảm thấy nhớp nháp, bức rức. Ðược cái những ngày như thế, chuông nhà thờ vang xa.

Khi mấy ổng chưa vào tôi chẳng để ý đến gió bấc cho lắm. Mùa gió nồm mát mẻ hay mùa bấc khô khốc vẫn hai ngày cắp sách đến trường, có cơm ăn no, có áo lành mặc. Nhưng rồi từ độ hai miền hết đánh nhau, gió bấc làm tôi phải chú ý đến nó nhiều hơn, vì cờ bay mạnh, bay nhiều, và cũng là lúc khởi đầu cho những năm tháng tơi tả. Người và gió bấc, cờ xí cùng vó ngựa, văn hoá với những luồng tư tưởng bóp miệng. Những người dân miền Bắc như những người từ cõi âm, bắt đầu xuất hiện trước lẻ tẻ, sau đó ào ạt vào Nam để rán kiếm cho mình một mảnh đất sống. Họ là những người ngàn đời đói đất; và vào cái thời cái gì cũng nhân dân làm chủ thì sự thèm khát đất đai lại càng mãnh liệt. Chẳng có gì quý hơn đất. Ðất nào cũng được miễn là có đất, dù chỉ tạm thời. Ðất rừng bạc màu chằng chịt cỏ tranh người trong làng tôi không ai thèm làm, cũng đã là quá tốt đối với họ. Nhưng chẳng dễ gì moi được miếng ăn từ những đám cỏ tranh lì lợm, rễ đan tầng tầng địa võng ấy. Dần dà mộng ước đất đai của họ bị cỏ tranh bóp nghẹt; thân xác héo quắt dưới nắng đỏ.

Chúa HCM độ ấy cũng đã theo gươm giáo vào ngự trị trong mọi nhà xứ  Ðàng Trong. Thực ra, đối với số đông, cái mặt của chúa như một lá bùa gớm ghiếc mà những thầy pháp, bà bóng của chúa cứ gióng phèng la, cứ hô âm binh đe dọa, nên cực bằng đả phải dán trong nhà, vì ai mà biết được lúc nào ma tha quỷ bắt.

Vậy mà có người đàn bà không thèm dán lá bùa ấy. Một người đàn bà Ðàng Ngoài.

 

Tôi đang đi kiếm con trâu lạc, tay cầm chiếc roi mới tự bện. Rừng rậm rạp và mênh mông xanh. Chẳng hi vọng gì kiếm được trâu, nhưng cứ phải tìm. Ði giữa lòng con suối cạn, lá vòm giáo đường, cát mịn mát in dấu chân chim lăm nhăm lẩn giữa những vết trườn mỏng manh của loài bò sát. Và, nơi đây, cõi đâu đâu uống lời im ắng; chim kêu chiều biền biệt vô ngôn. Bỗng có tiếng chuông nhà thờ đổ, vang vang giữa ngàn cây. Chuông đổ trước loa. Họ đã quên mở đài. (Bấy nay trời thôn dã rộn tiếng máu xương, chẳng mấy khi, như chiều nay, chuông đưa lòng về được một cõi không trâu.) Cảm ơn suối nhỏ vòm cây. Cảm ơi ai kẻ quên loa rộn chiều. Một nhánh tre quẹt ngang mặt cắt ngang câu thơ lạng quạng, làm tôi giật mình, nhìn lên. Bóng dáng một cô gái đang đi lại phía tôi, thong dong mềm mại. Cô mặc quần xanh bó Trung quốc và áo sơ mi trắng, bộ đồ kiểu cọ nhất của các chị em dân ngoài Bắc thời đó; còn tôi, tôi lại đang bận cái quần tà lỏn, hình như đủng hơi rách thì phải – tại chỉ nhợ hồi đó quá bở; ngượng quá lẽ, bèn chữa thẹn:

– Cô đi đâu đó?

– Dạ em đang nghe chuông – Câu hỏi trật bản lề của tôi nghe thiệt tội nghiệp so với câu trả lời đầy tiêu dao  làm tôi thảng thốt – Chuông chiều nơi đây nghe thật thích! Còn anh?

– Tôi đi kiếm trâu.

– Anh đi kiếm trâu hay đi kiếm tiếng chuông Trời đã gởi cho người thế từ lâu? Angelus Dómini nuntiávit Mariae et concépit de Spiritu Sancto… Et Vebum caro factum est et habitávit in nobis1 Mà trâu lạc lâu chưa anh?

– Hồi trưa đứng bóng.

– Tối đến nơi rồi, anh kiếm nhanh đi!

– Thôi, khỏi cần kiếm!

– Sao vậy?

– Vì đã có cô đây!

Tôi bắt đầu trổ mòi. Nhưng cô nàng vẫn cứ như không:

– Anh có biết không… ?

Và ánh mắt cô đóng cõi ngoài tôi lại; lời chở tôi trôi dạt mải mê. Cô thao thao về những tiếng chuông trong các tác phẩm văn chương Nga-la-tư.2 Những tiếng chuông ấy tắt đi từ Maxim Gorki, người khởi đầu cho một nền văn chương Nga-Xô-viết. Từ độ ấy tiếng chuông đã bị bóp cổ, cô nói. Chuông Nga xưa ấy sao giống tiếng chuông trong những bài văn mẫu của thầy Kính dạy tôi! , tôi reo, tiếng chuông nào cũng bay và mang theo ánh sáng.

Cô còn kể thêm chuyện một ông pốp3 già ở Nga suốt đời băn khoăn về một câu thơ chữ La tinh khắc trên chiếc chuông cổ của giáo đường cụ. Cụ ăn không ngon ngủ không yên suốt 70 năm vì câu thơ ấy. Rồi cô đọc câu thơ tiếng La tinh ấy- dĩ nhiên tôi mù tịt – nhưng tôi vẫn nhớ được câu thơ bắt đầu bằng một cái âm từa tựa như là luna4 – giống tên hiệu đèn Huê kỳ nhà tôi đang dùng . Rồi cô dịch ngay: Rừng  đẻ trăng. Tiếng chuông của cỏ. Câu thơ đã làm cụ pốp phải kêu lên: “Người đời xưa mà làm được những vần thơ mới đến như thế ru!?” và cụ nghi đó là thơ ngàn-hoa-nội-cỏ của Virgil5. Nhưng rồi, dù miệt mài đọc thơ của Virgil và cả của các thi sĩ La tinh khác đến bạc cả mái đầu, cụ vẫn không kiếm ra gốc tích câu thơ. Cuối cùng chuyện đến tai một anh thợ cày trong vùng, anh ta bèn phán với thằng con, vốn là trò giúp lễ của cụ pốp : “Mẹ, biết đâu thằng thợ đúc chuông khắc sai!? ” Chú bé mách lại với cụ pốp , tóc cụ đang bạc trắng hóa ra đen; rồi cụ bỏ xứ đạo mà đi, không biết đi đâu…

– Cô đã ở Nga ?

– Em là công chúa Anastasia6. Em là công chúa ngàn đời của Ðất Nước em. Khi gã Lênin ám sát em, gã đã làm một việc rất dại dột: Gã đã phong thánh cho em.

– Cũng như tiếng chuông?

– Ðúng, làm sao hắn bóp được âm vang của muôn vàn chuông vàng đã thấm vào từng cục đất, hạt cỏ nước Nga cả hàng ngàn năm.

– Thế là cô không cho là câu thơ La tinh khắc trên chuông mà cô vừa kể là sai từ vựng, sai văn phạm?

– Không, đó là một câu sấm hoặc một câu thơ thị kiến.

– Xem ra nước Nga sinh ra khá nhiều những con người thị kiến…

– …và những con người hoang tưởng. Tôi nghĩ là gián tiếp giáo hội Chính thống Nga với những lễ nghi phụng tự và các hình thái nghệ thuật liên hệ chẳng những đã sản sinh những con người đầy thị kiến như Dostoievsky, Paternak mà còn tạo nên những kẻ hoang tưởng như Léânine và Stalin. Cứ thử vào tham dự một thánh lễ nơi nhà thờ Chính thống Nga anh sẽ cảm nhận được những điều tôi nói. Các ông pốp và các tín hữu như đang tận hưởng những hoan lạc siêu hình suốt cả hai ba tiếng đồng hồ giữa giòng nhạc rền rỉ, ray rứt, khát khao, giữa chơi vơi trầm hương, nến sáng. Elohim! Elohim! Elohim!7

– Còn tiếng chuông?

Nàng im lặng không đáp. Cú bắt đầu rúc loanh quanh. Muỗi bay vòng, quanh mặt nàng ánh xanh lấp loáng. Nàng đi đi lại lại dưới vòm cây, đôi khi mơn man một chiếc lá, đôi khi như đang lặng nghe tiếng nghìn trùng, lại có lúc thầm thì chuyện vản. Quên cả rừng chiều sắp đóng. Tôi ngồi trên tảng đá ngóng cổ nghe nàng; ngờ ngợ nàng như Ðức Giêsu, và tôi, như thánh nữ Mađalêna, đang ngồi dưới chân nàng uống suối nguồn trí huệ từ môi. Một lúc sau, miệng nàng mấp máy máu tươi:

– Tôi chỉ biết bay trong tiếng chuông nước Nga, nhưng tôi nghĩ chỉ có các ông pốp dưới thời Xô viết mới thực sự sống tiếng chuông. Họ là những Quasimodo10 gánh oằn vai những sầu thương nhân thế và của chính đời mình. Nghĩ mà thương…

– May có Esmeralda chia xẻ gánh gian truân.

– Anh có biết không, tôi vào Nam để nghe, để nhìn những tiếng chuông cuối mùa?

– Tại sao lại là cuối mùa? Tôi tin rằng chính phủ đương thời, rút kinh nghiệm bên Nga, sẽ vẫn cho giật chuông nhưng lại ra sức khuyếch đại âm thanh của chiếc loa vốn đã rỉ sét của mấy ông ấy. Và họ tin là loa sẽ thắng chuông. Cô có nghĩ như vậy không?

– Làm sao mà biết được. Ai mà hiểu được Bóng Tối!

Và tôi cúi đầu nhẫn nhục để cho bóng tối tràn lan, che kín nhãn quan và nuốt chững tâm tư. Nghe đời mình quen dần mộ địa.

Nhưng rồi không biết bàn tay huyền hoặc cỏ cây đã cởi quần áo nàng hay chính nàng đã tự khoả thân mà, khi ngước lên, tôi thấy nàng đang trần truồng, đong đưa ảo diệu như một chiếc bình pha lê treo giữa tà huy.

Có tiếng thì thào đâu đó trên muôn ngàn lá:

– Bóng tối đã bóp nghẹt cả giang san. Tôi phải về nhà cha tôi. Cha tôi có nhiều chỗ ở, anh có về không, anh có về không?

Nàng tan loãng theo tiếng gà rừng gáy sảng: Hoàng hôn mà cứ ngỡ bình minh.

 

Trời gần đứng bóng tôi ngủ mới dậy. Sáng dậy đi làm không nổi dù má kêu năm lần bảy lượt. Ði tàn tàn qua nhà thằng em hút điếu thuốc lào cho tĩnh, thấy mấy anh hàng xóm đang phụ nhau xẻ thịt một con chó. Máu me vung vãi, lấm lem những chùm lông chó trắng nõn lung linh như muôn ngàn mũi kim dưới trời trưa nắng đổ.

– Kiếm được con cầy đâu mà ngon vậy, mấy cha !? – Tôi hỏi

Thằng Năm, em tôi, cười hề hề:

– Ngon cái khỉ mốc, thịt ba con chó cái, mười con hết chín mềm xèo! Ðầu hôm ra rẫy gần suối Rạn để canh heo rừng, thấy nó cứ xớ rớ cạnh chòi, đã vậy lại còn rên ư ử như rượng đực, tui ngứa máu nhào lại tính phang cho một một cuốc, vậy mà nó vẫn đứng im nhìn tui, làm tui phải gượm tay lại…

– Rồi sao…?

– Tính để kệ mẹ nó, nhưng nghĩ lại thấy gió bấc thổi mạnh, trời động cá mắm không có, tui tròng cổ trói lại, bỏ bị vác về hồi hôm.

– Hay là chó bị người ta thuốc mậy? Coi chừng ăn ngọng miệng cả đám! Vả lại chó của người ta…

Anh hàng xóm đỡ lời:

– Không sao đâu anh ơi! Tụi em đi xẻ ván hằng ngày trong rừng thấy con chó nầy cứ chạy lông rông trong rừng cả mấy năm nay rồi; chắc ai dời nhà không đưa nó theo. Tụi em tính thịt nó từ lâu rồi mà không được. Nó cứ thoáng ẩn thoáng hiện; không biết sao đêm qua lại lại dẫn xác đến rẫy nhà anh như vậy. (Tôi với em tôi làm chung một rẫy).

Thằng Năm phụ họa:

– Ðúng như vậy đó anh Tư… Thôi, chó nào cũng là chó! Mà anh Tư nè… đang kẹt không biết kiếm đâu ra trái dừa khô để hầm chó. Không biết dừa bên má có buồng nào già chưa, anh về chỉa cho tui ít trái.

– Hôm qua má nhờ thằng Hào chọc xuống bán sỉ cho bà Tám ngoài chợ hết rồi…  mà thằng Hào con Huệ đâu cả rồi?

– Thằng Hào dọt ra đâu đầu xóm, còn con nhỏ Huệ còn ngồi khóc đằng hồi nhà. Ai đời nó với thằng Hào cứ giành nhau cái chuông con chó, la lối um xùm. Xùng máu, tui xáng cho một đứa một cái bạt tai. Cái thằng mất dạy nó lì đòn, còn con nhỏ cứ khóc rấm rứt hoài… Mẹ, ở đây chó nhà quê mà ai đó còn treo cái thứ chuông lục lạc như chó Tây không bằng! Nhưng phải công nhận cái chuông thiệt đẹp, bóng lộn như vàng.

– Giờ ở đâu rồi?

– Nóng gà, tui dụt mẹ xuống ao cho khỏi cãi nhau… Mà anh Tư à, kẹt quá, không có dừa khô thì khó mà hầm thịt chó cho ngon được!

– Sao không đạp xe ra ngoài chợ chồm hổm mà mua?

– Chợ búa xa xôi quá, mà chắc gì đã có!

– Thôi, để tui lên cha xứ xin cho các ông một trái. Hôm qua tui còn thấy cây dừa bung bên giếng của ổng có mấy buồng già rồi.

– Không dễ đâu, ổng kiết lắm.

– Mầy đừng có nói vậy. Các cha phải giữ thế chớ! Cha là cha trăm họ; cho người này mất người nọ.

– Ừ, thì cũng được đi. Nhưng anh là cái gì mà anh cho là cụ sẽ chơi đẹp với anh?

– Mầy không nhớ anh mầy là trưởng ca đoàn sao!?

Trời đứng bóng. Khi vừa đến trước nhà thờ cổng nhà thờ, tôi thấy ông cha xứ đang giật chuông trưa truyền tin, thấy cả bóng dáng một thiếu nữ quần áo trắng thấp thoáng giữa những bụi hoa trúc đào cao tới vai cạnh tháp chuông. Tôi không thấy rõ mặt người con gái, vì mái tóc thề lơ là che kín một nữa khuôn mặt; và dường như cô nàng đang lắng nghe chuông. Tôi để ý thấy trên mái tóc bên trái có cài một cánh hoa bằng lăng và dưới chân đeo một đôi giày cao gót màu trắng, kiểu giày cao cấp vẫn thấy bán trong các cửa hàng quốc doanh số một ở Mạc Tư Khoa vào những thập niên sáu mươi, bảy mươi. Giật chuông xong, ông cha hối hả đi vào nhà xứ, hay nói đúng hơn, hối hả đi thẳng vào nhà bếp. Tôi đang  bận thu xếp câu cú trong đầu sao cho khéo, để thỉnh bằng được một trái dừa nạo của cụ cho mấy thằng đàn em nễ chơi. Khi ngước lên, tôi không còn thấy cô gái đâu.

Khi vào tới cửa bếp nhà xứ, tôi thấy cụ đã ngồi thoải mái giữa chiếc bàn rộng mênh mông đầy ắp thức ăn: cá, thịt, trái trăng, đủ màu đủ cở. Và còn có cả chai rượu lễ đỏ như máu, hiệu Cờ đỏ, sản xuất tại Liên Xô – vì tôi thấy có cái tên Cộng Hoà Liên Bang Xô Viết, viết tắt bằng mẫu tự Nga, CCCP, to chần dần trên nhãn, mà bọn trẻ trong làng, không biết ai bày, từ lâu đọc là Coi Chừng Chúa Phạt.

Tôi chào, cụ  im. Tôi bèn tự động kéo ghế ngồi, cụ hơi khó chịu, nhưng cụ vẫn tiếp tục ăn và không chào hoặc hỏi tôi một câu dù chỉ cho có lệ. Tôi thấy giấc mơ trái dừa khô bị bóp nát tàn nhẫn. Và khi đang loay hoay giữa phẫn nộ và khinh bĩ, tôi thấy người đẹp áo trắng lúc nãy đi vào và đứng ngay trước bàn ăn, nhìn thẳng vào cụ. Tôi nửa ngờ ngợ nửa khoái trá nhìn cô gái mặt hoa da phấn.  Ông cha xứ vừa xăm xói ăn vừa hỏi, câu hỏi lửng lơ không chủ từ mà những kẻ bề trên hay dùng:

– Ðến đây có việc gì?

Cô nàng đáp ngay, dù chưa chắc ông cha xứ đã hỏi cô, giọng thỏ thẻ, (tôi bắt buộc dùng cái chữ rất đỗi cải lương này, nhưng chỉ có động từ này mới diễn tả được đúng cái giọng của cô gái lúc đó):

– Con đến để tìm tiếng chuông của con. Tiếng chuông con lưu lạc chưa về. E chừng mất hẳn rồi, cha ơi!

Tôi nghe chuông rừng vọng ngược về. Tôi nghe pha lê rạn vỡ.

Và cô vẫn đứng đó nhìn vị linh mục đăm đăm như đang cố tìm nơi ông tiếng chuông của cô; và bỗng nhiên, ánh mắt cô tối sầm lại.

Ông cha xứ hoặc không nghe cô ta trả lời hoặc không thèm để ý đến cô ta, như thể cô gái không hề đứng trước mặt ông, bởi ông chỉ nhướng mắt nhìn tôi, và rõ ràng là ông đang giận tôi vì tôi đã không trả lời ông. Thực ra không phải như thế, chẳng qua tôi đã không nhanh miệng hơn cô gái.

– Dạ con đến để nói chuyện với cha cho vui – Bây giờ tôi mới trả lời được.

Rõ ràng câu trả lời của tôi chỉ cho đỡ ngượng, bởi phương án xin dừa hầm thịt chó đã cháy tiêu ngay từ phút đầu gặp gở. Sượng trân, tôi nhìn bâng quơ ra ngoài cửa sổ một lúc; khi quay lại, cô gái đã đi từ hồi nào – và hình như không thèm chào ông cụ – và tôi chỉ thấy một bà già áo quần vá chằng vá đụp, đầu quấn khăn xứ Nghệ, một bà Bắc bộ chính hiệu, đứng ngay chổ cô gái đứng lúc nãy. Bà ta khúm núm, hốt hoảng:

– Thưa cha, mấy thằng chăn trâu mới phát hiện con mẹ Ngọc treo cổ tự vận ngoài suối Rạn đâu hồi hôm.

Ông cha vẫn cắm cúi ăn:

– Ngọc nào?… Mà sao lại biết là đêm qua?

– Con-Ngọc-đĩ-Liên-xô đó cha! Biết là đêm qua là vì nếu ả treo cổ giữa ban ngày mấy anh thợ cưa, mấy đứa chăn trâu phát hiện ra ngay. Cái đồ đĩ đó có chết cũng…

Ông cha xứ bây giờ mới ngước mặt lên:

– Bậy nào, sao gọi người ta là đồ đĩ, rồi còn gọi là đĩ Liên Xô là làm sao!?

– Thì con ni, hồi còn ở ngoài nớ, giỏi giang răng đó lại được đi học Liên Xô. Học đâu được mấy năm mà lại cứ lân la tằng tịu với mấy ông cha râu xồm ở bên nớ.  Trình cha, không biết tại răng mà người ta gọi mấy ông cha Liên Xô như rứa?

– Ừ, tại vì các linh mục theo giáo phái Chính thống có tập tục để râu dài như thế.

– Chớ không phải các ông ấy sinh đàng tội lội mà người ta kêu như rứa?

– Khồồồng… Làm gì có chuyện đó! – Ông linh mục gạt ngang, rồi hăm hở hỏi tiếp, trái cổ đưa lên đưa xuống – Rồi sao nữa?

– Thì bị nhà nước kéo cổ về nước chơ sao nựa cha! Ðã vậy còn lăng nhăng mô ngoài Hà nội mấy năm; lại lân la đến các nhà thờ. Có bựa đi tham quan mô đó nhà thờ chính toà, ả lại chài mồi được thầy giảng Chung8. Cha có biết không: Chẳng ai kéo chuông hay bằng thầy nớ. Thiệt uổng công tu trì mấy chục năm gian khổ cha nợ!

– Rồi sao nữa bà? Rồi sao!?

– Thì thầy xấu hổ quá, phải xin đi bộ đội vào Nam. Có kẻ nói thầy chết mất xác nghe đâu trong một trận đánh lớn ở cái tỉnh Thuận Hải nầy; có kẻ lại nói thầy hàng địch rồi xin đi tu làm cha đâu ở trong Nam.

– Rồi sao nữa!? Rồi sao nữa!?

– Nghe thằng cháu của con học đại học ở Hà nội nói là người ta còn đồn ả cứ quần là áo lượt vô ra toà đại sứ Liên Xô, còn đi múa đôi, ăn uống với mấy ông nớ.

– Sao người ta biết hay vậy?

– Thì có anh người cũng ở quê với chúng con, làm to đâu trong bộ, trong phủ chi đó ngoài nớ, phải lòng ả, mê ả, răng đó không được, thất tình, uống rượu, nói lung tung phèng.

– Có gì nữa không, kể cho cha nghe!

– Chúng con vô Nam đầu tắt mặt tối bới đất lặt cỏ mới kiếm được đôi miếng bỏ miệng, còn ả cứ ăn trắng mặc trơn đi lòng dòng trong rú.

– Vô rú mần cấy chi rứa? – Lần này không biết tại sao ông cha lại trọ trẹ giọng Nghệ, quên béng cái giọng Hà Nội mà ông cố uốn lưỡi bao năm để, khi đứng trên toà giảng, giảng cho oai, cho ra cái vẻ mình là dân Thăng Long ngàn năm văn vật.

– Thì nằm với mấy thằng thợ cưa trong rú chơ mần chi nữa cha nợ. Chơ của mô mà ăn trắng mặc trơn đi cà nhỏng cả mấy năm ni… Nhưng mà trình cha, dừ ả treo cổ chết như rứa, họ9 chúng con không biết làm phải mần răng đây?

– Mà ông trùm chồng mụ đi đâu mà mụ lại vô đây?

– Nhà con đi xẻ ván trong rừng từ hôm qua; không biết chết rấp xó nào góc nào mà trưa vẫn chưa thấy về.

Khuôn mặt ông cha hăm hở lúc nãy bây giờ ra dáng lập nghiêm:

– Hay là đêm hôm lại đi la cà… Thiệt là bê bối!

– Dà…

– Mà nì, không thấy chị ta đi nhà thờ nhà thánh chi cả, chắc là phường vô đạo?

– Có mô cha! Cha mẹ của ả đạo dòng mà! Gia đình ả ngoài nớ ở cách nhà chúng con có ba bốn căn chơ mấy!

– Dù có đạo đi nữa mà tự tử thì không được chôn trong đất thánh. Chôn đâu cũng được, không được chôn đất thánh.

– Thôi rứa cũng được chơ hơi mô mà mất công khiêng cả bốn năm cây số đường rừng những kẻ…

– …những kẻ cướp quyền ban phát sự sống của Chúa. Tôi sống không còn phải là tôi sống nhưng là… Chắc mụ còn nhớ?

– Dạ nhớ. Cám ơn cha… Con sẽ về báo cho họ đạo của con biết lời dạy của cha.

Rồi bà trùm già cắp nón le te đi ra.

Một luồng gió bấc thổi mạnh làm vô số những cánh hoa dầu lông bay ào ào xuống phía trước đài Ðức Mẹ.

Tôi vọt ngay khỏi nhà xứ quên cả chào ông cha xứ; chạy ngay ra phía suối Rạn. Tới nơi, tôi thấy có độ chục người đang còn đứng đó chỉ chỉ chỏ chỏ cây bằng lăng độ lượng hoa tím mát tinh khôi. Dây treo cổ vẫn còn đong đưa trước gió như xác rắn hồng hoang mới lột, nhưng xác của người đàn bà tên Ngọc ấy tôi không biết nguời ta đã hạ xuống hồi nào và đưa đi đâu. Có anh đàn ông đưa hàm răng hô ra vừa cười vừa chỉ về phía bìa rừng không xa cội bằng lăng là bao nói, dù tôi không hỏi:

– Chòi ả đằng nớ, chòi ả đằng nớ tề.

Tôi thấy phía đằng đó có một mái tranh, thật nhỏ nhưng khá xinh xắn nằm cạnh con suối cạn, gần chỗ tôi đi kiếm trâu chiều qua. Tôi chạy nhanh đến chòi. Chòi với liếp cửa lác đan theo hoa văn của các sắc tộc người Á sống trong rừng taiga Tây Bá Lợi mà tôi có dịp xem trong các tờ báo ảnh Liên Xô. Và không có ai quanh chòi; vì sợ hồn ma người đàn bà chăng? Tôi giật liếp xông vào, thấy chỗ, mà những nhà khác người ta phải dành để treo hình chúa Hồ, là hình một cái chuông lớn vàng rực ánh sáng với hàng chữ mà tôi đoán là câu thơ La tinh vì nó bắt đầu với chữ luna. Phía bên phải gian chính là chái bếp. Và bên trái còn có một căn phòng bé, thật bé, có lẽ là phòng riêng của chị ta, có khoá; tôi giật tung ổ khoá nhìn vào, thấy bên trong có một chiếc giường… nệm với khăn trải giường và  hai chiếc gối, cả hai thứ đều trắng muốt phẳng phiu – những hình ảnh ước lệ mà các nhà-văn-có-lý-lịch-nằm-ổ-rơm thường dùng trong những phân cảnh mô tả những trò hủ hoá của các giai cấp bóc lột; và mùi hương ngọt ngào vẫn còn lẩn khuất trong phòng. Trên đầu giường tôi thấy một bức tranh màu nước, không lộng kiếng, vẽ một vùng cỏ xanh rối rắm, tựa cỏ tranh, bên trên là một hàng chữ Nga viết bay bướm, mới trông thì giống như những đám mây nhỏ, nhưng nhìn kỹ thì giống như mái tóc con gái – không hiểu sao tôi cứ đinh ninh đó phải là tóc con gái chứ không phải là tóc đàn bà – đang chờn vờn trên muôn nhánh cỏ. Hàng chữ viết tháu bằng mẫu tự Nga ấy là hai câu thơ Việt: Tiếng chuông của tôi nay đâu Chìm đâu khe suối hay mầu cỏ cây.  Tôi còn tìm thấy dưới gối một cuốn sổ mà tôi cầm chắc là cuốn nhật ký; và có cả chiếc roi đánh trâu của tôi cuộn quanh cuốn sổ, như một con rắn hổ mang đang bảo vệ Kinh Thiêng trong các bức phù điêu Ấn độ. Tôi thử giở vài trang, có trang viết bằng mẫu tự tiếng Nga, cố đọc vài dòng nhưng chẳng hiểu gì, có trang lại là thứ văn tự tượng hình kiểu như cổ tự Ai cập đầy biểu tượng chim, người, hoa lá, mãnh thú, nông cụ.

Bỗng, tôi nghe có tiếng trống cà rùng và tiếng hét, của nhiều người lắm thì phải: “Ðả đảo con đĩ Liên Xô! Ðả đảo con đĩ Liên Xô” và hình như họ đang tiến lại phía chòi. Tôi nhét cuốn sổ vào bụng, chạy tọt ra ngoài và thấy ngay một đoàn mấy thằng chăn trâu vừa đang hô hoán vừa hằm hè cầm mồi lửa chạy xốc tới. Thế nào mà chúng nó chẳng thấy tôi đang từ trong chòi “con đĩ Liên Xô” chạy ra!

Và bọn nó đốt chòi. Lửa cháy đượm phải biết! Gặp gió mà lại!

Ðột nhiên có thằng hô to:

– Ðập chết cha cái thằng dê xồm!

“Ủa chẳng lẽ là tôi?” – Tôi ngạc nhiên tự hỏi.

Không cần biết, tôi chạy thí mạng về hướng mặt trời. Chạy một đỗi, lạ quá, không thấy ai đuổi theo. Mừng rơn. Chắc lũ trẻ đang bận xem lửa cháy. Tôi còn nghe mấy thằng nhãi vừa vỗ tay vừa hát cả bài Kết đoàn kiểu mới Rừng núi giang tay nối lại biển xa11… sau lưng.

Khi hoàn hồn tôi thấy mình đang đứng trước bãi biển, thở dốc. Coi vậy chứ  bọn chăn trâu đâu có tha đâu tôi đâu mà đã vội mừng, vì loáng thoáng phía rừng tràm dọc bãi biển, tôi thấy chúng đang lội bì bọp như đàn trâu điên, tay đao tay mác, rõ ràng là đang rượt theo tôi, và lần này chúng hô một khẩu hiệu khác: “Ðả đảo cái thằng liếm lồn! Ðả đảo cái thằng liếm lồn!” Quýnh quáng, tôi ném luôn cuốn sổ ra biển, nhưng cuốn sổ cứ dật dờ bên mép sóng; những lượn sóng dữ bổ ập vào vẫn không nhận chìm được cuốn sổ; và sổ vẫn đóng kín. Khiếp quá vì sợ mấy tay đánh trâu chộp được, tôi nhảy vội lên cuốn sổ, dí nó xuống nước, nhưng bỗng nhiên tôi cảm thấy người nhẹ tênh tênh: Cuốn sổ mở toang lòng đưa tôi lướt phăng phăng trên điệp trùng sóng dữ, nhanh đến nỗi chưa hét xong “Giêsu Maria, lậy Chúa tôi!12“, tôi đã đặt chân khô ráo lên bờ biển đảo Bidong, Mã Lai.

Ở trên đảo ấy cũng có một nhà nguyện nhỏ cho những thuyền nhân tị nạn Công giáo, và một cái chuông ai đó gắn lẳng lơ trên cây bằng lăng tím ngát màu quê. Và, mỗi lần nghe chuông truyền tin trưa chiều, nhất là chuông chiều, thay vì đọc kinh, tôi lại bắt đầu chửi, chửi tôi đã không theo cô gái pha lê về nhà cha cô hoàng hôn hôm đó.

Sau này, khi đã được định cư, tôi mò mẫm học lại tiếng Nga (cố ý để đọc cuốn sổ tôi lấy trong nhà người đàn bà tự vẫn tên Ngọc, mà sau hơn hai mươi năm, qua bao sóng to gió cả, chữ vẫn còn rõ nét. ). Nhưng, khi học được tiếng Nga ở mức có thể đọc được các tác phẩm cổ điển văn chương Nga-la-tư, thử giở lại cuốn sổ để đọc, tôi lại đụng phải cái văn phong phù thuỷ từa tựa như văn phong trong những sưu tập sấm ngôn của các nước Bắc Âu nơi  tôi đang cư ngụ. Ấy là chỉ nói tới phần tiếng Nga; còn phần chữ  chim-cò, đành chịu thua.

Vào dịp sang viếng Rôma, Năm Thánh 2000, tôi mang theo cuốn sổ có ý để nhờ giám mục Nguyễn Văn Thuận, một vị chủ chăn vốn thông kim bác cổ, mà báo chí người Việt hải ngoại đã thuật lại là thời gian ở tù ngài còn cố gắng học đến thông thạo tiếng Nga, và còn soạn được cả từ điển Nga – Việt, để ngài đọc và giải nghĩa dùm.

Nhưng nghĩ ngợi loanh quanh, tôi lại thôi.

 

  Oslo, 6.8.00 – 3.11.02

 

(1) Angelus… (tiếng La tinh): Thiên thần của Chúa truyền tin cho  Maria. / Và bà đã chịu thai bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần… Và Ngôi Lời đã trở thành xác thịt./ Và ở giữa chúng ta. (Trích từ kinh Truyền tin, nói về chuyện sứ thần của Ðức Chúa Trời truyền tin cho Ðức Bà Maria về việc bà sẽ chịu thai Ðấng Cứu Thế Giêsu, theo Kinh Thánh Tân Ước. Người Tây họ gọi kinh này là kinh Angelus, vì chữ Angelus là chữ đầu của kinh, bản La tinh. Tôi, kẻ viết truyện này, khi cô gái đọc kinh này bằng tiếng La tinh thời nhớ lại ngay, vì phải học thuộc lòng kinh đó từ lớp 6, và bây giờ vẫn còn nhớ để chép ra đây. Còn câu thơ kỳ bí ở khúc sau thì chịu, không nhớ được.)

(2) Nga-la-tư: Tiếng dùng để phân biệt với nước Nga-xô-viết sau này.

(3) Pốp (tiếng Nga): dùng để xưng hô các linh mục Chính thống Nga.

(4) Luna (tiếng La tinh ) : trăng

(5) Virgil: Thi sĩ La tinh cổ đại; chính ra tên La tinh là Publius Virgilius Maro (70  –  19  tr. CN)  , sở trường về thơ đồng nội. Thơ của ông có ảnh hưởng nhiều nền thi ca Tây phương qua các thế hệ.

(6) Anastasia: Công chúa út của Nga hoàng Nicolas II, bị hạ sát cùng với cả gia đình, do chính lệnh của Lênin.

(7) Elohim (tiếng Do thái) : Chúa; ngoài ra Ðức Chúa Trời, trong Cựu ước, còn tự xưng ngài là Gia vê. Trong các bài kinh của đạo Chính thống Nga, người ta hay kêu thánh danh này.

(8) Chung: Âm Hán Việt có nghĩa là 1. chuông, 2. hết.

(9) Họ: Một xứ đạo chia ra nhiều họ đạo.

(10) Quasimodo (nam), Esmeralda (nữ): Hai nhân vật chính trong tác phẩm Thằng Gù Nhà Thờ Ðức Bà Ba Lê của nhà văn Victor Hugo.

(11) Lời của bài Nối Vòng ta Lớn của Trịnh Công Sơn.

(12) Giêsu Maria lậy… : Câu tán thán người Công giáo hay dùng.