Tiết trực, Tâm hư : 節 直, 心 虛

ĐỨNG THẲNG, QUÊN MÌNH

Nguyễn Văn Thà

https://image2.tin247.com/pictures/2015/06/23/ghd1435065277.jpg

 

Hình như đêm nay tóc ông Tám vừa bạc thêm. Từ bên nhà trông qua, tôi thấy ông vẫn đang lui hui bên bếp lửa ngoài trời, bếp lửa nấu bánh đêm ba mươi như mọi năm. Ông ngồi nhìn lửa, lặng lẽ như một tảng đá đen. Tối ba mươi nào ông cũng nấu một nồi bánh thật lớn và chong lửa ngồi suốt đêm ngoài trời. Ngồi một mình.

Chiều nay trong khi ăn mấy củ lang luộc, mẹ tôi có nói là đầu hôm bà vừa qua nhà ông Tám thỉnh thang thuốc.

Ðêm giao thừa năm ấy tôi uống say đến ói. Tôi loáng thoáng nghe mẹ tôi vừa cằn nhằn cho tôi uống nước khoai dong giả rượu mà tôi biết bà đã lò mò moi bên hàng, và vừa lâm râm râm đọc kinh. Ðêm ba mươi mẹ tôi đọc kinh hầu như suốt đêm, vì mẹ có nhiều người đã mất, mà mẹ lại rất hay thương, thương và nhớ rất lâu.

Một luồng gió lạnh lùa vào làm tôi rùng mình. Hình như chòm sao Liệp Hộ ngoài trời kia đang giương cung chĩa vào tôi.

***

Năm 1976, nổ ra những vụ phản động trong làng tôi. Qua kinh nghiệm đau thương ở ngoài Bắc, mẹ tôi sợ là tôi sẽ bị bắt, bởi một lẽ là tôi là kẻ có chữ, và là người duy nhất đeo kiếng. Tôi không chịu nghe lời khuyên của mẹ là nên trốn đi, vì tôi nghĩ là tôi chẳng làm gì gọi là phản động cả bởi tôi chỉ là một đứa nhát gan. Thế là ở tù. Mười 30/4. Mười 1/5. Mười 19/8. Mười 2/9… Tôi được thả ra khỏi tù vào ngày sinh HCM, bác của mấy đồng chí giam tôi. Hồi còn bé cha xứ tôi vẫn dạy là hễ ‘ai xin thì sẽ được; ai gõ cửa, cửa sẽ mở.’ Không biết chuyện tôi được thả do công ai. Do mấy cháu của HCM rộng lòng thương hay, như các cha xứ, hoặc như lời mẹ tôi, lặp lại lời mấy cha, là Chúa đã dun dủi lòng mấy ông ấy cho tôi về. Tôi không bận tâm nhiều về những chuyện đó nữa. Tôi chỉ biết tôi được ra khỏi tù hay, nói rõ hơn, ra khỏi chổ tập trung nhiều người nhất thế gian, chổ nằm nhỏ nhất, hạt cơm ít nhất, muối ít nhất, cầu tiêu hôi cũng hôi nhất, giẻ chùi đít mục nhất. Tôi thoát ra được những cái nhất thế gian đó, mừng lắm, nhưng mừng nhất vẫn là được thoát khỏi cái thế giới người tệ và hại nhất thế giới của hồi đó, của bây giờ và của mãi mãi.

Giữa giấc ngủ trưa vàng khè, chập chờn, rã rượi, tôi đã gặp được Nhàn dưới cây mận hồng đào tán lá xanh mướt trỉu những chùm trái đỏ au diêm dúa khác thường giữa một buổi trưa khô khốc, bụi bặm. Nhàn là con gái của ông Tám hàng xóm. Con nhỏ đã lớn trộng không ngờ. Ðẹp và tươi mát mạnh khoẻ như thể những cay nghiệt khốn khổ của những năm sau chiến cuộc không ảnh hưởng gì; ngoài ra Nhàn vẫn có cái vẻ thơ ngây hiếm hoi. Tôi mới được thả ra được mấy hôm, lại đang chẳng thích đi đâu. Chỉ tính qua thăm ông Tám, nhưng lại đang ngại. Nhàn nói là Nhàn sang đây mang cho tôi thang thuốc nam tẩy sơn lam chướng khí mà ông Tám mà mẹ tôi đã dặn; và “Ba mời anh qua chơi.”  Tôi nhìn cô bé, cảm ơn lẫn nghi ngại. Tôi không tin gì vào sự công hiệu của thuốc nam cho lắm, và tôi thấy có sống cũng chỉ kéo dài thêm phiền muộn trong cuộc đời trước đây vốn dĩ đã nhiều phiền muộn, và sau khi ở tù về, lại càng phiền muộn thêm, như những mái tranh mục muôn thuở giữa miền duyên hải đìu hiu gió cát.

Cảm ơn ông Tám và cô Nhàn. Rảnh, cô ngồi chơi, tôi nói. Em bận ra ngoài trụ sở xã vì các ảnh trên đang chờ, Nhàn nói. Tuy tôi là người sinh ra và lớn lên ở miền Trung, nhưng tôi lại rất yêu cái âm điệu trong sáng, dịu dàng của tiếng Nam, nhất là khi được một người đàn bà, và là một người đàn bà đẹp nói. Nhưng khi nghe cái từ ngữ mấy ảnh trên, dù phát ra từ môi một cô gái phải nói là khá xinh như Nhàn, tôi bỗng đâm ghét cái tiếng miền Nam ghê gớm, và dĩ nhiên tôi ghét lây người phát âm ra nó. Chỉ đợi Nhàn ra khỏi ngõ, tôi quăng ngay thang thuốc vào trong lò trấu dâm ngay. Tôi dục, vì tôi lúc này tuy yếu đuối lắm, nhưng vẫn còn đủ sức để phẫn nộ. Nhưng nghĩ cũng vô lý, thuốc là thuốc của ông Tám kiếm cho tôi, và Nhàn chỉ người đưa qua thôi, sao tôi lại vứt đi như vậy?  Vả lại chính Nhàn mới là kẻ phát âm cái tiếng mấy ảnh trên chứ đâu phải ông Tám. Ðúng là giận cá chém thớt, chém một lượt hai thớt.

Tôi mường tượng bóng dáng nhơn nhơn của Nhàn đang đi trên con đường trải đất đỏ nhão nhoẹt, đến trụ sở xã hoe hoét màu đỏ như một mụ điếm già hết thời về quê câu khách. “Mấy ảnh trên đang chờ.”   “Ð. M.   mấy ảnh! Tao đã biết mấy ảnh ra sao rồi; thằng nào cũng như thằng nấy.”

Mẹ tôi, đang ngồi nhặt sạn gạo ở trong nhà, nghe mùi thuốc cháy, hỏi vọng ra:

– Từ ơi, mi đốt cấy chi nghe mà thơm rứa? Coi chừng củi lửa! Tháng này gió bấc thổi mạnh.

– Không có chi đâu mẹ, con quăng vô lò mấy cái cọng ngãi cứu cho thơm thôi mà mẹ…

– Mi bệnh hoạn như rứa cũng phải kiếm cái chi uống chớ, chẳng lẽ nằm đó chờ chết. Hôm qua tau mới qua nhà ông Tám kể bịnh của mi, ông nói ông sẽ kiếm cách giúp, nhưng ông lại nói có lẽ cái bịnh của mi phải dùng thuốc tây mới mau lành.

– Không sao đâu mẹ.

– Tết nhất mi cũng nên qua thăm ông Tám một chút! Hồi mi còn ở trong tù, (chưa bao giờ nghe mẹ tôi dùng chữ cải tạo,) ông Tám giúp cho nhà mình nhiều lắm.

Tôi khi không nổi xùng:

– Gia đình mình? Bộ có con trong đó nữa sao?

– Có, Từ à! Mấy hủ ruốc kho sả, mấy lon gô thịt mấy bận Tết mẹ gởi nhờ người ta đưa lên cho con là của nhà ông Tám gởi cho con, chớ ai vô đó. Con Nhàn nó đưa qua cho mẹ mà. Hồi nãy mẹ nghe như có tiếng ai như tiếng con Nhàn?

– Ừ, con Nhàn.

– Mà nó đi qua có chuyện chi rứa?

– Nó đưa qua cho con thang thuốc ông Tám hốt cho con.

– Cái nhà thiệt hiền đức. Mà mi sắc chưa sao mà nghe mùi thuốc cháy?

– Chưa, con quăng mấy nhánh ngãi cứu cho thơm bếp mà mẹ!

– Thiệt hồi con đi tù, tau mỗi lần bệnh cũng nhờ của ông Tám. Nhà thiệt hiền đức.

Cũng may mẹ tôi không dài dòng kể thêm những công đức của hai cha con ông Tám. Tôi cảm thấy khó chịu một cách phi lý khi nghe chuyện công đức người này người nọ dù công đức ấy là của ông Tám. Những ngày còn bị ở trong trại tù người ta bị mang ơn nhiều không kể xiết, và người ta phải thi đua lao động để dâng lên, để tạ ơn các bác, các chú. Nhưng ở trong trại tù cái mặt của bác và cái cục đường hay lẫn lộn nhau lắm. Nhiều khi chỉ để chiếm cục đường mà người ta bày đặt ra hô hào nhiều chuyện trời bể1. Ngay cả chuyện ở tù cũng là do lòng thương của trên. Tôi mắc cái chứng nghi ngờ mọi công đức bất cứ từ đâu.

***

Hông tôi lại quặn đau từng hồi. Người bắt đầu vã mồ hôi. Tôi thấy vô số những vòng tròn bay quanh; như đang bị chôn trong bể bọt xà bông khó chịu. Có con kiến lại đang chạy lân rân trong ống quần, chưa kịp đập, đã chích một phát ngay hạ bộ. Nửa giận nửa buồn cười. Chắc chú tưởng có gì béo bở trong đó. Tôi giơ tay đập ngay chổ không nên đập. Ðau nhăn mặt. Mở mắt ra, tôi đã thấy Nhàn đứng đó tủm tỉm, tay bưng một lon gô:

– Ba em nói, thang này sẵn lửa củi ba sắc luôn cho anh cho tiện. Ba nói anh cứ uống thuốc tạm thuốc nam. Bệnh anh phải chữa bằng thuốc tây mới mau khỏi.

– Ừ, hôm qua thăm bác, bác cũng nói như vậy.

– Nghe ba em nói hình như anh sắc thuốc bị cháy thì phải.

– Sao ông Tám biết hay vậy?

– Thì gió bấc mà; bữa nào bên này bà nấu khoai cháy ở nhà em đều biết hết – Nhàn vừa nói vừa cười rúc rích.

Tôi cúi đầu không nói.

– Anh Hai à, Tết  nhứt mà sao anh lại rầu rỉ quá vậy!

– Tui có rầu rỉ gì đâu! Cho tôi gởi lời cảm ơn ông Tám nhiều, và cảm ơn cả cô nữa.

– Ðể em vô trong bếp lấy cái ly rót cho anh uống luôn.

– Thôi Nhàn cứ ngồi chơi, tôi uống ngay từ trong lon gô này cũng được.

– Nhàn nghe bà nói, hồi anh chưa đi cải tạo anh thích uống nước trà và bao giờ cũng uống trong một cái tách thiệt đẹp mà.

– Hồi trước khác; bây giờ khác mà cô.

***

Hồi còn đi học, dù học xa, mỗi cuối tuần, tôi cũng cố đạp xe về quê. Tôi thèm đêm khuya miền quê, sao tỏ ngời, trăng vàng đượm, tiếng mõ lốc cốc nhịp theo lời kinh siêu hình dẻo quánh và ngọt ngào, thơm tho như những dòng mạch nha đang chín tới. Nhưng tôi không bao giờ nghe ông Tám tụng kinh, hay đọc kinh dù cuộc sống của ông, dáng dấp của ông trông giống như một vị ẩn tu. Vào những đêm gió nam thổi nhẹ, tôi nghe mùi trà sen thoang thoảng bay trong không gian, từ nhà ông, rất khuya. Ðôi khi tôi cũng được ông mời uống trà trong hai cái tách men trắng như ngọc, hoa văn xanh đơn giản màu chuối nõn, hình như là đồ sứ Limoges2. Thấy tôi thích ông cho tôi một cái, tôi ngại. Tôi không thích số chẵn, anh lấy bớt cho tôi một cái, ông nói.

Hồi ấy tôi thấy ông Tám không làm gì nhiều; chỉ quanh quẩn chăm sóc mảnh vườn và vào rừng kiếm thuốc nam. Chẳng thấy ông giao thiệp với ai ngoại trừ với những người đến mua thuốc.

Khoảng hai năm sau ngày ông Tám tới làng, lại thấy xuất ông Tám đưa một bé gái về nuôi, lúc ấy cô bé chỉ mới khoảng ba bốn tuổi gì đó. Cô bé trắng trẻo, khác với đám con nít ở làng quê rất nhiều. Con nhỏ cũng ít đi đâu và đôi lúc nói chêm đôi tiếng gì không phải là tiếng Việt, ai cũng bảo hình như nó nói tiếng Miên, tiếng Chàm gì đó. Cô bé thỉnh thoảng cũng qua nhà tôi chơi. Tôi và mẹ  tôi không ai bảo ai, chẳng tò mò hỏi gì về mẹ con nhỏ, hay bất cứ những gì có liên quan tới gốc gác của cô bé, vì hình như chúng tôi sợ ông Tám, và thoáng thấy có một cái gì đó không thường nơi ông.

Vào độ ấy ông Tám khoảng tuổi bốn mươi; ông không có cái vẻ thần bí, lập dị của những ông đạo, ngoại trừ lúc nào đầu ông cũng đội một cái mũ len, cũng không có vẻ gì quan cách. Hình như ông có của chìm, vì chẳng thấy ông lam lũ gì nhiều, ngoài chuyện hốt thuốc và chỉ lấy tiền cho có lệ. Nước da ông đen tai tái. Dáng ông cao lớn, chững chạc, tuy hơi khom, mặt có những nét gẫy, thô như một chiếc mặt nạ làm bằng vỏ cây, nhưng đôi môi lại đỏ ướt, và hơi dày. Ông ít nói và chẳng mấy khi cười. Dân trong làng tự nhiên nể và sợ ông, nhưng có vẻ hơi thắc mắc khi không thấy ông đi nhà thờ, đi chùa gì cả, tuy rằng chùa nhà thờ có đủ, trong cái làng nhỏ bé của tôi. Chuông, mõ thi nhau.

Nhà, ông tự thiết kế lấy, khá khang trang; cột gỗ săng đá; vách ván dầu lông; mái lợp bằng những thanh tre rạo, chẻ đôi, sơn xanh, ghép sấp ngửa như ngói âm dương. Chung quanh trồng toàn mai tứ qúi và cây thuốc. Nhà chẳng mấy khi mở cửa; ông chỉ tiếp khách – đúng hơn các người bệnh – ở trong căn chái phía đông. Căn chái phía tây có lẽ là phòng của Nhàn thì phải, vì đôi khi thấy cô bé mở cửa sổ vén màn nhìn sang nhà tôi, nhìn bâng quơ, hay nói vói với mẹ tôi. Nhàn cũng thỉnh thoảng qua nhà tôi, thường thì đưa hộp quẹt qua cho mẹ tôi mượn, hoặc đi qua xin mận và cũng đôi khi qua để nhổ tóc ngứa cho bà. Tôi thấy Nhàn vẫn hay chơi với các đứa trẻ hàng xóm: Chơi ô làng hoặc nhảy dây, có khi còn dám cỡi bò. Những khi thấy Nhàn cỡi bò như thế, ông Tám chỉ đứng nhìn có vẻ vui và không nói gì. Nhàn là một đứa trẻ phát triển bình thường bên người cha có vẻ không bình thường dưới con mắt chưa chắc gì là bình thường của tôi và của bàng dân thiên hạ. Nhàn sống như những đứa trẻ khác, chỉ có khác là Nhàn không phải đi chăn bò, hay đi hái rau cho heo ăn, những công việc mà hầu như không một đứa trẻ nào ở đây tránh khỏi.

 

Hồi đó tuy nhà nghèo nhưng tôi cũng đău được hai cái tú tài và bắt đầu đọc được sách ngoại ngữ. Thỉnh thoảng tôi qua nhà ông Tám chơi, nói về sách này sách nọ mà tôi đã đọc được. Ông Tám chỉ cười và thỉnh thoảng chỉ nói chêm một vài câu, những câu hóm hỉnh nhưng cũng đầy minh trí của một người có học, học cao nữa là đằng khác, làm tôi phải há miệng ngạc nhiên. “Phe quốc gia thiệt là sang, cả nước còn chiến tranh như thế mà sinh viên và các tu sĩ vẫn được hoãn dịch để chuẩn bị cho một tương lai hậu chiến. Vậy mà có một tay ký giả Tây cả gan nói cái dân Việt là một dân tộc hiếu chiến; đền đài miếu mạo chẳng có, chỉ có chiến tranh. Belliqueux3 sao được mà belliqueux!”  Nói xong ông nhìn tôi như thể ân hận vì nói hơi nhiều. Tôi thấy ông như một nồi nước sôi đang đậy kín vung, loại vung của thứ nồi áp suất. Tôi không thấy ông trưng bày sách vở gì ngoài mấy cuốn sách thuốc. Tôi là một học sinh, sau đó là sinh viên, được hoãn dịch vì lý do học vấn, một gã thanh niên vô tâm trong một đất nước đang có chiến tranh tàn khốc. Ðúng là sống nhàn bên đào mận và chỉ thao thức chuyện nước non một chút khi trong làng có anh nọ anh kia đi lính phương xa bị tử trận, may đưa được xác về nghĩa địa quê chôn.

Mỗi lần trong làng có ai chết trận, đều thấy ông đi phúng điếu. Chỉ có những dịp như thế – ngoại trừ những lúc đi thăm bệnh nhân – ông mới đến thăm các người trong làng. Nhiều người, kể các chị quả phụ, lại đâm ra thắc mắc tiền ông làm thuốc nam quanh năm chẳng được bao nhiêu, lại chẳng thấy ông làm việc gì khác, nhưng không biết sao ông lại sống thảnh thơi như thế và lại còn có tiền để phúng điếu, và phúng điếu rất hậu hĩnh. Có kẻ nghĩ rằng có lẽ ông Tám được hưởng gia tài của tổ tiên cha mẹ để lại, có kẻ lại ngờ rằng ông được của, vì ông hay đi vô rừng, đi dọc bờ biển kiếm thuốc nam, biết đâu chừng ông được của Chiêm của Hời, nhưng không ai dám hỏi ông. Tuy ông có cái tên rất bình dân, nhưng ông vẫn có cái xa cách của một kẻ thi ân, cái uy nghiêm của một bức tượng thánh. Sợ, nên người ta không dám tự tiện đến gần, nói chi đến chuyện hỏi han.

 

Qua định cư được Pháp vài tháng, lãnh được mấy ngàn trợ cấp tôi vội vã  dục Nhàn gởi quà về cho ông Tám, không gì ông cũng đã chi cho tôi ba cây vàng cho chuyến đi, Nhàn chỉ ừ hử cho có chuyện, đôi lúc lại nói ba Tám chẳng cần gấp đâu. (Nhàn lúc này đã là vợ. Nhờ duyên số, dĩ nhiên, và cũng nhờ những mũi thuốc cô nàng chích cho tôi – cô nàng hồi ấy là y tá thứ thiệt  mà tôi nào biết –  những mũi thuốc nhờ  mấy ảnh trên kiếm. Giở  mông chích riết, rồi thương luôn, thương mạnh nữa mới kỳ!  Và khi tôi đang viết những dòng chữ này, nàng đang đẩy thằng Chín, con của chúng tôi đi chợ.)

Ðộ ấy tôi lại hay tò mò vào thư viện đại học Sorbonne tìm đọc các luận án của các sinh viên Việt Nam để xem thời trước họ đã học hành viết lách như thế nào mà lại lừng lẫy như báo chí từng ca tụng. Tình cờ tôi đọc được một luận án có tựa đề Le Viêtnamien avant la Colonisation francaise (Con người Việt  nam trước thời kỳ thuộc địa Pháp) . Ðây là một đề tài mà từ ngày phải ở tù tôi nghĩ là cần phải viết, cần lắm. Tác giả là một sinh viên tên Nguyen Thanh Tam, lại có cả cái hình nhỏ ở bìa sau, khuôn mặt như ông Tám. Tôi sững người; các mục đồng ngày xưa khi nhìn thấy Chúa Hài Ðồng cũng chỉ sững sờ đến thế là cùng. Tôi luýnh quýnh thuyết phục người quản thủ thư viện cho tôi mượn cuốn sách rồi vội vã đón tắc xi – thường tôi chỉ đạp xe đạp hoặc đi xe buýt – về nhà ngay. Nhàn đi đâu đó với con, vẫn chưa về. Tôi vừa đi đi lại lại trong phòng như gà mắc đẻ, vừa căng mắt nhìn vào mẩu hình. Ðích thị là ông Tám. Ðường đường là một vị tiến sĩ mà lại đội cái mũ len dị hợm. Hay ba Tám lại thích bắt chước André Gide4, tác giả cuốn Khung Cửa Hẹp.

Chỉ cần nghe tiếng chuông cửa là tôi ào ngay ra cửa; nhưng tới hai ba bận: Khi thì bà đầm già hỏi có con mèo cái màu này màu nọ chạy qua đây không, khi thì thằng nhỏ bên cạnh hỏi TV nhà ông có hình không, sao TV nhà tui bấm hoài không ra hình… Lần cuối, một tên Tây trắng trẻo sạch sẽ ở lầu ba chui đầu vào, ngang ngược đua cái bao vỏ mì tôm: “Có phải cái bao mì tôm này là do mầy xả ở cầu thang phải không, vì ở đây chỉ có mày là dân ăn loại mì này!” Thằng này đúng là dân kỳ thị thứ thiệt: Hiện nay thiếu giống gì mấy thằng nhãi mũi lõ nhai mì tôm nhãn hiệu me xừ Lee như nhai sô cô la ngoài đường. Ðang bực bội vì khi không lại vướng phải cái thằng khỉ gió này, tôi thoáng thấy, sau cái lưng gồ ghề của nó, Nhàn đang đẩy thằng Chín về, với hai thùng mì tôm treo tòng teng nơi xe, la ơi ới:

– Anh ra giúp đưa đồ vào cho em. Gì mà đứng thộn ra vậy!?

Tôi quên béng chuyện bị oan, đẩy cái thằng hộ pháp qua một bên, vọt ra ngoài, la lớn:

– Nhàn ơi, anh có cái này hay lắm!

– Bộ trúng độc đắc hả?

– Nếu mà đúng như anh đoán, thì còn hơn cả độc đắc!

– Nói gì mà hồi hộp vậy!?

Tôi chạy ngay vào nhà đưa cuốn sách cho Nhàn xem, giữa trời tuyết đổ, bất kể lời dặn dò của bà quản thủ thư viện là phải giữ cho cẩn thận vì thư viện đại học chỉ còn vài bản. Và chưa chi tôi đã bật khóc:

– Nhàn ơi, có cái luận án này mà người viết sao giống như ba em y đúc, có đội cả cái mũ len đen.

Nhàn nghiêm sắc mặt – các vị chủ khảo khi xuớng danh chỉ nghiêm sắc mặt thế là cùng –  nói:

– Thì ba Tám chứ ai vào đó. Em biết từ lâu rồi!

Tôi vừa hét vừa  giơ tay ra như muốn tát vào mặt cô vợ cưng của tôi :

– Thiệt hả! Mà sao em lại không nói cho anh biết !?

Cô nàng vẫn điềm nhiên lại còn cười tủm tỉm:

– Em đã hứa với ba Tám là sẽ không tiết lộ tung tích về ba, nhưng ba em biết chắc thế nào anh cũng sẽ biết, vì anh là con người… thích sưu tầm đồ cổ. Chính anh đã có lần tâm sự với ba em là nếu anh qua Tây được anh sẽ bỏ công nghiên cứu những tác phẩm, những luận án của các sinh viên Việt Nam du học bên Tây thời thuộc địa, để biết đâu sẽ tìm ra câu giải đáp cho cuộc chiến tranh phi lý Quốc – Cộng.

Tôi khóc ròng như mỗi lần nhìn đỉnh Mont Blanc5 chất ngất. Và Nhàn cùng khóc. Thằng Chín cũng khóc. Rồi nàng đưa ống tay chùi nước mắt, quệt mũi, và cười, cười còn tươi gấp trăm lần tôi tỏ tình với chị :

– Em còn có món đồ cổ cho anh….

Ngày  tháng  năm

Các vị giám khảo đã chấm đậu luận án của mình với summa cum laude6. Mừng. Cô đơn tràn về. Hay là mình đi Les Alpes7. Sao lại vậy?

Ngày… tháng… năm…

Lên cao mình thấy lòng cô đơn chi lạ. Các cha trong dòng muốn mình trở về dòng để khao tân khoa. Mình lại thích đến một nơi vắng vẻ. Cha tu viện trưởng chấp thuận. Ai bảo tu viện là nơi anh tỉnh nhất. Trái lại thì có. Chỉ có trời đất mới vô ngôn.

Ngày… tháng… năm…

Trèo lên được đỉnh núi khá cao sau nhà mát. Mặt trời. Nhìn mặt trời. Quê nhà mình hướng ấy. Mình khóc nức nữ?. Không có ai ở đây để chia sẻ sự thành công của mình.  Mình có biết mặt mũi cha mẹ mình ra sao đâu! Năm đói. Ông cha xứ nghĩa phụ của mình cũng mất từ lâu. Con Lài, con Lý, hay vô quét nhà xứ, giờ chắc chồng con cả rồi. Có chăng chỉ còn tu viện mà mình đã sống cả tuổi thanh xuân, với tiếng kinh ra rả như tiếng ve cuối hạ; với nghi lễ, tư tưởng, ngay cả áo dòng, rập khuôn Tây phương.

Ngày…  tháng…  năm…

Có con nhỏ sinh viên Việt Nam nào đó, không hiểu sao, biết mình lên đây, lại gọi điện thoại cho mình. “Mời anh về tham dự buổi đón tiếp cụ HCM do tổng hội sinh viên tổ chức. Tờ L’ Idée Contemporaine8 hôm qua có bài phân tích luận án của anh. Cái anh ký giả đó còn bạo miệng: ‘Giá mà người Pháp được đọc tác phẩm này sớm hơn, biết đâu sẽ không có cuộc tái chiếm Ðông Dương. Người Pháp không biết rằng người Việt yêu nước rất mù quáng. HCM là một tay phù thủy và ông ta đang có đầy đủ lửa củi để nấu một vạc bouillabaisse9 kinh khủng’  Thôi, thôi, cho tôi xin:  Âu châu văn hoá lẫy lừng thế kia mà cứ choảng nhau lia lịa từ xưa đến nay. Khói lửa thế chiến chưa tàn trên đất Âu Châu. Bọn người Âu là chúa tham lam mà lại là sư bốc phét, cứ đọc mấy lời hịch của Napoléon cũng đủ rõ. Nói chi cho xa: Mới đây cái anh Churchill, và cả De Gaule lẫn cái anh Hitler, mồm mép như nhau. Chỉ khác một bên thì cứ la hét om sòm, còn một bên lại ra vẻ ta đây là con nhà quan.  Mình chẳng qua chỉ là một kẻ góp nhặt dông dài, cùng lắm như một kẻ sưu tầm đồ cổ, sợ mất, thế thôi, chứ làm gì mà ghê vậy! Tuy nhiên thằng này có lý khi hắn linh cảm về một nồi bouillabaisse như thế.

Ngày… tháng… năm…

Ậy, ậy, cái ông chủ tịch nước VNDCCH vỗ vai mình, lại còn, vừa mân mê cái cúc áo dòng của mình, vừa nói với mình một câu mà tới giờ này, mỗi lần nhớ lại, còn muốn ói. Người đâu mà xạo đến thế là cùng. Ấy vậy mấy anh, mấy ẻm sinh viên xem ra cảm động lắm lắm. Sẽ có khối đứa lao đầu vào hang cọp vì những lời như thế. Bố TÐT không trật đàng nào. Cụ khi không lại còn khen cái luận án của mình nữa chứ. Thật như Ðức Chúa Trời thông biết mọi sự. Chắc bố NMT đã mớm cho cụ chứ gì.

Cũng thiệt lạ mấy cái anh Tây khoa bảng: Một đằng chính mấy ổng chấm điểm cao bản luận án của mình, một đàng cứ bô bô: “Viêtnam, c’est HCM”, bởi vì nếu đem những mẫu người Việt Nam chính thống mà mình đưa ra trong luận án ra đối chiếu, chẳng thấy cái ông này có chút gì là Việt Nam cả. Hay tại họ uống rượu vang nhiều quá. Có cả mấy cô người Việt đến chào mừng lãnh tụ. Mình thấy các bạn trẻ hí hửng chào đón HCM, mà thương; mình thấy lão đang xách cổ bao chàng thanh niên thiếu nữ như các bạn ấy, vứt vào vạc dầu sôi, hay nói theo chữ nghĩa cái thằng ký giả George Flaubert, vào cái nồi bouillabaisse terrible.

Ngày 14 tháng Tám

Cha bề trên kêu về để mừng lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, bổn mạng của dòng, mình xin nán lại Paris để nghe con nhỏ Nguyễn Thị Phương Nam trình luận án tiến sĩ nông học về những giống lúa nước Việt Nam. Cha bề trên tu viện F., trước khi đi tu là một nhà dinh dưỡng học, ông chịu ngay. Ổng thả một câu thòng thiệt nhức nhối: “Trước khi có cái xác để  Madame về trời, Madame cũng phải ăn chớ!” Ðúng quá chớ còn gì nữa.

Hôm đó mình không thấy được Ðức Mẹ Maria –  chắc là chẳng bao giờ thấy – mà có thấy đi nữa chắc gì đã đẹp đẽ, thiết tha như một công chúa Tiên Dung Phương Nam đang đứng trong giảng đường, thao thao về cây lúa Hùng Vương. Nghe sông Hồng mênh mông. Lại chùi nước mắt. Quái, kỳ này sao mình lại hay mủi lòng thế! Hồi ở trong tu viện có lúc nào mình khóc đâu. Hay tiếng kinh rền rỉ suốt ngày, rồi sách vở này nọ đã tha hoá mình? Mình nhìn con nhỏ đăm đăm. Thổ nhưỡng, khí hậu, độ Ph… bắt đầu như nước đổ lá môn. Con nhỏ trình bày xong luận án lúc nào không hay. Ðang khát nước, làm nhớ tới trái cam Bố Hạ mà một bà theo chồng qua Pháp tình cờ biếu mình hôm xin lễ bằng an cho xứ nhà, mình giơ tay hỏi: “Thế cô có bao giờ nghĩ đến một milieux politique 10cho cây trồng không? Chắc cô cũng biết là dân vùng Caucase đã nhổ bật rễ những vườn đào, mà người Tàu đã có lúc cho người cỡi thiên lý mã sang mua về tiến các vị vua chúa Trung Hoa, để trồng khoai lang tây? Tôi nghĩ là với chiều hướng chính trị trong cuộc chiến hiện tại, cô có nghĩ rằng giống cam Bố Hạ của Việt Nam cũng sắp bị bị tuyệt chủng như thế?” Mấy anh Tây đành chịu mang tiếng bất lịch sự đồng loạt quay lại nhìn tôi. Tôi thấy trong mắt của Phương Nam hai vì sao dữ tợn.

Ngày…  tháng…  năm…

Mình vẫn còn thích nấn ná lại Paris ăn ít bữa tiết canh vịt và đọc thơ tình. Ai bảo máu không ngon. Ðọc thơ tình giữa Paris mới thú, càng thú hơn khi đọc trong thư viện đại học cạnh các em. Ðọc thơ, cũng như ăn nhậu, chắc cũng phải có năm sáu điều kiện gì đó, phải không cụ Tản Ðà. Tạm thời vứt mẹ cái áo dòng đọc cái tình thư cho tiện. Mấy thằng CTT, và TBL làm thơ tới quá chớ. Mình ngờ ngợ bóng dáng của Prévert11 trong thơ mấy đứa hơi nhiều. Cũng hay, chớ có sao đâu! ‘Thế bồ đang đọc Prévert à, thối thấy mẹ!’- Con nhỏ có đầy đủ lễ bộ của con đầm trong thơ CTT, vừa phán, vừa cạ cạ núm vú vào lưng, không biết thiệt hay giả.  “Ê, coi chừng cái miệng của mầy, mầy nên biết mầy đang nói chuyện với Monsieur Abbé12 đó nghe chưa!” Mình  quay lại thấy hai vì vệt sóng nhỏ trong mắt người em tóc nâu. Démons et merveilles.

Ngày… tháng… năm…

Les Sables Mouvants

Démons et merveilles

Vents et marées

Au loin déjà la mer s’en retirée

Démons et merveilles

Vents et marées

Et toi

Comme une algue doucement carressée par le vent

Dans les sables du lit tu remues en rêvant

Demons et merveilles

Vents et marées

Au loin déjà la mer s’est retirée

Mais dans tes yeux sont restées

Démons et merveilles

Vents et marées

Deux petites vagues pour me noyer.

(Hình như bài này một bài thơ tình của J. Prevert, tôi đã đọc đâu đó. Khi đọc bài này tôi thắc mắc:  Chép thơ tình vào nhật ký thì chẳng có gì lạ, dù người chép là một linh mục Nguyen Thanh Tam, tuy nhiên tôi vẫn thắc mắc tại sao “cụ” Tám lại không ghi một bài thơ tình bằng tiếng Việt, mà thơ tình hay trong văn chương Việt thì chẳng thiếu; bởi vì một khi ông đã dành tới một phần tư luận án để nói về ngôn ngữ và văn chương dân tộc Việt, hẳn ông phải yêu tiếng Việt lắm.  Tôi cũng thấy ông có gạch hai chữ  deux petites vagues (hai vệt sóng nhỏ) và ghi deux méchantes étoiles ( hai vì sao dữ dằn) thế vào, nhưng ông lại xoá và ghi lại  deux petites vagues như cũ.)

Tạm dịch:

Cát Lún

Liêu trai, kỳ diệu

Gió và thủy triều

Nước đã ròng lắm

Liêu trai, kỳ diệu

Gió và thuỷ triều

Và em

Như cọng rêu gió ngàn ve vuốt

Êm êm

Em lơi lã mơ trên cồn

Nước đã ròng lắm

Nhưng trong đôi mắt em khép hờ

Hai vệt sóng còn nằm lại

Liêu trai, kỳ diệu

Gió và thuỷ triều

Hai vệt sóng nhỏ nhận chìm

Anh.

Ngày…  tháng…  năm…

Ngày mai mình xuống Marseilles về quê, về miền Nam. Mấy bố TÐT, NMT đã về, về miền Bắc, mình cũng về chứ. Sắp đi mình mới thấy yêu cái đất nước Pháp này và đặc biệt cái tu viện đã cho mình cơ hội thấy được mình. Một tháng trên biển, một tháng cho tâm tư.

(Mấy trang sau nữa bỏ trống, rồi tới trang gần chót tôi thấy có một phong thư đựng tấm bưu thiếp chụp khuôn viên  đại học Sorbonne với mấy cây phong thu vàng và phần sau chỉ thấy ghi địa chỉ của người nhận ,nhờ chuyển cho Nguyen Thanh Tam, và mấy sợi tóc nâu.

Trang sau nữa lại là một phiếu thư viện có hình vẽ, bằng bút mực xanh lá cây, chân dung một người đàn bà, tóc thề, mắt mơ màng và dưới khoé mắt là những hạt lúa thật được gắn vào, trông như những giọt nước mắt đang rơi. Có dòng chữ: Biết bao giờ gặp lại cùng một giòng sông! Mặt bìa sau có nhãn hiệu của nhà sản xuất văn phòng phẩm Gérard et Fils, Paris.)

(Cuốn hai: Bìa hơi sặc sỡ, có dòng chữ “Nhật Ký” in khá bay bướm và “Hãng giấy Ðồng Nai, Biên Hoà.” )

Ngày…  tháng…  năm…

Thiệt tiếc hết sức, cái tập nhật ký mình ghi trên tàu không biết mất đi đâu. Chắc mấy người dọn phòng quẳng lộn vào thùng rác mất rồi. Thôi cũng không sao. Chiến tranh đang nuốt dần những suy tư xanh thẳm ấy.

Ngày…  tháng… năm…

Tiếng chó sủa dữ dội đằng vườn trái hồng, tiếp giáp với mé rừng. Mình mở cửa đi ra. Quái có ai bỏ bao bì gì dưới gốc hồng mình hay đái trộm về đêm. “Ủa, sao lại gạo không vậy nè!” Mình thấy có bóng người thấp thoáng ngoài hàng rào. Có cả tiếng thì thào, tiếng sắt chạm vào nhau. Mình chợt hiểu. Cách đây một tháng có ông đại tá tỉnh trưởng đến thăm nhà dòng và nói chuyện khá lâu với cha tu viện trưởng và cha quản lý. Hôm đó mình tính qua phòng cha bề trên mượn số báo L’Express13, tình cờ nghe ba vị nói chuyện gì có vẻ trầm trọng lắm. Mình không gõ cửa, bỏ về phòng. Nghe đâu lõm bỏm mấy tiếng: Việt cộng, sống còn, tiếp tế…

Ngày…  tháng…  năm…

Tổ cha cái thằng JJS, thằng này hồi ở Sorbonne là chúa hồ đồ, học thì nhác mà cứ thích làm lãnh tụ, lại chưa hề đến Việt Nam mà cứ la toáng lên nào là đế quốc, tư bản, giải phóng, thuộc địa mới… Làm như cái nước Pháp nhà anh nhân từ lắm. Chẳng qua không ăn được, đạp cho đổ. Lại còn được cả cái lão Sartre phụ hoạ, nổi đình nổi đám bên đó. Merde. Thôi về ấp con nhỏ Simonne cho dân Annam này nhờ. Mẹ cái chữ nghĩa trong cuốn L’Être et Le Néant14 của nó lúc nhúc âm binh. Chẳng có cao kiến cái con mẹ gì tác phẩm của hắn. Cái tụi sinh viên bắt đầu giàu lên, rững mỡ. Mà rỡng mỡ đọc sách của trự, hiểu sao nổi. Chỉ cần đọc cái tựa đề thôi cũng đủ chất để huênh hoang. Và không gì huyênh hoang bằng những cuộc biểu tình thời thượng. Mẹ cha nó, cái mốt phản chiến quả là thích hợp với cái tính khoe mẽ của mấy anh dòng dõi gà trống; chơ’ còn gì nữa! Phải viết mấy bài vạch cái rỡm đời của bè lũ. Cái thằng Sartre cứ ỏng a ỏng ẹo là con người bị gắn vào cổ cái ách tự do, và con người phải xoay xở hay nói như ngôn từ của hắn là con người phải tự xác lập cho mình một bản thể. Thì miền Nam cũng như miền Bắc, hiểu như một cộng thể, đều thi nhau xác lập cho mình một bản thể. Sống chết mặc chúng nó. Cớ sao hắn lại tước đoạt khỏi miền Nam cái tự do mà ông đã dùng không biết bao nhiêu giấy mực để hô hào – dù hắn chỉ làm công việc vẽ rắn thêm chân đã có từ đời nào trong thần thoại và triết học Hy lạp. Mi không nhìn ra là cuộc chiến tranh này là một cuộc chiến tranh này là cuộc chiến giữa Karl Mark và Socrates giữa Moscow và Athène sao? Hút thuốc mù trời, cà phê cà pháo tối ngày, trí óc có bình thường đâu nữa mà suy nghĩ cho có ngành có ngọn. Viết lách sau này của chả chắc khác gì khói thuốc là bao. Mình nghi ngờ mọi suy nghĩ của những người hút thuốc. Những phát ngôn của hắn lại có sức công phá bằng cả ngàn tấn bom, thế mới chết. Thiệt rầu cho cái đất nước mình. Ai bảo nước không có vận. Ôi, vận nước và khói thuốc lá!

 Ngày…  tháng…  năm…

Về nước cả mấy tháng rồi mà vẫn chưa thích hợp với khí hậu. Bức bối cả mình. Trời thì nóng quá, mà thức ăn chỉ có cơm và mấy con cá trích. Tháng đầu thấy cha bề trên còn bưng vào phòng cho mình mấy ly nước cam giao thời. Nay hết rồi. Cũng đúng thôi. Cha là cha của trăm người. Ai biểu đi Tây về chi cho khổ. Trong dòng ai cũng kính phục đức độ của ngài. Nhưng mình thoáng thấy có cái đuôi cáo lòi sau lớp áo dòng. Ðôi mắt của ngài cũng có hai vì sao sắc cạnh. Mình sợ những đôi mắt như thế.

Chắc là phải viết vài bài gởi cho mấy cha giáo bên đại học Louvain, nhờ mấy vị tìm nơi đăng. Mấy tay khoa bảng Hà nội đang múa mép như gậy đánh vườn hoang ở bên ấy, sao trí thức miền Nam trùm chăn kỹ quá vậy, hay là đang làm dáng trí thức, đang cố kiếm cho mình một địa vị? Bộ không biết rằng khi cái gã Lénine tước đoạt được nước Nga thì mọi cái đỏm đáng, đều bị chôn vùi tàn nhẫn giữa rừng tuyết giá Tây Bá Lợi Á, kể cả chữ Danh to tày đình.

Ngày…  tháng…  năm…

Cả hai bên tổn thất nhân mạng nặng nề. Lúc nào cũng nghe súng xa gần dội về. Mấy bài viết của mình đã được tờ L’ Esprit15 đăng. Nhưng giá được tờ Le Monde15 hay Le Figaro15 đăng thì vẫn hay hơn. Nhưng rồi nghĩ lại, dù bài mình có xuất hiện trên những tờ ấy nữa thì cũng chẳng ăn thua gì. Khung cảnh huỷ diệt có chiều kích thế giới trong sách Khải Huyền16 đang xảy ra trên nước nhỏ bé của tôi. Chữ nghĩa của một ký lục quèn có nghĩa lý gì trước đạo quân Bóng Tối.

Ngày…  tháng…  năm…

Hôm nay nhận được bức thư của con nhỏ Edith. Bày đặt uớp dầu thơm Chanel số 5, vạn dặm tới đây còn thơm. Bố đưa thư chắc thế nào cũng có dấu hỏi, cha bề trên chắc lại đặt cái dấu hỏi to hơn, nhưng biết đâu ngài lại mỉm cười thông cảm. Ngài còn đẹp trai hơn mình nhiều, cũng du học Sorbonne như mình, thế nào mà chẳng có em tán. Có điều ngài cáo hơn mình nhiều Con nhỏ viết là nó đang ở trong ban tổ chức biểu tình phản chiến; và sinh viên cùng công chúng, hàng trăm ngàn người, đang rầm rộ xuống đường ở Paris. Nó có đọc bài viết của cái “ông Tây” nào đó trên tờ L’ Esprit, mà nó đoán đó là bút hiệu của mình. ‘Cái lối viết như đập vào mặt những tên đội đủ thứ lốt, thiên hạ chỉ có mình anh. Cứ đối chiếu mấy bài báo viết cho tờ Universitas cũng đủ biết.’ Phải công nhận con nhỏ thông minh. Nhưng đến lúc mình thấy cần đề phòng con nhỏ này. Phải viết thư xỉ vả cái tính hồ đồ (?) của con nhỏ mới được!!!

Nhớ hôm về chơi trang trại gia đình nó ở Bordeaux, có bữa khi hai đứa đang đi dạo ngoài vườn nho, chính nó à lát xô ôm hôn mình, may mình không làm tới, nếu không bây giờ chắc lại là có chuyện… Nghe nói mấy anh Cộng sản thích sưu tầm các hành vi bê bối của các linh mục để hạ thủ khi cần. Bữa đó ông già lại nhờ mình ban phép lành cho bữa ăn, mình bảo là phép lành mình bỏ lại trong nhà thờ rồi. Ông già cười ha hả. Cái dân Tây vùng này đây cũng ngang tàng như dân Quảng.

 

Ngày…  tháng…  năm…

Hôm qua mình có hỏi cha quản lý vụ mấy bao gạo dưới gốc cây hồng đêm nọ. Cha chỉ cười. Phải làm như thế để sống còn. Hay là các vị cố tình ủng hộ. Bên Âu châu người ta bắt đầu nói về một nền thần học giải phóng. Ðã đến lúc không nên tuyệt đối tin vào các linh mục Công giáo như là những chiến sĩ tiên phong chống lại chủ thuyết mà Công giáo hay gọi bằng cái tên ‘chủ nghĩa tam vô’. Bên Paris, đã có mấy tay linh mục Việt Nam trẻ mon men đi đêm với nhóm “Việt kiều yêu nước”. Lại còn tổ chức hội thảo, cố vặn óc để tìm ra những nét tương đồng của chủ nghĩa Cộng sản với những giá trị Kitô giáo. Ða số tu sĩ trong dòng biết việc tiếp tế nhưng họ hoặc đồng ý với các vị bề trên, hoặc vì đức vâng lời đành im lặng, nhưng có vài thầy tỏ ra không hài lòng. Nhất là mấy tập sinh mình đang dạy Triết.

Ngày…  tháng…  năm…

Cha bề trên nhất kêu mình lên, ngỏ ý muốn giao cho mình làm bề trên nhà tập. Mình trả lời ngay là mình không nhận nếu nhà dòng còn tiếp tế cho phía bên kia như thế. Bởi vì khi làm cha tập sư, tương đương với bề trên ba trong dòng, mình có một trách nhiệm trong hành vi tiếp tế lén lút như thế. Cha ấy và cha bề trên nhì cha quản lý đồng ý chuyện tiếp tế nửa tháng hai tạ gạo cho phe bên kia, và nghe đâu có sự thoả thuận ngầm với đại tá tỉnh trưởng tiểu khu, vì lý do sống còn của nhà dòng. Mình trả lời là chính nhà dòng với những cơ ngơi đồ sộ đã trói tay các vị. Nhớ lúc nói chuyện tản mạn với các tập sinh, mình đã nói với các tập sinh là cơ ngơi của nhà dòng gần giống như Tử Cấm thành Bắc Kinh, mà mình đã có dịp đi thăm trước khi về nước. Không phải chỉ có mình suy nghĩ như vậy, chính cha bề trên cũ, đã già, mỗi lần bó buộc phải đi trên nền gạch bông xa hoa của nhà dòng, ngài đã phải chạy cho nhanh để khỏi phải dẫm lâu trên nền đá hoa xa hoa. ‘Nếu cần cứ giải tán nhà dòng!’ Gớm, mình nói như đang nói chuyện với các giáo sư của mình ở Paris!  Cha bề trên đỏ mặt không nói gì.

Ngày…  tháng…  năm…

Hôm nay cha bề trên lại kêu mình vào; và vừa cười ngài vừa đưa cho mình mấy mẩu báo có đăng mấy bài thơ tình mình gởi đăng trên mấy tờ Ðất của tổng hội sinh viên Việt Nam ở Pháp. Ai đó không biết đã gởi kèm trong thư gởi cho cha bề trên và nhờ chuyển cho mình. Biết mình là tác giả, lại còn biết mình đang ở trong cái tu viện heo hút nữa mới tài. Mình gật đầu cảm ơn cha và chẳng lấy làm xấu hổ. Mẹ, mấy tên đầu bò, hễ cứ có anh anh em em nhất định cho đó là thơ tình lãng mạn! Hay là mấy tay Vixi bắt đầu tức hộc máu vì những bài báo của mình gởi đăng bên ấy. Con nhỏ Edith cả gan gán cho mình là réactionnaire17. Ừ, cứ giỡn với lửa đi! Cả cơ ngơi sản xuất rượu vang của bố mày, và cả mày là kẻ đang được tự do khua môi múa mép bên trời tây kia, đều đang nhờ những đứa phản động như Monsieur Abbé này đó con ạ!

Ngày…  tháng…  năm…

Anh chàng Paul Mambasa, đang làm giám mục ở bên Phi Châu, viết thơ bày tỏ lo ngại cho đất nước của hắn vì cái ông tổng thống của xứ nó, một thi sĩ có tiếng quốc tế, đang bắt đầu thử xây dựng xã hội chủ nghĩa theo mô thức Phi châu. Nó hỏi ý kiến mình xem phải làm gì đây. Hành động ngay, lên tiếng ngay, không kẻo lại muộn. Merde18, người chứ phải cứt à, sao mấy bố đè cổ người ta ra mà thí nghiệm như vậy! Hắn còn khoe có một bà goá già bên Ý, má nuôi của hắn, hứa là khi mất sẽ cho nó một triệu đô la để… xây nhà thờ. Hắn nói là hắn chịu cái câu ca dao Việt Nam mà mình dã dịch cho nó nghe: Dù xây chín bậc phù đồ … Hắn nói với số tiền ấy hắn xây được cả mấy chục cái nhà thờ nguy nga, thôi thì chia bớt cho mầy một cái để mày xài chơi. Hắn còn bồi thêm: “Chưa chắc tao đã xây nhà thờ; cái xứ sở của tao cò biết bao người còn đói rã họng ra, biết bao trẻ dốt nát mù chữ. Ai bảo bà ta tin cái thằng con dân cày chính cống Mambasa này thì rán mà chịu!”

Ngày… tháng…  năm…

Anh chàng Linh, trong suốt giờ dạy Triết của mình hôm qua, có vẻ bồn chồn, khó hiểu. Khi mình đã lượt qua các hệ phái vô thần trong triết học Tây phương xong, chú ta bặm miệng hỏi: “Vậy Cha có tin Chúa không?”  “Có ngu mới không tin vào Thượng đế. Tuy nhiên tôi không tin vào những cái gọi là tín điều về Chúa như giáo hội Công giáo bắt chúng ta phải tin. Nó như những sợi dây siết cổ giáo hội Công giáo.”  “Như vậy, Cha không thể ở trong nhà dòng này được nữa!”  “Tại sao không, chính nhà dòng là nơi cho chúng ta cái môi trường tốt nhất để tìm thấy bản ngã đích thực của mình. Chúa chỉ hiển lộ trong những kẻ đã phủi sạch khỏi lòng mình những kiến thức, kể cả kiến thức triết học kinh viện mà Giáo hội Công giáo rất hãnh diện.”

Ngày…  tháng…  năm…

Mình đã nói những điều ghê gớm. Không hiểu tại sao mình lại nói như thế. Biết đâu công trình học hỏi mười một năm bên trời Âu chỉ dùng được một lần đó với mấy tập sinh chiều hôm ấy.

Ngày… tháng… năm…

Vẫn không thấy cha bề trên nói gì. Ngài vẫn nhã nhặn, nhiều lúc hơi quá, như thường lệ. Ngài lại tận tay đưa cho mình mấy bức thư tẩm nước hoa, dù đây không phải là công việc của ngài. Và cuời nụ cười kẻ cả. Trong Kinh Thánh không thấy diễn tả kiểu cười của bọn giả hình Pharisiêu. Nếu có, chắc phải y hệt như cái cười của cha bề trên hôm đó. Hồi ngài còn làm giám đốc đệ tử viện, ngài đã bày trò kiểm duyệt thư các chú, dù các chú ấy có khi đã mười tám, đôi mươi. Lại còn chia các đệ tử thành đoàn, đội. Và còn có buổi kiểm thảo xây dựng (trong chúa Ki tô) mỗi tối thứ bảy cho toàn trường;  còn đoàn, tháng họp một lần vào chiều thứ năm,  và  đội thì vào thứ tư.  Y như Cộng sản. Mình nghe cha Hồng, bạn cùng lớp, hiện đang làm giám đốc đệ tử viện, kể lại: “Tao chúa ghét mấy cái trò khỉ đó. Ai cũng có nhu cầu được tôn trọng.” Vong thân cùng mình!

Ngày… tháng… năm…

Cha bề trên hôm nay gọi mình lên và giao cho mình và thầy Micae lên ÐL tìm đất lập nhà con. Một cha xứ  ở ÐL đã kiếm dùm. Chỉ lên xem lần chót, trước khi ký khế ước và giao kèo. Ðây là một đồn điền của một người Pháp muốn bỏ về nước. “Cha biết rành tiếng Pháp nên thương lượng với ông Tây dễ hơn.”  Ngài cũng nói là ngài muốn cử mình tạm làm bề trên đầu tiên cho nhà con đó. Mình hơi giật mình. Thương lượng còn được, nhưng tại sao lại sai mình làm bề trên. Mình chắc chắn là chẳng đủ thánh thiện để làm một vị bề trên đúng nghĩa. Vả lại vùng đó là một vùng mất an ninh.

 

Báo Ðức Mẹ Lộ Ðức, ngày tháng năm: Theo tin tức từ nhà dòng mẹ  PT thì trong một chuyến đi để mua đất lập dòng ở ÐL, thầy An Tôn Lê Chính Trực đã bị bọn Fulro, cũng có thể là Cộng sản, bắn chết; may cha Nguyễn Thanh Tâm chạy thoát được, nhưng bị lạc, mãi ba ngày sau mới trở lại được nhà dòng. Chúng đã cướp chiếc Honda và một số tiền lớn nhà dòng dùng để mua đồn điền của người Pháp, ông George Daniélou.

 

Báo Dân Ta, mục Từ Thành đến Tỉnh, Tám Chui phụ trách:  Mẹ mìn tái xuất giang hồ . Ngày tháng năm .Hôm qua, có một người đã dụ dỗ bắt đi một bé gái mồ côi, hai tuổi, trong khi bé đang chơi với các trẻ khác trong sân. Bé có nút ruồi nâu to bằng hạt bắp. Theo như xơ giám đốc, đã biết bi bô đôi ba tiếng Pháp. Mẹ của cháu đã đưa cháu từ Pháp về và nhờ các dì giao đứa con lại cho cha của cháu, trước đây đã du học ở Pháp, nuôi, bởi bà muốn cho con của mình được sống và lớn lên trong một đất nước đang tạo nên những thiên hùng ca. Và phần bà, bà cũng đang bận góp phần vào giai đoạn lịch sử này, bà không thể cáng đáng chuyện nuôi con được. (Nguyên văn lời của xơ giám đốc đã nói với Tám Chui này, chơ tui mần chi mà nói được những lời hay ho quá cỡ thợ mộc như vậy!) Các xơ chưa kịp thực thi ý định thì sự việc xảy ra.

Tạp Chí Ngược Dòng: Cụ Nguyễn Hữu Ðạo, một thời từng là cố vấn về vấn đề đối ngoại cho chính phủ nước VNDCCH, nhưng vì những bài phân tích trong tờ Nhân Loại của nhóm Làm Người, về những ấu trỉ của chính phủ trong quan hệ với Trung Hoa và cụ thể là với Thủ tướng Chu Ân Lai vào thập niên 50, ông đã bị trù dập tơi tả trong suốt 30 năm trời. Khi thì phải sống trong chuồng trâu, khi thì tá túc trong miếu hoang, chỉ vài năm mới đây được ở trong một cái chái che cạnh một trường làng nọ. Ấy là nói nơi ở, còn cái ăn, cụ đã phải đào trộm khoai của hợp tác xã, câu cá trộm, hoặc có người thương cho – chuyện này hiếm. Ấy vậy mà cụ sao lại có tới ba vạn đồng. Có lẽ chờ khi được phục hồi, in sách, làm báo, của cụ, dĩ nhiên. Ấy vậy khi đọc được tập kịch thơ Thanh Tâm Thị Kính của Hữu Lam, một người tới nay chưa hề có thơ đăng, cụ sướng quá, đưa ngay cả gói tiền dành dụm cả mấy chục năm trời để bạn in thơ, vì “Thơ của nó ghê gớm quá!” – Cụ nói như vậy. Hữu Lam cảm ơn tấm lòng kẻ sĩ chính thống của cụ, nhưng không lấy: “Cụ tâm cảm được thơ của con như thế là con không sợ cô đơn rồi. Còn tiền, con cảm ơn cụ lắm, nhưng con không nhận đâu, bởi con sẽ có tiền để in mà, in cả thơ con lẫn thơ cụ, biết đâu chừng cụ nhỉ?”

Có kẻ thạo chuyện trong đám nhà văn Kinh Bắc nghe chuyện, bĩu môi: “Cái lão Hữu Lam này sẽ đưa mấy xấp đơn thuốc nam của lão để trả tiền nhà in chắc!”

 

Bergen, 4 . 00

 

(1) Chuyện trời bể: Vào những dịp sinh nhật HCM… trại cải tạo phải lao động thêm ngày chủ nhật; ví du,ï một toán khoảng 40 người cuốc thi đua với các toán khác, có khi cuốc cả mẫu đất, để dâng lên bác, và để tranh giải từ 1 tới 2 ký đường táng.

(2) Limorges: Nơi làm đồ sứ nổi tiếng của Pháp. Ðặc biệt đồ sứ men trắng.

(3) Belliqueux: hiếu chiến .

(4) André Gide (1869 -1851), văn sĩ Pháp, tác giả Khung cửa hẹp, Những người làm bạc giả..

(5) Mont Blanc, rặng núi giữa Pháp và Ý, với đỉnh núi cao nhất châu Âu 4810m.

(6) Summa cum laude: tối ưu với lời khen ngợi.

(7) Les Alpes : Dãy núi lớn nhất và dài nhất châu Âu, 1200km, trải dài từ Nizza – Savona tới Wien – Marburg, rặng Mont Blanc nằm trong dãy núi này.

(8) L’ Idée Contemporaine: tư tưởng hiện đại

(9) Bouillabaisse: Món cá hầm tạp pí lú của Pháp/ Teribble: kinh khủng.

(10) Milieux politique: môi trường chính trị.

(11) Jacque Prévert (1900 – 1977) Thi sĩ Pháp.

(12) Monsieur Abbé: tiếng người Pháp tôn xưng các tu viện trưởng dòng nam, hoặc linh mục coi xứ.

(13) L’Express: tốc hành

(14) L’Être et le Néant. Hưũ Thể và Vô thể, tác phẩm triết học chính của triết gia Jean Paul Sartre.

(15) L’Esprit: Tinh thần/ Le Monde: thế giới/ Le Figaro: tên riêng

(16) Khải Huyền: Cuốn sách cối cùng của Kinh Thánh, nói về sự hủy diệt thế giới – ít ra theo nghĩa đen.

(17) Réactionnaire: phản động.

(18) Merde!: Ðồ cứt đái!: Tiếng chửi thề của Pháp.

 

 

Nguyễn Văn Thà

 

https://s2-ssl.dmcdn.net/MzVmh/526x297-ZVu.jpg

Một cảnh tại Trại tị nạn Đảo Bidong (Pulau Bidong)

Mỗi người có một cuộc đời, nhưng lượng thời gian trong đời mà mỗi người có được, cho chính mình, lại nhiều ít tùy theo người mình ở cùng, cái xã hội mình sống chung; và màu thời gian lại thiên hình vạn trạng.

Ðảo Bidong ngày đó có rất nhiều màu xanh: của biển, của cỏ cây nhiệt đới dư thừa nước mưa, của mênh mông gọi mời quên lãng nhưng vẫn không mênh mông đủ để nuốt đi vũng tối quá lớn của rất nhiều người. Họ đã thoáng thấy một chút màu ước vọng; nhưng màu ấy tắt ngay trong bão tố Con Tạo, hoặc bị xé tan trong điên loạn súc sanh. Họ, như hàng triệu con dân xứ Việt khác, đã trốn chạy, hầu kiếm cho mình màu cuộc đời riêng.

Nhưng rồi bao hình hài đồi nghiêng cỏ dại, cỏ dại mọc nhanh.

Và cũng nhiều thật nhiều hồn nhỏ thân kim dập vùi biển lớn, những trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới, chưa hề âu yếm ở đầu môi1.

Và có kẻ vẫn sống với vết thương của chuyến hải hành.

Vết thương thường hằn sâu.

Rất sâu.

***

Ông Chinh là một người hay chữ. Qua Na Uy đã lâu. Khi thằng con một của ông chuẩn bị vào đại học, ông bỏ gia đình ở ẩn. Ông không thể chờ được nữa. Và ông cũng chẳng cần phải chờ cho tới khi nó tốt nghiệp, vì ông đã chuẩn bị từ lâu: Dạy cho nó cách học, truyền cho nó kiến thức ông có, và cho nó đi Hướng đạo, nên nó học giỏi, tháo vát, lại biết thương người, thích làm chuyện bao đồng, những yếu tố mà ông nghĩ sẽ giúp nó thành công và hạnh phúc trong đời.

Ông lên ở cao nguyên Hadanger2, trong một nhà mát nhỏ. Ở núi không tốn nhiều, nhất là ông có thói quen ăn uống nhẹ nhàng, dưỡng sinh.

Có người nói là ông chán bà vợ nhan sắc; có người lại bảo ông là người mát giây; phần ông, ông chẳng nói gì, bởi ông kinh nghiệm phân bua rồi cũng chẳng đi tới đâu.

Thằng Phúc, con ông, sáng nay gọi điện thoại di động cho ông. Nó nói chuyện khá lâu với ông; nói về thời tiết cuối hạ tuần rồi, nắng đẹp suốt tuần ở nơi nó ở, về biển xanh và những con cá nó câu được; và cuối cùng nó báo cái tin nó quyết định sẽ qua Ðức học ngành đồ họa công nghệ ở Berlin.

Thảm thảo nguyên miền cao ông Chinh ở ẩn gồm những chòm cây thấp trăm tuổi, những tầng rêu xanh vĩnh cửu, những cụm đá lặng màu thời gian; hằng hà sa số; tất cả đều già mà không cỗi, chân như nằm đó, như sinh linh từ muôn muôn kiếp trước hội về nghe đất trời, mê quá ngồi lì, sướng quá ở luôn. Thường thì các cụ im ắng nghe đất trời, uống mật ngọt của lặng thinh, nhưng lắm lúc cũng thì thầm lời yêu mến với nhau. Không thì thầm với nhau sao được khi ta mình ken kín thế kia. Cái ken kín của dấu yêu hằng có từ thửa Nhật Nguyệt vừa về; cái chật chột ấm êm ngày Núi Sông mới tỏ. Có những hôm trời trong gió lặng, các cụ bị thinh không hoa khôi, không khí tinh ròng, thầm lặng vô tận làm cho chết trân. Nhưng đừng tưởng các cụ chỉ dẫm chân một chỗ, nằm ngơi nghỉ một nơi! Có những bữa, chỉ đợi gió lên, các cụ lại lau nhau lít nhít xôn xao chân cẳng thăm thảo nguyên, nhưng rồi giông tố, bão bùng, các cụ sững sờ với cái uy nghi trời đất, ngẩn ngơ với chớp giật mưa sa. Lại dậm chân một chỗ không chừa. Cứ đam mê chuyện trời ơi như thế nên các cụ trăm năm chưa ra xa chỗ dựa đến nửa phân. Thôi thì gởi hương cho gió. Nhắn với ai cuối nẻo cỏ hoa rằng lòng đã phụ lòng.

Hôm nay ông Chinh xuống phố mua thức ăn, mượn mấy cuốn sách, và ghé nhà người quen, mà ông mượn địa chỉ, lấy thư. Ngoài mấy cuốn báo tiếng Việt, ông còn nhận được thư của con ông, báo tin nó đã kiếm được nơi ăn chốn ở đàng hoàng ở Berlin, và kể là nó đã nấu được canh chua ngon đủ mùi đủ vị như canh tập tàng của ba Chinh, vì ở Berlin có nhiều quán Việt, quán Thổ. Ngoài ra, báo tin mẹ đã về Việt Nam, mẹ có vẻ vui và có lẽ ở bên đó lâu.

 

Cô Hồng hồn mỏng mà lại thích đọc tiểu thuyết nặng ký; thường là nặng tình duyên, tình dục. Cô yêu thầm những nhân vật nam mềm mỏng, lịch sự, cả trong lời nói cũng như trong khi làm tình. Yêu lắm mà chẳng thấy ai như thế; chỉ thấy quanh cô những người đàn ông cứng cỏi, thô lỗ, và hay văng bọt mép khi nói năng. Cha cô lại thuộc loại người như thế; làm cho cô đôi lúc đâm ra nghĩ ngợi: “Ðàn ông là cái giống ác độc như thế; không biết Trời sinh ra họ mà chi?” Cái kết luận tạm thời về đàn ông đó được củng cố thêm, khi cô, một bữa đi chơi về khuya một mình, bị một kẻ trời tối không rõ già trẻ, bụm mồm kéo vào rẫy mía cạnh đường hiếp dâm. Cô kể lại cho mẹ; mẹ kể lại cho cha, nhưng ông lại không tin cô nhỏ. Cô bị đòn nặng và bị cha chửi đồ này đồ nọ tục tĩu đến nỗi cô đã phải thét lên: “Ðàn ông là cái giống ác độc! Ðàn ông là cái giống ác độc!” Tiếng thét làm cha cô phải sững người chùn tay; như thể tiếng thét đó đã ném vào mặt ông, đại diện cho cái giống đàn ông lúc đó, một sự thật kinh hoàng bị chèn họng đã quá lâu trong đời của riêng con gái ông và trong bao thế hệ đàn bà. Ông chỉ sững, cái sững của một bạo chúa bỗng nghe được lời ngay nhưng vì thói quen đàn áp đã đâm rễ sâu, trung ngôn nghịch nhĩ lẽ thường, nên kẻ nói lời chói tai là cô Hồng chỉ chuốc đại họa vào mình: Cô bị đòn  nặng, bị chửi tục tĩu hơn nữa.

Nhưng cũng may cô không có bầu.

Chuyện cũng qua, không ai biết, ngoài cha mẹ cô, và (có lẽ) cả tên hiếp đêm. Chuyện rồi êm, nhưng lòng cô chẳng êm. Cô thù đàn ông. Tuy nhiên cô đã đến tuổi mười tám đôi mươi; cô phải có một tấm chồng. “Cũng phải lấy thôi!” Nhưng lòng cô lo sợ, vì quanh cô người ta hay nói về những chuyện trinh trắng. Mất trinh thế nào cũng bị rắc rối, rắc rối nặng, rắc rối dai dẳng, có khi cả đời, dai như đỉa trâu; trâu còn quỵ huống chi người, thân đàn bà phận mỏng.

Cô Hồng lòng mỏng và thân cô cũng mỏng. Cái mỏng manh nơi hồn nơi xác cộng với đôi mắt lắng lo của cô đã hút hồn thầy giáo Chinh mới đến dạy học trường làng. Cô có cái sắc đẹp của những nường ái phi mền mệt, con hầu nâng dậy coi đà mệt thay3hay của những nữ tu u uẩn cõi trên, nên ngày cô Hồng dẫn em tới trường làm lễ khai giảng, thầy bị chết đứng, thầy mê đến độ bài ngỏ với phụ huynh, viết cả mấy trang, đọc được dăm dòng, thầy đành thu xếp câu cú để kết luận cho mau, kẻo người ta lại cứ tưởng thầy bị lên cơn sốt rét ác tính.

Và thầy Chinh lấy được cô Hồng.

Không có chuyện gì như cô đã lo xảy ra cả. Hai người sống khổ mà êm. Lại sinh được con. Một thằng con trai. Cô bắt đầu bớt ghét đàn ông. Nhưng rồi mãi tới một ngày nọ thầy Chinh mới thấy rằng cô Hồng còn môi mỏng: Cô nói nhiều, nói quá nhiều, giọng kim khí, những chuyện thầy không thích nghe, y như cái loa đầu ngõ. Cả hai có cái dai dẳng, kiêu căng của một người đang nắm chân lý trong tay, đã có đáp số sẵn. Thế rồi một ngày kia, cái bộ não của thầy Chinh bị bung, và nó bất chợt ra lệnh cho bàn tay của thầy Chinh giáng một bạt tai như trời giáng vào cái miệng đỉnh cao trí tuệ ấy. Sau vụ bị tát đó, câu nằm lòng “Ðàn ông là cái giống ác độc.” có một giá trị phổ quát tuyệt đối, như hai với hai là bốn vậy. Và nó ghim vào lòng cô Hồng chặt như sắt cắm bê tông, nhưng vòng tay của cô Hồng mới chớm thương thầy Chinh giờ lại lỏng dần, và cuối cùng xuội lơ như tàu lá chuối héo. Ðã thế, trời lại quá nóng, đói triền miên, họp hành cha chú; thầy loay hoay; thầy đâm ra dở người; thầy thô lỗ; cái vẻ mềm mỏng lịch lãm nơi thầy coi như mất tiệt, cô Hồng có lúc nhận xét như vậy.

Khi hai người vượt biển đến đảo Bidong được mấy tháng, thầy Chinh còn được vợ xác định thêm danh phận: “Ông là cái đồ khốn nạn.” Nghe, thầy tá hỏa tam tinh, nhưng rồi thầy cũng chững lại, mình đóng cửa dạy mình, riết rồi thầy đâm ra hoài nghi cả chính mình: biết đâu mình cũng “khốn nạn” thật, vì chuyện gì cũng có thể xảy ra ở những cái chuồng người nóng nảy chật chội tạp nhạp đông người, đáo bỉ ngạn mắc cạn đồng khô.

Tuy nhiên, thầy Chinh nếu là “cái thứ khốn nạn”, thì chỉ “khốn nạn” ở trên khu F nơi vợ chồng thầy ở; khi xuống khu A, khu B, nơi có các văn phòng, trường học, thầy như cá gặp nước, vì ngoài chuyện thầy dạy tiếng Anh ở trường high-school của các bà xơ Úc phụ trách, thầy còn làm thông dịch nói tiếng Anh nhanh như gió, lại là trưởng ban báo chí của trại. Những lúc như thế, thầy trở lại con người lịch lãm, mềm mỏng như thời mới tốt nghiệp sư phạm, thủa mới yêu cô Hồng. Thầy được nhiều người để ý. Thầy được lắm kẻ nể vì.

Lúc rảnh thầy hay dẫn đứa con trai nhỏ ra ngoài bãi biển, không bao giờ có cô Hồng đi cùng. Những mảnh thời gian hạnh phúc nhất của thầy là những lúc cha con với nhau.

 

Ðồi nghiêng chiều cuối năm lăm nhăm hàng trăm nấm mồ nhỏ như những bụm đất bọn trẻ chơi xong để đó. Cuốc dẫy cỏ, đắp thêm chút đất, thắp một nén hương. Gọi là một chút xót thương.

– Anh gì đằng đó ơi!

– Cô gọi tôi?

– Dạ, nấm mộ nầy ai đó để  mấy chén gì nhỏ như chung rượu…

Thầy Chinh nói vói:

– Chà, chắc người nằm dưới mồ vốn là bợm nhậu…

– Hay là mình xuống khu F kiếm cho ông ta một xị?

– Bộ không sợ mấy ông Task Force Mã Lai4 hay sao?

– Thây kệ, em biết có người bán.

Và cô nàng chạy lẹ xuống đồi. Cô là một cô gái đẹp, khoẻ. Thầy Chinh chép miệng không biết vì thèm rượu hay vì vướng phải ngải đảo hoang.

Khoảng mươi phút sau cô nhỏ chạy lên, với một cút rượu dấu trong người. Thầy Chinh nói sảng:

– Rượu này hẳn ngon phải biết; uống một ngụm say suốt đời.

Cô gái ngộ ngay công án, giật bắn, rồi mỉm cười rạng ngời còn hơn trò Ca diếp5 bội phần.

– Cái cô Hạnh này hay nhỉ, làm gì đứng đó, lại đây giúp tôi cắm mấy thẻ nhang cho xong – Anh Trác, cố vấn người Việt, nói với cô gái, từ đằng xa.

– Chờ em một chút anh Trác, em còn bận cái này.

Và cô lấy vạt áo lau mấy cái chung men trắng đã lem luốc đất cát, rồi rót rượu vào, rót độ lượng, rót đầy.

– Mời chú Hai cạn chén rượu lạt cuối năm – Rồi cô quệt nước mắt, chạy nhanh về phía anh Trác.

Cô thật bận rộn chuyện thương người.

 

– One, two, three; one, two, three…

– Ba nói gì vậy ba?

Ông Chinh ậm ừ:

– Thì ba nhẩm tiếng Anh cho nhớ.

Nhưng thực ra thầy Chinh đang ghẹo cô Hạnh, cô Nguyễn Thị Ðức Hạnh, (mà thầy tất bật dò hỏi đầy đủ luôn cả họ cùng tên lót, ngay sau bữa tảo mộ,)  đang chạy bộ dọc bãi biển. Cô ta thiệt không giống ai: Chạy nhơn nhơn như mấy bà đầm cố vấn. Cô Hạnh quay lại nhìn ông mỉm cười, má đỏ au au mận hồng đào Mỹ Thuận. Thầy Chinh chép miệng tựa thằn lằn đêm hôm.

Suốt cả tuần sau, thật lạ lùng, thầy Chinh và thằng nhóc vừa ngồi được dăm phút trên bãi biển, lại thấy cô Hạnh chạy tới. Và thấy đếm “one, two, three!”  hoài cũng kỳ, thầy chuyển sang đếm “một, hai, ba!”

– Ba làm gì vậy ba?

– Ba tập nói tiếng Việt!

Lôgích! Nhưng thằng nhỏ chẳng cảm thấy lôgích chút nào, vặn ngay:

– Ba lớn mà còn học tiếng Việt, hả ba!

– Ừ, học, học, học nữa, học mãi…

Thằng cu nghe ba nó nói cái chi đó lạ và kỳ cục quá, bèn không lục vấn nữa, cúi xuống chơi với mấy vỏ sò mà nó cứ tưởng tượng là xe, miệng tu tu.

Mấy hôm sau, hôm Chủ nhật thì phải, cô Hạnh không chạy bộ nữa mà thung dung từ hướng quán nước đi lại phía cha con thầy Chinh. (Ðúng ra chỉ có mình thầy; thằng cu đang đuổi bắt mấy con còng đằng bụi dứa biển gần đó.) Cô mặc một bộ đồ đầm mát trể tràng màu trắng, vải sợi thô, chân quê mà sang, một kiểu thời trang rustique, đầu lại đội một chiếc nón rơm rộng vành xơ xơ sợi lác. (Không biết kiếm ở đâu hay vậy!) Lại gần thấy môi một chút son, má một chút phấn, và một thoáng nước hoa ngây hanh cát biển, phảng phất hoa ngải đảo Nam.

– Cô bữa nay không chạy… ?

– Không đâu thầy… mà thằng nhỏ con thầy cứ lủi thủi chơi một mình, tội nghiệp?

– Cháu cũng hay chơi ô làng vỏ sò với tôi, khá thú vị, không đến nỗi đáng thương như cô tưởng. Cha con tranh nhau thắng.

– Thầy mà lại tranh với cháu nhỏ? Chắc thầy lại giả vờ thua cho cháu vui!

– Ừ, thì cũng có những trường hợp mình phải giả vờ thua để cho người khác vui lòng. Tôi hay thua kiểu đó. Còn cô, cô có phải giả thua bao giờ chưa?

Khi không cô Hạnh ngượng ngập, cúi đầu:

– Hạnh, ngược lại, đã thua thiệt sự. Trong chuyến đi vừa qua Hạnh đã thua… Rồi… có lúc nghĩ có thua thêm nữa cũng chẳng sao… Chạy hoài cũng mệt… Nhiều lúc thua thêm, như thế mà hay…  Mà cháu Phúc đâu?

– Nó bắt còng đằng kia.

– Chuyện Dã Tràng buồn ghê!

– Ừ, buồn.

***

Chiều nắng nghiêng. Thầy Chinh ngồi dưới bóng dừa bờ biển hóng mát cho loãng bớt những chuyện bực dọc cơm bữa. Cô Hạnh nhẹ nhàng đến bên cạnh thầy Chinh, tươi môi, tươi mắt, tươi mái tóc cột cao khoe gáy chờ chi.

– Không cần nhìn cũng biết Hạnh đang đến.

– Sao biết?

– Tự biết lấy!

Cô đấm vào vai thầy Chinh:

– Xạo! – Rồi lôi trong túi xách ra mấy số báo Newsweek, và một chiếc hộp giấy xinh xinh – Em mượn mấy số báo Newsweek mới nhất của cố vấn Anderson cho anh…

– Chà, thích thật! Mười mấy năm mới có mà đọc lại.

– …và em có cắt một lô hình các kiểu xe du lịch trong mấy tờ báo Mỹ cho cháu Phúc bỏ trong hộp này. Hi vọng cháu thích.

– Sao Hạnh biết ý nó hay vậy? Nó rất thích xe.

– Thì có bữa chạy qua đây, thấy nó cứ vừa đẩy vỏ sò, vừa giả kêu tiếng kèn xe: “Tu tu tu. Tu tu tu” mà! – Rồi cô ngập ngừng – Và em cũng có một chút tiền chú của em bên Ðức gởi qua, tiền của hãng bảo hiểm bồi thường cho bà nội em bị xe hơi đụng…

– Vậy sao!? Tội nghiệp bà; xin chia buồn với cô!

– … mà em không dùng gì nhiều, anh cầm mua bánh, mua đồ chơi cho cháu.

Thầy Chinh có vẻ cảm động, nhưng vẫn chống chế:

– Sao biết tôi không có tiền?

– Nghe trên loa rao tên người nhận thư mà bao giờ có tên anh hay tên chị ấy đâu

Thầy Chinh chép miệng.

***

Cái hộp đựng mấy tấm hình xe ấy, thằng Phúc tới nay vẫn còn giữ. Nó đã mười chín tuổi, và lai tính thầy Chinh: hoài cổ, và hay suy nghĩ những chuyện không giống ai. Và nó có trí nhớ thật tốt. Mới đây, khi rời thảo nguyên đi thăm con, trước ngày con qua Berlin học, thằng Phúc kêu ông Chinh vào phòng riêng nó, và chỉ cho ông xem một tấm hình trong tạp chí Photography International6, rồi nói tĩnh bơ:

– Cô người mẫu này giống cô Hạnh hồi bên đảo quá, ba há! Cô gái trong báo cũng dong dỏng, mềm mại, bận bộ đồ mát trắng, đội nón rơm rộng vành, chỉ khác cô này nón có cài một cành hoa hồng còn búp, và có mái tóc vàng.

Rồi nó lại nhìn ông Chinh, chép miệng:

– Không biết bây giờ cô Hạnh ở đâu?

– Cô ấy có lẽ đang ở Berlin. Cô có người chú đang dạy ngành cơ khí ở đó.

– Sao ba biết?

– Sau bữa cô cho con xe giấy ít hôm, cô và ba hay ra tiệm chạp phô Mã Lai… mua kẹo cho con; cô nói với ba cô sẽ định cư ở đó.

Nó trầm sắc mặt lại, nói với ông, bằng tiếng Na Uy:

– Livet er kort, pappa!  (Ðời người ngắn ngủi, ba ạ!)

– Con nói sao!?

– Người Tây họ hay nói “Ðời người thì ngắn ngủi”. Ở đây, nơi Âu châu này, ngoài xã hội, cũng như trong nhà trường, người ta phân tích, phân tích sự kiện, phân tích tình huống cụ thể nằm trong một khoảng không gian, thời gian nhất định; phân tích để giải quyết, để thay đổi, nếu cần.

– Xem ra người Tây họ áp dụng cái triết lý Yin Yang thường xuyên và nhuần nhuyễn hơn người Á  đông mình.

– Vâng, có thế họ mới sống được, và sống hạnh phúc. Người ta không được phép loay hoay quá lâu. Ðấy là một hình thức tự sát.

– Người Việt mình có một đặc ngữ rất hay: Chết dần chết mòn…

– Ðúng thế đó ba! Nhiều, rất nhiều người đã chết dần chết mòn, đã để cho đời mình bị gặm nhấm liên tục, dai dẳng. Những côn trùng nhỏ, gậm mãi cuối cùng cũng đốn ngã được cây lớn, không kém luồng sét đánh, đôi khi hiệu quả hơn. Người ta phải thay đổi nếu cần phải thay đổi.

***

Thảo nguyên mênh mông tuyết trắng. Các cụ cỏ cây đá cuội đang đắp chăn tuyết ngủ khì. Mấy bữa nay ông Chinh chỉ uống trà mật ong cầm hơi. Nghe như cái hóa  kiếp đang dịu dàng đến trong thân thể. Một ngọn tháp7 dựng lên từ tim; và ông đang đứng bên gờ tháp ấy: Nơi đấy thôi chẳng còn gì, chẳng còn đớn đau, bất hạnh, chẳng còn đời. Vậy mà một cái gì đó như nỗi cô đơn vẫn còn lẩn khuất trong cõi vô cùng tranh tối tranh sáng lòng ông; cái khuôn mặt cuối cùng của một đời, mảnh dung nhan gây thương gây nhớ cứ bị xua đuổi tới lui trong vùng  chẳng bao giờ yên sóng trùng dương vọng động. Từ khi cái hạc về Không, nhìn đời nửa mắt, làm chồng nửa thân. Hạnh ngộ, hạnh phúc, hạnh hảo, hạnh vận, bất hạnh, vô hạnh, đức hạnh, đứt hạnh, đứt đường tơ, tơ vò trăm mối.

– Ba, ba làm gì mà lâu bắt điện thoại vậy? Ba hứa với con sẽ luôn luôn mở điện thoại sẵn sàng mà. Ba có sao không?

– Không. Mà con có khoẻ không?

– Con khoẻ mà vui nữa… mà con có chuyện này muốn nói với ba…

– Bộ con đậu học kỳ này?

– Vâng, con đậu.

– Vậy thì ba mừng. Con ráng học, con đừng lo cho ba. Ba hạnh phúc. Hạnh Phúc!

– Ba có Phúc là con, còn cô Hạnh…

– Hả? Con nói gì!?

– … Con đã kiếm được cô Hạnh của ba (nó nhấn giọng) rồi! Ở ngay Berlin này.

– Thiệt không, mà sao kiếm được giữa cái thành phố to lớn ấy?

– To mà hoá ra nhỏ. Con chỉ cần ra mấy quán bán đồ Việt Nam mấy bữa thứ bảy là gặp được.

– Bộ con còn nhớ mặt? Mà cô ấy ra sao?

– Con nghĩ con không thể nhớ lại mặt cô ấy được, vì lâu rồi, cô ấy phải thay đổi, nên con nảy cái ý treo cái bảng các tông trước ngực, có viết hàng chữ lớn: Tôi Cần Tìm Cô Nguyễn Thị Ðức Hạnh, tàu MB 825, Pulau Bidong. Và đứng trước quán này tới quán khác chờ. Nhiều cô cứ tưởng con đang cố tìm lại người yêu xưa, bụm miệng cười.

– Sao con tài vậy?

– Bộ ba không nhớ con là dân Hướng đạo sao? Tháo vát. Nhanh nhẹn.

– Rồi sao nữa?

– Cô Hạnh, cuối cùng, có ai đó nhắn lại, cô đến tiệm gặp con.

– Vậy hả!? Cô ấy nay ra sao? Mà cô nói gì không?

– Cô Hạnh vẫn còn như hồi đó. Cô mời con về nhà nấu phở cho một mình con ăn. Cô nói nếu con thích, con có thể về ở với cô, vì nhà bây giờ chỉ có mình cô. Con nhắc lại chuyện xe giấy cho cô nghe, và nói là con đang học ngành đồ họa công nghiệp. Con còn nói với cô: Khi ra trường con sẽ làm nghề vẽ kiểu xe; biết đâu vẽ được các kiểu xe ăn khách, có lương cao, con sẽ biếu cô chiếc xe thiệt, kiểu của chính con vẽ. Cô mỉm cười và rươm rướm nước mắt…

– Rồi sao nữa? – Và có lẽ  không đủ kiên nhẫn với cái trò mèo vờn chuột nhắt của thằng con láu cá, ông Chinh đành làm mặt dày hỏi dấn – Cô ấy nói gì về ba!?

– Cô Ðức Hạnh nói: “Ðàn ông là cái giống ác độc.”

 

Oslo, 15. 4. 02

 

(1) Trinh tiết…môi: Từ bài Gái Ðồng Trinh, của Hàn Mặc Tử (1912 – 1940).

(2) Hadanger: Thảo nguyên nổi tiếng trên miền cao Hadanger, của Na Uy. Ðẹp não lòng, mỗi mùa mỗi vẻ.

(3) “Con hầu”…: Tản đà dịch từ nguyên tác chữ Hán câu:  “Thị nhi phù khởi kiều vô lực.”  của Bạch Cư Dị, tả quý phi họ Dương, trong bài Trường Hận Ca.

(4) Task Force: Lực lượng đặc nhiệm Mã Lai được sử dụng để trông coi dân tị nạn mà chính phủ Mã Lai hồi ấy, trên giấy tờ, coi như  “dân nhập cư bất hợp pháp mà chẳng có nơi ở” (illegal displaced immigrant) . Người Mã Lai theo đạo Islam, cấm uống rượu, cho nên cấm bán rượu trên đảo tị nạn Bidong, thuộc lãnh thổ Mã Lai. Nên có rượu nấu lậu bằng gạo của Liên Hiệp Quốc phát. Gạo trắng tinh, dẻo, thơm, phát ăn không hết.

(5) Ca diếp: Ðệ tử được Thích Ca truyền cho chính pháp, nhờ ông cười mỉm chi với Thích Ca, khi Thích Ca đưa cành hoa sen trước đám đông nghe Thích Ca thuyết giảng. Ðám đông ấy có tối dạ đến như thế chăng, hay vì lý do nào khác?

(6) Photography International: (Tạp chí) Nhiếp ảnh Quốc te.á

(7) “Một ngọn tháp…vọng động” : Lấy ý từ bài thơ Der Einsame: Kẻ Cô Ðôn, của Rainer Maria Rilke (1875 – 1926) .

 

Nguyễn Văn Thà

 

https://i1.wp.com/www.caycongtrinh.com.vn/_/rsrc/1506998436143/cay-cong-trinh/cay-hoa-gao/c%C3%A2y%20hoa%20g%E1%BA%A1o.jpg

 

 

Bây giờ mỏi bước đường đời

Ði đâu cũng chỉ nhớ trời một phương

Cánh hoa gạo đỏ bên đường

Nhớ nhà rưng rức hồn nương mây về

Nguyễn Thị Vinh

 

Khi Trực đi tù về, tù quá lâu, anh thấy làng xóm thay đổi quá nhiều. Khu rừng sau làng tưởng muôn đời xanh lá âm u, đã bị chặt sạch trơ gốc, và cỏ tranh xâm chiếm.

Một số dân từ ngoài Bắc mới vào cất nhà ở đó, và một số từ những vùng khác ở miền Nam tới, một trong những gia đình đó là vợ chồng ông Quân, mà người trong làng gọi là “ông bà Sài Gòn”.

Ông người Sài Gòn là một mẫu người chừng mực, chừng mực từng lời ăn tiếng nói cho đến bước đi; người ta thấy nơi ông một sự điềm đạm, tuy có vẻ xa cách.

Vợ ông, tên Chiêu, trẻ hơn ông nhiều và giống ông, như cha với con. Mấy tay ba trợn, nhất là mấy tên trảo nha, bắt đầu bàn tán, thèm thuồng thấy rõ; nói tục nói tĩu chuyện chồng già vợ trẻ; có kẻ còn phúc đức tội nghiệp cho bà Chiêu.

Hai người sống trong một căn nhà tranh khá xinh xắn, tươm tất; trước nhà có một giàn bầu, vuông vắn, chỉnh chu che trên một chiếc sân lát gạch thẻ đỏ, có kê mấy chiếc ghế mây và một chiếc bàn cũng bằng mây kiểu của những người nhà giàu Sài Gòn hay dùng; chung quanh giàn, ông Quân còn kê những chậu bông giấy đủ màu, và thả những bụi tóc tiên làm rèm, như một phòng khách ngoài trời.

Có những hôm, trưa nắng, đi rẫy về, Trực thấy bà Chiêu hay ngồi thêu đan dưới giàn bầu, hoặc đọc sách. Ðôi khi đi rẫy qua nhà bà, Trực còn để ý thấy bà hay cài hoa, không phải trên đầu hay bên vành tai, như các cô gái Thượng hay như những thiếu nữ ở các đảo Nam Thái Bình Dương, mà lại ngậm ngang nơi miệng.

Ðôi khi thấy ông Quân ngồi cạnh bà Chiêu, nhìn bâng quơ lên giàn bầu. Thiệt thanh thản ở một vùng, chiến tranh tuy đã hết từ lâu, nhưng chẳng yên ổn gì. Hai vợ chồng không lam lũ gì nhiều. Người ta nghi là họ ra ở đây để kiếm cách vượt biên. Chính quyền xã và đám công an biên phòng để ý theo dõi. Vợ chồng “ông bà Sài Gòn” vẫn bình chân như vại. Người ta ngứa máu bắt ông đi làm thuỷ lợi, nhưng có lẽ ông có tiền, có đủ để làm cái lọng che thân cho những ngày tá túc ở cái xã bát nháo cờ quạt loa kèn. Dần dần con nít trong làng không còn gọi ông bà Quân là “ông bà Sài Gòn” nữa, mà gọi là “ông-bà-hay-cho-bầu”.  Ông bà Quân Chiêu không những hay cho bầu, mà còn cho những người đi rẫy được múc nước mưa thoải mái từ những mái vú lớn trước thềm nhà.

 

 

Một mẩu đối thoại dưới giàn bầu giữa bà Chiêu và Trực, sau lần xin nước mưa thứ…

– Bà cười rất tươi, mỗi khi có người xin nước; tại sao?

– Tôi vẫn ước ao mình là nước.

– Bà tham lắm. Nước là mẹ đẻ của muôn loài.

– A !

– Tôi không bao giờ muốn làm nước.

– A !

– Tôi muốn làm lửa.

– ……

– Lửa làm sôi nước.

– ……

– Lửa đốt cháy.

– ……

– Ðốt cháy tấm lòng.

– ……!

– Ðốt cháy những ước mơ.

– Ðừng! Ðừng!

– Ðốt cháy những bài thơ.

– Ðừng! Ðừng! Ðừng!

Và bây giờ bà Chiêu là nước. Nước mắt. Dập tắt lửa điên vô lối.

 

Lửa điên vượt biển lớn, nước ở lại.

Cuối cùng lửa điên cũng qua được tới Anh; và rồi sóng lớp phế hưng của những vun quén bản thân, dù trong trường hợp của hắn chỉ là vun quén tri thức vô bổ, đã nhận chìm, xoá nhoà mọi chuyện nhỏ lẫn chuyện to của những ngày tháng cũ quê xa.

Nhân dịp thằng em mùa hè lái xe qua Texas  ăn đám cưới một đứa bạn của nó, hắn xin quá giang cốt đến đó để xem cái trang trại làm bối cảnh cho bộ phim tập Dallas trứ danh mà hắn rất thích. Trên đường, tình cờ hắn thấy vườn nhà ai đó có trồng một giàn bầu dài sai trái thòng xuống ảo ánh như những giọt nước mắt cẩm thạch xanh, những giọt nước mắt chỉ có trong thần thoại. Hắn tính nhủ thằng em dừng lại để xem giàn bầu, nhưng lại thôi, vì thấy nó đang vội vã; sợ làm phật lòng nó, nó lại cáu, làm tan đi khung trời lơ mơ cũ của mình, và biết đâu nó lại mắng tạt vào mặt; vậy mà chạy thêm cả chục cây số, nó bỗng buột miệng:

– Anh Trực có còn nhớ ông-bà-Sài-gòn-hay-cho-bầu không? Hồi tui về Việt Nam người trong làng kể lại là sau một đêm gió mưa, sáng trời tạnh, đi rẫy, người ta chẳng những không còn thấy ông bà ấy đâu nữa, mà ngay nhà của họ cũng biến mất, chỉ còn rơi rớt lại mấy lá bầu xanh. Người lớn thì đinh ninh rằng hai ông bà đã đi lọt rồi, và cho rằng đám dân ngoài rẫy đã hôi của, lấy đi không những đồ đoàn trong nhà, mà cả cột kèo, rui mè, tranh lạt cũng dọn đi sạch bách trong một đêm, và bọn họ phải kín miệng vì sợ công an. Nhưng mấy đứa con nít lại khơi khơi nói là ông bà ấy đã bay lên trời rồi.

Khi đi quanh quẩn dưới những giàn hoa hồng đài các sang trọng trong trang trại ở Dallas, hắn lại nhớ tới giàn bầu cũ, và nghĩ miệng mấy đứa nhỏ chắc là thiêng, là đúng, vì những người có lòng lành như thế thường không ở hẳn một nơi mà hay cỡi mây lướt gió đi gieo hạnh phúc cho người.

 

Khu kinh tế mới La Ngà, nằm cách quê hắn khoảng năm mươi cây số, cạnh trại cải tạo Ðức Linh, còn gọi là khu kinh tế mới người Hoa vì đa số là dân từ Chợ lớn bị đưa tới định cư ở đó. Mới tới mấy năm mà họ đã khai hoang được hàng trăm mẩu đất trồng mía và có giàn máy sản xuất đường. Cuộc sống của họ bắt đầu phồn vinh, phồn vinh thứ thiệt, bởi  làm kinh tế là nghề ruột của người Hoa. Ða số nói sõi tiếng Việt, nhiều người còn nói y boong giọng Sài Gòn, không nói lớ kiểu như kép Văn Chung hay diễu. Họ vẫn lịch sự với đám cán bộ quản giáo, cán bộ canh tù mặt sắt thỉnh thoảng ra hạch sách kiếm chác. Với tù cải tạo họ vui vẻ, tuy kín đáo; lén lút dấm dúi cơm, đường, những miếng đường quý báu cho đám tù đói khổ thèm ngọt, và những quả bầu từ những giàn bầu xanh biếc, sai quả trước nhà họ.

Riêng đối với hắn, những người Tàu ở đó còn cho hắn một món quà khác, đó là màu đỏ rực trời của hai cây hoa gạo mà họ đã chừa lại giữa làng không đốn. Những bữa trưa nắng chang chang, vác bao lúa cả năm sáu chục ký, nặng, xót xáy, lội quảng đường lầy lội cả chục cây số về trại, thấy được bóng hai cây gạo đỏ rực xa xa, hắn lại mỉm cười đỡ khổ. Hai cây gạo cao lớn, cành đen bóng, đường hoàng ngự trị, tuổi cây dám cả trăm năm, nhưng chúng cứ như còn đòi vươn lên, vươn lên mãi cho đã, cho thoả chí bình sinh; chưa có những lớp vỏ sần sùi, vì dường như đất màu mỡ, ánh mặt trời quanh năm, mạch nước sông La Ngà làm cho chúng trẻ mãi, tạo cho chúng cái dáng hiên ngang bóng lưỡng hạnh phúc như của những lực sĩ chạy trăm mét huy chương vàng Mỹ Da đen. Nghe nói ông chủ làng là một người Hoa trước đây có học kinh tế ở Hương Cảng về. Ông tổ chức thành công vùng kinh tế mới về mặt kinh tế. Hắn nghĩ ông và các người đưa đến quyết định không hạ hai cây gạo đỏ để lấy thêm đất trồng trọt là những Hồ Dzếnh mới.

Họ để lại một màu đỏ chứa chan hi vọng. Cái màu đỏ ấy khác màu cờ rất nhiều. Nhìn và cứ muốn nhìn mãi cái màu của sự sống, của máu đang luân chảy châu thân, loại máu tốt chưa vướng phải thán khí hoặc một loại vi trùng độc hiểm nào. Hoa gạo rơi đỏ cả nền đất bùn đen, như một tấm thảm điều Ba tư hạnh phúc, vẫn giữ nguyên màu sáng thế tươi nguyên.

Người Tàu ở đó còn kiến tạo cả một cái phà vận hành bằng dây cáp bắc ngang sông. Người Hoa dùng, dĩ nhiên; và nhà nước của trại cải tạo cũng sử dụng miễn phí, hay còn gọi nôm na, xài của chùa. Cái phà đã giúp cho công việc khai thác rừng và làm ruộng của trại, góp phần mang lại lợi tức khổng lồ cho nhà nước. Tuy người Hoa đã khéo léo làm hài lòng kẻ có quyền, chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, nhưng rồi, đầu năm 1981, mấy tháng sau khi hắn ra khỏi biệt giam, được đưa trở lại toán 4 sản xuất, khi toán dừng bên bờ sông La Ngà chờ phà, hắn thấy phà còn đó, nhưng nhà cửa bên kia sông của người Tàu, lớp bị phá, lớp bị cháy rụi, chỉ còn trơ lại những nền đất. Mấy cái hộc thờ thần, cái còn ngay, cái nghiêng ngả nhưng màu sơn chưa kịp ngả màu sương gió, còn đỏ tươi, những đống rác lem nhem, những mảnh áo quần chưa cháy hết, giấy má cháy dở bay tấp vào những bụi hoa dâm bụt, bụi gai.

Hắn nghe các bạn tù xì xào. Tiếc. Kẻ thì tiếc cục đường, miếng bầu, tiếc những vắt cơm của các nị, các ngộ, có anh lại xót vì các Hoa nữ mắt lá răm mất dấu mất tăm.

Nguyên do có lẽ là từ ngày có khu kinh tế mới người Hoa được thiết lập cạnh trại, tù trốn trại ngày càng nhiều và thường là lọt. Có một số bị bắt lại; và nghe đồn là những kẻ bị bắt lại khai là họ có nhận được sự giúp đỡ của người Tàu, nhưng cũng có lẽ chính quyền muốn chiếm đoạt hàng trăm mẫu mía đường tốt tươi của người Tàu để cho trại tù khai thác.

Một buổi trưa được phép nghỉ dưới gốc cây gạo để ăn trưa, hắn lúi húi luợm mấy bông gạo về phơi nấu nước, hắn bỗng thấy có mấy mảnh giấy cháy dở dính quanh một cục bùn đen khô. Vốn là người mê chữ, hắn vạch vạch phủi phủi xem thử, thì thấy một mảnh có in một bài thơ tiếng Anh nói về những tiếng chuông, hắn đã đọc đâu đó, nay đã quên tên tác giả; một mảnh khác cũng toàn tiếng Anh, ghi danh mục các đại học của Anh, có nét bút nguyên tử, có lẽ là loại bút Bic ngoại (vì, dù đã lấm lem mưa gió, nét chữ vẫn chưa nhoà) gạch dưới chữ Columbia University, gạch đậm nhiều lần, và còn viết kèm bên cạnh mấy chử Hán “Vị hà! Vị hà! – Tại sao! Tại sao! ” , với những dấu chấm than vẽ hình những giọt nước mắt to, và chúng cũng có vẻ giống như hai chiếc đinh đóng tàn nhẫn xuống, nếu căn cứ theo nét sổ sắc mạnh mà đoán; lại có cả một mảnh giấy hoa tiên có lẽ là từ một tập thơ do nhà xuất bản Hoa Tiên ấn hành, có in bài thơ tiếng Việt, cháy lem nhem:

 

Hôm qua… (cháy lăm nhăm) …về

Với một cành hoa gẫy

Sương nặng gieo đầu tre

Lạnh tràn theo gió đẩy

(lem nhem vài dòng, đọc không được.)

 

Ðêm qua bên láng giềng

(chữ lại mờ quá, không đọc được.)

 

Cô gái nhỏ thung dung

Qua miếng vườn hoa nhỏ

Ðất nằm im dưới cỏ

Hoa tạ màu nhớ nhung1

(cháy từ đây trở xuống; hắn không biết bài thơ còn thêm câu nào nữa không.)

 

Bài thơ nước Việt, câu thơ xứ Anh, và tên một nơi chốn nâng trí tuệ con người lên cao, bị dính chặt vào cục đất đần độn. Ba số mạng bùn bị trộn với trùn. Hắn khẻ nhẹ cục bùn khô, cẩn trọng bóc, và cuối cùng cứu được ba mảnh giấy. Cho giấy và cho mình. Cục đất và những bầu trời vời vợi. Vết cháy và những suối nguồn lộng lẫy. Và hắn cứ đinh ninh sở hữu của ba mảnh giấy ấy phải là của một cô gái. Con gái mới có những giọt nước mắt lớn, mơ ước trùm trời, và thù hận dữ dằn như thế! Qua hàng chục lần kiểm tra đột xuất, rồi chuyển trại mấy lượt, hắn vẫn giữ được ba mảnh giấy lem luốc ấy như  những chứng từ duyên trái vu vơ.

Một năm sau ngày khu kinh tế mới La Ngà bị dẹp bỏ, hắn được thả. Hắn nhẹ tênh qua sông, nhìn lại khu kinh tế mới, nhìn phế tích của những gượng dậy gãy gục mà hắn biết hắn khó mà quên.

 

Sau khi tốt nghiệp khoa khảo cổ, chuyên ngành trùng tu cổ bản, hắn, hên, được làm việc ngay tại đại học Columbia, nơi hắn tốt nghiệp. Hắn là người có công phục chế một số văn bản quan trọng mới tìm được hoặc tìm được đã lâu nhưng chưa được xử lý đúng mức, như bản cổ thư bằng đất nung Kinh Uống Rượu mới đào được từ dưới chân tường cổ thành của người Assyria, nay thuộc Irắc; bản Kinh Têm Trầu, một loại sutra tối cổ viết trên thẻ lá dừa của Ấn độ; và một cuốn khác mới được một du khách Mỹ tình cờ tìm được ở sa mạc Gobi, mà có lẽ Thành Cát Tư Hãn (người rất thích tìm hiểu các trào lưu tư tưởng kiến thức từ các thày cả giáo phái Kitô giáo Nestorien xa lắc cho đến các thày chùa Trung Hoa láng giềng) đã tịch thu từ các thư khố triều đình Trung quốc, và đã đánh rớt trên đường về quê chăng? Sách có tên Âm vực Biểu tượng Kinh, khắc trên xương, có từ đời nhà Thương; đã được nhà xuất bản Chiêu Dương, Hương Cảng, chụp, và in lại bằng khải tự  năm 197… Sách đã gây xôn xao dư luận một thời ở đó, cũng như ở các trung tâm Hoa học của các đại học trên thế giới, vì sách viết về nhiều chuyện có tầm mức quan trọng đến nỗi nó làm người ta phải xét lại lịch sử cổ đại Trung Hoa mà, qua các triều đại, các sử gia đã cương ẩu hơi nhiều. Ngoài ra, trong sách có một chi tiết nhỏ: Vua Thần Nông, vị vua thích hoa cỏ nhất của Trung quốc vào cái thời mà tiên nhiều hơn người, đã khuyên các cô gái đồng trinh (xử nữ) nên cài hoa ở hạ địa khẩu, hầu xua đuổi tà thần một sừng, mà chữ Hán gọi là độc giác chi quỉ. Hắn rất ngạc nhiên khi đọc đến đoạn này, nên sau đó đã tò mò đọc các cổ thư, tài liệu khác của Tàu để xem lời khuyên trên vua Thần Nông có cái ý bậy bạ như hắn chợt nghĩ, hay đây chỉ là một món thuốc vườn chống độc trùng mà ngài tổ sư thuốc bắc Thần Nông kê cho các cô mới lớn. Một trong những tài liệu hắn tình cờ đọc được đó là một phúc trình của các nhà khảo cổ Trung Hoa đăng lại trong tạp chí khảo cổ của viện đại học Hương Cảng đề cập đến những khám phá mới về nền văn minh thuộc lưu vực sông Dương Tử. Hắn thấy trong bản phúc trình đó còn có một hình chụp một cái chum bằng đất sét nung có chạm nổi hình một đoàn thiếu nữ vén váy qua khe, có cô ôm bầu trái, có nường ngậm hoa gạo ngang miệng, và dưới hình chạm còn lờ mờ hàng chữ viết bằng cốt giáp tự: xử nữ quá giản – gái trinh qua khe. Hắn suy nghĩ không biết chuyện ngậm hoa gạo ngang nơi miệng của các nàng gái trinh này và chuyện cài hoa ở hạ địa khẩu theo lời bảo ban của ngài Thần Nông kể trên có sự liên quan nào chăng; hoặc giả chuyện ngậm hoa gạo ngang nơi miệng như thế chỉ là một tín hiệu của các nàng đã tới tuổi cập kê gởi các chàng tài tử phong lưu.

Và thỉnh thoảng hắn cũng được mời nói chuyện trong một số chương trình truyền hình tạp lục của Anh, nói về những đề tài lẩm cẩm kể trên.

Khoảng một tuần sau buổi nói chuyện cuối cùng, về đề tài hoa gạo trong khảo cổ, hắn nhận được thư do đài chuyển, viết bằng tiếng Anh. Thư có cái văn phong cẩn thận của người ngoại quốc chưa dám phóng bút. Trong thư, vị đó thắc mắc một câu có hơi ngoài lề: Tại sao ông Trực là người Việt Nam qua Mỹ tị nạn – giống dân mà người nào trong đầu cũng đều có một ông vua – không chọn học những ngành hái ra tiền mà lại chọn cái ngành, thứ nhất, tốn nhiều thời giờ để học cho tới nơi tới chốn, thứ hai, lại là cái ngành chuyên phủi bụi thời gian như thế. Hắn đọc thư, tự nhiên lên đồng, viết thư trả lời ngông: Chẳng qua vì hoa gạo ven sông; và sợ người viết thư không biết cây gạo là gì, hắn còn chú thêm tên cây bằng tiếng La tinh cho đúng bài bản, và còn giới thiệu cuốn Cây cỏ Việt Nam  của Phạm Hoàng Hộ, và cuốn Thực vật Á  châu Nhiệt đới của James Lin để xem cho tường.

Thư đi đã lâu mà hắn chẳng nhận được một lời phúc đáp bình phẩm gì về lá thư, nhưng rồi hắn cũng quên như đã từng quên bao nhiêu ngông ngạo trong đời. Và hắn nghĩ người gởi hẳn cũng hối tiếc cho cái xốc nổi vô ích tốn thời giờ của mình, vì đã mất công gởi thư, mà lại nhận được những lời lẽ mát giây như thế.

Trong một buổi họp mặt thường niên của các cựu sinh viên đại học Columbia, toàn ông to bà lớn. Có cả người tận bên Ðài loan, Hương Cảng, và bên Nhật qua. Ai nấy đều hỉ hả. Quần áo lịch sự chải chuốt. Ðỏ rượu chát sum vầy. Họ là những người thành công, những kẻ bận rộn với cái hiện tại ngon lành của mình và cũng muốn thông báo cho mọi người biết cái ngon lành của mình dưới những bộ dạng, lối nói đầy khiêm tốn. Hắn cũng là một người đã tốt nghiệp nhưng không thành công được như họ. Vẫn chiếc quần jeans, áo sơ mi rẻ tiền và chẳng được phẳng phiu như những tờ cổ thư hắn chỉnh lý. Hắn là con người của những cổ bản hơn là cổ phần.

Xôn xao tiệc rượu vườn ngoà, cỏ cây xanh nõn một màu, nhưng đằng góc vườn đứng bơ vơ một cây du Nhật Bản mỏng manh lá đỏ. Ðỏ rượu chát sum vầy, máu bầm lữ thứ. Và xuân tuy mới sang, vậy mà lá du chưa chi đã đan kín cành, nhưng lá còn mềm, chưa cứng đủ để lao xao tiếng loài người, ví dụ, “Chào… anh cây gạo.”

Huống hồ còn bằng giọng Sài Gòn ngọt ngào.

Lại càng là chuyện không thể.

 

Oslo, 02. 07. 02

 

(1) Ðêm qua thu…: Nguyên bài thơ với tựa đề Thu, của Huy Cận: Hôm qua thu mới về, Với một cành hoa gẫy Sương nặng gieo đầu tre, Lạnh tràn theo gió đẩy / Thu tới trong vườn bên, Ngợ ngàng màu cúc mới. Ðêm qua bên láng giềng, Êm tựa nhàn thu tới /  Cô gái nhỏ thung dung, Qua miếng vườn hoa nhỏ. Ðất nằm im dưới cỏ,  Hoa tạ màu nhớ nhung. (Thi sĩ Bùi Giáng, trong cuốn Ðường đi trong rừng, cho bài thơ này là bài thơ mùa thu hay nhất trong nền văn chương thế giới.)

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Văn Thà

https://i0.wp.com/a9.vietbao.vn/images/vn899/150/2018/06/20180622-me-hoac-ve-dep-cua-co-nguoi-mau-da-den-nhu-than-1.jpg

Trực được cha mẹ thương nhiều. Thương nhiều, và thương khác thường, vì anh là con trai một, và cũng vì cuộc đời anh nhiều gian nan.

Khánh Hội vốn là nơi quần tụ của những tay anh chị. Sau năm 75 lại còn  là nơi lẩn trốn của những thành phần có tội với nhà nước; thường là những tội chẳng liên quan gì đến chuyện lật đổ chính quyền: tội hình sự, trốn kinh tế mới, vượt biên không lọt. Trực phạm vào loại tội cuối cùng, cũng vào trốn ở đó.

Trước đó Trực cũng đã cố lẩn tránh trong các khu rẫy hẻo lánh của người quen ở Long Khánh nhưng không ổn, vì những con mắt bao dung hiền lành của dân quê bao thủa đã thoái hoá bởi cái chính sách hộ khẩu vô nhân của nhà nước mới. Rồi vào ở đại nhà bà cô ở quận Một, Sài Gòn, cũng không yên với những con mắt thị thành. Những con mắt trần gian1. Cái chế độ kiểm soát đường đi nước bước của người dân như những vòi bạch tuộc khổng lồ vươn ra cả nước. Nó xoi mói, nó bóp nát con người.

Nhưng ở Khánh Hội cái vòi bạch tuộc gớm ghiếc đó bị tê liệt phần lớn. Một phần vì công an khớp, một phần các tay anh chị xem ra bận rộn vì những chuyện khác ngon lành hơn là chuyện tâu trình. Và đấy cũng là nơi sinh sống của những người dân hiền lành bình thường như gia đình ông y tá Ðức, gia đình cô gái đối diện nhà ông…

Nhà ông y tá Ðức là một loại nhà sàn khá tươm tất cắm trên một đám sình bên đường cùng với mươi cái chòi xập xệ chung quanh. Nhà ông lan can nho nhỏ,  cái bằng tre khá nghệ thuật. Ở một góc gần cửa ra vào, chổ nối liền với cây cầu nhỏ khum khum vươn ra đằng ngõ hẻm, đặt một chậu hoa giấy cao cả thước; lá trốn đâu hết, cây cành kết kín bằng muôn trái tim hồng he hé; ngàn cánh hoa nhẹ nhàng thanh khoái như những lá tình thơ đầu đời của những nàng thiếu nữ một lần ghé qua cài lại. Phía trên chậu hoa, lủng lẳng một bảng hiệu vuông, đã nhạt màu, có vẽ hình chữ thập đỏ chiếm gần hết bảng, và dưới chữ thập đỏ là hàng chữ: Y tá Trần Hữu Ðức, 25 năm  kinh nghiệm. Chữ viết nghiêng, màu xanh lơ đậm, khá mỹ thuật của những bảng hiệu ở Sài Gòn trước kia. Nhà ông xinh xinh như một nhà mát ven hồ.

Trực nghĩ các người sống trong những mái nhà sàn này chắc là đã quen với mùi sình, nếu không thì làm sao người ta, như ông y tá Ðức chẳng hạn, có thể sống ở đây ngày này qua ngày khác, đã thế còn đủ ung dung để chăm bón được một chậu hoa giấy thơ mộng như vậy. Lúc Trực còn lóng ngóng trước cầu khỉ tính vào nhà ông y tá để nhờ chích thuốc lao, anh còn nghe được cả tiếng ca vọng cổ mùi rệu từ nhà ai cuối đầm: Mười năm tình cũ dìa đây  Ðầm sen hương  mới  anh Hai cưới nàng  Tình tang ơi ới tình ớ tang Sen bao nhiêu cánh thương nàng bây ầy ấy nhiêu… Và có cả tiếng cô nàng nào đó đang hát tân nhạc, nhạc Trịnh Công Sơn, nghe đâu như: Mùa Xuân yêu em  Ðồi núi thênh thang Hồ nước long lanh ngàn cánh vàng.

Rồi Trực, cũng như họ, quen dần, và sống ở đó được cả sáu tháng. Gần chục năm nay, có thể nói đây là thời gian êm đềm nhất của Trực. Êm đềm vì không phải lo lắng gì chuyện cư trú, dù chỉ là tạm trú.

Chính ông y tá Ðức, sau khi chích mũi Streptomicine, bắt đầu rà rà hỏi chuyện Trực, và khi biết anh cần một nơi ở tạm để trị bệnh, ông cười hề hề:

“Cậu cứ ở đây với chúng tôi, vụ hộ khẩu khỏi lo.”

“Sao mà ngon lành quá vậy!? ” – Trực kêu lên, sướng như hồi nhận được giấy phòng thích hai năm trước đó.

Nói như thế quả không ngoa chút nào cả. Vì lúc trước, tuy phải ở trong tù lâu năm, nhưng những  năm dài trong vòng giam hãm của những con người đại diện cho một chế độ chủ trương và áp đặt một  ý thức hệ tồi tệ nhất trong lịch sử văn minh loài người, Trực đành chấp nhận nó như một thiên tai. Nhưng khi được thả về, lòng Trực vẫn còn hy vọng, không phải về cái ăn cái mặc mà Trực biết đã tả tơi lắm rồi, nhưng ít nhất về những cái cội rễ làm nên con người vẫn còn đó, dù có phôi pha. Thế mà, khi về  quê, Trực bàng hoàng nhận ra là niềm hi vọng về một nhân tính tương đối như thế cũng chỉ là ảo vọng. Những người quen, những người chòm xóm của anh, trước đây tắt lửa tối đèn có nhau, nay làm cái chuyện tố giác người khác một cách rất tự nhiên. Nhiều người đã biến hình như thế. Quá nhiều. Ðấy là lý do làm Trực phải trốn chui trốn nhủi mấy năm nay. Phải chăng bốn tên trảo nha đóng chốt ở xã Bình Trị của Trực, chỉ trong vòng mấy năm, đã thành công trong việc đập tan cái lòng nhân ái mà tổ tiên bao đời ra sức dạy dỗ, bồi đắp? Có  còn gì để mà tin vào tính bản thiện của con người được nữa không?

Vậy mà chỉ sau mấy tháng ở quận Tư Khánh Hội, Trực cảm thấy dần dần tin yêu lại con người. Anh ở đấy sáu tháng, không một lần bị hỏi hộ khẩu. Nghĩa là những tay du đãng, những chị bán dâm, dân xích lô, chợ trời, chẳng ai hơi đâu đi làm cái chuyện đâm thọc, dù họ biết dư anh chàng thanh niên ở trong nhà ông Ðức, không trốn nghĩa vụ, trốn kinh tế mới, cũng trốn vượt biên. Y tá chích thuốc đâu mà chẳng có, việc gì mà phải tốn tải  ăn ở nhà ông Ðức y tá tay ngang!

Nhờ tiền công chích thuốc, tiền thuê nhà (thuê giường thì đúng hơn) Trực trả, ông bà Ðức có thêm một lợi tức nhỏ để đủ mua ngày vài lon gạo mốc, dăm mống cá nhỏ, một bó rau muống, và một bó que củi bần nằm lọt trong lòng tay. Trực còn là người để ông quảng cáo cho các bệnh nhân khác tài nghệ chích thuốc của ông: “Cái anh Trực này bằng này cấp nọ cũng chịu là tui chích hay…”  dù Trực chẳng bao giờ nói về cái thành tích học vấn vốn  chẳng có gì đáng hãnh diện của mình. Chắc có lẽ vì đôi kính cận, vì cái thói hay đọc sách.  Và xem ra cũng vì thế mà con nhỏ nhà bên kia đường hay lảng vảng trước thềm làm ra cái vẻ đứng hóng mát nhìn qua nhà ông Ðức.

“Bà Ðức ơi, con nhỏ nhà trước mặt tên gì vậy?”

Ông Ðức đỡ lời ngay:

“Người ta con nhà cách mạng, con cán bộ gộc nằm vùng đó ông! Con nhỏ tên là Phượng Vân, đang học trường cao đẳng nghệ thuật thành phố. Nó cứ bị tụi trong xóm gọi là “Vân Mát”. Có lẽ vì cái tính nó cứ hay nói những chuyện tàng tàng không giống ai. Ðang học, bỏ ngang… Gì thì gì,  đừng có xớ rớ mà chết đó nghe ông. Ông như cá nằm trên thớt.”

Bà Ðức cười:

“Cứ gì mà phải vướng vào cô ấy. Mù loà đã lâu như tôi mới thấy rằng tấm lòng mới đáng quí. Như con nhỏ Dên Ðen thỉnh thoảng qua giúp nấu cơm nấu nước cho chúng tôi đó! Nó thật tốt; mà bơ vơ tội nghiệp. Cha thì đã đành rồi, còn mẹ, mà mẹ bỏ đi đâu, cả năm sáu tháng giời nay chưa về. Hay là mình nói với nó nấu nướng giúp cho cậu ấy, rồi cậu giả công cho nó.”

 

Ðêm đã sâu lắm, những thoáng gió khuya mát lành, nhẹ nhàng như những vạt áo lụa vô hình rón rén lướt qua khu phố loài người lúc này đã xếp lại cái nanh vuốt của mình. Cái sột soạt của gió làm cho đêm càng thêm yên ắng. Ðường phố nhỏ bày ra những đìu hiu thường tại mà nắng ngày lấn át mất tăm, cái đìu hiu nẻo về quê cũ mà thị thành tàn nhẫn xua đi.

Ðàn bò vào thành phố, đêm buồn vắng buồn hơn  Ðàn bò vào thành phố, không buồn ai hỏi thăm Ðàn bò tìm giòng sông nhưng giòng nước cạn khô Ðàn bò bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn Rồi một hôm đứng mơ mây ngàn…2

“Ðêm khuya khoắt mà ai đang hát!?”

“Em, em đang hát về những lạc loài muôn kiếp nhân gian!”

“Mà cô là ai ?”

“Em là anh… anh… anh… anh…

Và anh cũng là em… em… em… em…”

Nghe  như vọng âm  dội về  từ Ba Ngàn Thế Giới.

Rồi tình âm lọt thỏm về Vô.

 

Ðài truyền hình CBS độ rày hay thực hiện và trình chiếu các chương trình về Việt Nam thời hậu chiến, một cuộc chiến mà họ kiếm được bộn bạc, và giờ còn muốn kiếm thêm nữa. Ðó là chương trình về các cựu chiến binh Hoa Kỳ đang lâm vào cảnh khủng hoảng tinh thần, sa đọa nghiện ngập; hoặc về những chuyến đi thăm lại chiến trường khủng khiếp mà thủa thanh xuân họ đã phải trải qua, hối hận khóc lóc, cạnh mấy anh nón cối hom hem gân cổ tung hô thần thánh.

Hoặc những chương trình về các con lai Mỹ.

Phim có đoạn chiếu cảnh các cô gái Việt lai Da đen đang làm việc trong các xưởng lắp ráp điện tử, hoặc trong các viện bào chế dược phẩm. Cô nào cũng áo khoác làm việc trắng tinh, mủ trùm đầu cũng trắng, có cô còn đeo cả kính cận, trông ra cái vẻ giai cấp tiên tiến cùng mình. Họ nói tiếng Mỹ giọng vẫn còn lanh canh tiếng rao hàng gánh; và tiếng cười họ trong trẻo, mà dù có kiểu cọ  mấy, cũng vẫn không dấu đi đâu được cái gốc con cô Bảy, thím Ba. Có kẻ thành công có, nhưng cũng có kẻ thất bại.

Rồi tới khúc phim giữa, trình chiếu một người mẫu đang nổi tiếng người Việt lai Mỹ đen Black Lotus. Cứ theo lời bình luận của chủ nhiệm tạp chí thời trang Idol, vốn là một nhà văn làm phóng viên ở Việt Nam lâu năm, thì nàng có thân hình hấp dục của những loài mãnh thú cái Phi châu, nhưng đôi mắt nàng là đêm sao xứ Việt, và người ta có thể nghe từ trong đôi mắt ấy tiếng sóng Biển Ðông u uẩn niềm riêng.

Khúc sau chiếu cảnh gia đình êm ấm của kiều nữ Black Lotus. Có tiếng nhạc Jazz thấp thoáng dấu chân du mục. Nàng cười an lành cạnh anh chồng người Việt  da vàng. Và nàng tựa má lên đỉnh đầu chồng mình, tay phải vòng qua ngực chàng và bám lấy cổ chàng như gìn vàng giữ ngọc. Phóng viên còn cho biết thêm: Chồng cô làm nghề quản thủ thư viện, lương chỉ bằng một phần năm mươi của Black Lotus; hai người đã có một con trai, tên cháu là Truc; Truc dịch ra tiếng Anh có nghĩa là Integrity, mẹ cháu cho biết thêm như vậy.

Cuối thu. Trực còn hai tuần nghỉ phép chưa đụng tới. Con nhỏ đốc công cứ hối Trực đi nghỉ để cho cô ta dễ thu xếp nhân lực cho mùa Giáng sinh bận rộn nhất trong năm.

Và, sau khi đã gởi tiền về giúp người thân ở Việt Nam, cái nợ lòng cả năm nay coi như thực hiện xong, Trực cảm thấy thanh thản. Và cái thanh thản đó biến thành lâng lâng lúc Trực bấm máy biết trong trương mục cũng còn kha khá, rồi cái lâng lâng đó trở thành sung sướng, khi thấy số tiền đó đủ cho anh làm một chuyến du lịch, du lịch sang Nga!

Hồi ở Việt Nam, Trực đã mê mùa thu Nga La Tư qua những bức tranh vàng rượm màu thu thần thánh với nét cọ hào phóng của Levitan, in lại trong những cuốn tranh giới thiệu các danh hoạ Nga anh mua được ở nhà Fahasa. Mới đây lại đọc được mấy bài ký Nga du của PPM; tác giả viết về đá Nga thiệt hay. Rồi chợ Vòm ở Mạc Tư Khoa, cái chợ mà, qua bài viết của một người đã từng lăn lộn ở Nga, cho thấy cái sức sống mãnh liệt của Con Người Việt, cái giống người, như loài lan rừng, chỉ cần một chút vỏ cây mục, hay một hốc đá, và một chút ánh sáng là có thể sống, lại còn vươn lên đẹp đẽ. Và rồi những giáo đường củ hành danh tiếng. Công trường Ðỏ, điện Cẩm Linh. Ấy là chưa kể cái xác của ông Lê Nin, cũng nên xem cho biết, để xem cái xác đó là xác thật hay chỉ là búp bê bằng sáp như lời đồn đãi về cái thi hài hiện nay của người học trò kiệt xuấ tcủa ông, ông HCM.

 

Mạc Tư Khoa cuối thu linh thiêng lắm! Cái linh thiêng của trời biếc, của màu thu phô ra lần chót trước khi bước vào cửa tử.

Những ngày như thế không gì thích hợp cho bằng đi thăm những nhà thờ củ hành với cái lối kiến trúc nhắc về một cõi huy hoàng siêu việt, mà con người hoặc hờ hững, hoặc chối bỏ, nhưng chốn vĩnh hằng ấy vẫn kiên nhẫn chờ mong.

Nhà thờ của tu vịện Chúa Ba Ngôi, bắc Mạc Tư Khoa, lộng lẫy trong trời xanh độ lượng nắng tơ ươm, với những chóp đỉnh vươn lên tràn trề sức sống hiến dâng như những bầu vú vun tròn của Bà Mẹ Nga rộng rãi ban tặng cho con cái mình giòng sửa sung mãn từ những cánh đồng Nga đất đen màu mỡ lúa khoai.

Mới sáng sớm mà trước nhà thờ đã nhiều du khách, có cả du khách đầu đen châu Á. Chắc là người Nhật, (cứ nhìn cái kiểu lúc nào cũng cứ lăng xăng chụp ảnh cũng đủ biết) , ngoại trừ một thiếu nữ đang đứng yên lặng ngắm nhà thờ; cô như đang uống cho bưa cái tuyệt vời của công trình con người đang giao hoà với vẻ rỡ ràng Tạo Hoá. Trực bỗng nãy ra cái ý định làm quen. Biết đâu lại xảy ra nhiều chuyện hay: Hỏi cô ta về mùa thu Hoa Cúc Phù Tang; và biết đâu lại được nghe những bài hài cú mong manh lá thu, xót xa sương núi. Why not?  Và biết đâu chừng -Trực cười nụ – tơ vàng nhân ngãi lại có dịp trói đời hai người! Vì mùa thu là mùa của kiếm lạnh ghê người chặt đứt mọi phồn tạp lá hạ, thu về những mạch sống chưa chung.

“Con ni chi wa! Anata wa Ni hoóng dìn đề xừ cá?”  (Chào cô, cô có phải là người Nhật không?)

Con nhỏ người Nhật xoay lại, sững sờ nhìn Trực, và kêu lên bằng tiếng Việt, lại còn chơi luôn một hơi giọng Sài Gòn, gấp gáp như trời sắp sập đến nơi:

“Trời ơi, có phải anh Trực đó không? Em là Phượng Vân, ở Khánh Hội, nhà trước nhà ông y tá Ðức hồi đó đây… Anh là Trực đây mà! Gặp anh mừng ghê… Anh Trực biết không, em linh tính thế nào cũng gặp lại anh… Mà anh ở nước nào sang đây vậy?”

“Vâng, tôi nhớ ra cô rồi… Tôi từ Mỹ sang, mà cô sang Nga từ hồi nào?”

“Em sang đây làm mướn cho người Nga, đã năm năm, sau khi anh bỏ Khánh Hội ra đi mấy hôm. Hết làm thuê rồi. Em có sạp hàng đằng chợ Vòm. Hôm nay bỏ một bữa chợ đi xem nhà thờ.”

“Tại sao?”

” … Tại vì Trời Ðất dun dủi, tại vì em mê môn lịch sử kiến trúc giáo đường Nga… Mà mình ra cái quán cà phê đằng kia nói chuyện cho ấm.” – Rồi bỗng nàng nửa đùa, nửa nghiêm trang – “Và anh Trực nghe đây!”

Trực trố mắt:

“Nghe cái gì?”

“Lần này em không để cho cái phẩm hạnh vớ vẩn nào đó làm tuột anh một lần nữa. Lần này em nhất quyết bắt cho được anh!”

Nàng ăn nói như thể nàng đã viết sẵn kịch bản cho hai đứa, kịch bản về một cuộc đời chung đôi, mà nàng đã viết vụng về khi còn ở bên quê nhà Khánh Hội.

 

Mẩu đối thoại trong quán:

“Phượng Vân nói là Phượng Vân linh tính có ngày sẽ gặp tôi?”

“Em cứ linh tính như vậy, không biết tại sao. Anh biết không, nhiều lúc cái gọi là linh tính cũng có dựa một phần nào đó trên những yếu tố khả thi? Ví dụ em sẽ gởi thư hỏi ông bà Ðức về địa chỉ của anh. Ông bà ấy đã dùm bọc anh một thời gian khá dài, trước khi anh có cơ hội vượt biên. Nếu không có ông bà, biết đâu bây giờ anh đang kẹt trong một trại cải tạo XYZ nào đó. Chẳng lẽ anh lại không tỏ lòng biết ơn ông bà ấy, dù chỉ bằng một lá thư? Và, ví dụ, em sẽ đăng báo tìm anh; anh là con người thích sách vở mà lại!”

“Như vậy là hồi đó đã thương dữ lắm?”

“Chớ sao nữa! Thương trằn trọc, ngày đã đành, mà đêm cứ mãi hé cửa sổ nhìn sang… Và này, anh có biết không… nếu không nhờ em nói với ba em, anh đã bị tóm ngay từ những ngày đầu? Ông Ðức kẹt tiền cứ cho anh ở đại để kiếm chút đỉnh sống qua ngày; chứ Khánh Hội nếu có dễ ở là đối với những thành phần khác kìa, còn anh đã đeo kiếng, đã thế lại lúc nào cũng dại dột cầm sách trên tay…”

“Phượng Vân nói gì với ông ba?”

“Ðất nước mình cần những người cầm sách như anh ấy…”

” ……”

“Sao anh lại khóc?”

 

Mẩu đối thoại ở trong phòng ngủ nhà Trực, Harlem, New York, Hoa Kỳ:

“Hồi đó đêm đêm bộ không thấy người ta nhìn sang hay sao mà cứ ngồi nghe con nhỏ Dên Ðen hát hoài vậy?”

“Biết quá đi chứ, nhưng những đêm ấy anh mê đắm, trầm luân theo tiếng hát của Dên hát những bài ca hoang dại. Nhất là bài Du mục, cô ấy  hát hay diệu vợi, cứ nhắm mắt như thể đang đắm mình xuống tận vực thẳm, như thể uống cho hết cái đắng đót của thân phận lạc loài. Dòng giống của cô ấy vốn là một dòng giống luân lạc từ bao thế kỷ. Cô ấy càng bị bơ vơ trong cái xã hội Việt Nam kỳ thị hiểu theo nghĩa hợm hĩnh, kiêu ngạo thái quá. Ðã thế sau 75, cô ấy giống như một bãi phân trâu trước mắt của những kẻ chiến thắng. Ruồng rẫy. Ðói khổ. Thương quá!”

“Mà anh cũng thích cô ấy chứ, em muốn nói về mặt thân xác? Phải công nhận con nhỏ có cái thân hình thiệt sexy ; thân thể của người nữ Phi châu nó có cái hấp lực của loài mãnh thú, cái hồn hậu thô nhám sáng thế nguyên sơ.”

“Anh có thích đấy! Lúc đầu ông bà Ðức kêu cô ấy đến để giúp thổi cơm cho anh. Nhưng lấy ý tứ mà suy, thì thấy ông bà ấy cố ý muốn tạo cơ hội cho anh quen với cô ta. Cho đỡ buồn! Ðỡ buồn mà chẳng sợ rắc rối, vì cô không phải là một đối tượng đáng gì để cho những người đàn ông con Rồng cháu Tiên dây mình vào. Mà đỡ buồn thật, vì cô ấy đúng là một perle noire5 trong tranh của Gaugin, nơi đồ gốm của Picasso, hoặc trong tiểu thuyết của Pháp… Ðã thế cô còn có giọng hát đầy u uẩn của đêm tù tội, của những nhọc dài kéo lê từ muôn kiếp về.

Thấy anh có vẻ trân trọng cô, cô cảm động thực sự. Và, đằng gì cô ta cũng đang vào lứa tuổi mười tám đôi mươi. Cái tiến trình tình dục là một tiến trình tự nhiên, và phải nói là mạnh mẽ, nhất là cô lại chịu ảnh hưởng di truyền từ dòng giống cha cô.

Thế rồi, một đêm, Dên bỗng ngỏ ý với anh: ‘ Em thế nào cũng đi được theo diện con lai. Anh Trực cưới em đi, cứ làm giá thú với em! Cưới giả cũng được… Qua Mỹ anh bỏ em cũng được. Em biết anh đang bị kẹt. Anh ở đây lâu nguy hiểm!’

Và Dên khóc. Yêu mà không dám mong báo đáp. Những giòng nước mắt bóng tối thương anh…”

“Tội nghiệp con nhỏ! Sao anh không chịu cưới?”

“Thì cũng xui! Có hôm em gái của anh ngoài quê đưa tiền vào cho anh tiêu; bà Ðức vui miệng kể chuyện anh với cô Dên cho nó nghe. Dĩ nhiên sau đó mẹ anh biết được, đích thân đi vào Sài Gòn gặp anh; bà khóc lóc: ‘ Mẹ nuôi con ăn học. Mẹ nuôi con tù tội. Bây giờ lại nuôi con đi trốn. Con mà lấy con mọi đó, mẹ nằm lăn giữa sân mẹ chết! ‘ Vả lại, anh đâu có giấy tờ hộ khẩu hợp pháp để mà làm giấy giá thú. Anh thiệt khó xử hết sức. Còn chưa biết tính sao, thì đùng một cái, mẹ anh cho người vào đưa anh đi vượt biên gấp. Lúc đó Dên lại đang về thăm bà ngoại đâu dưới Vĩnh Long. Thương nhau mà khi ly biệt chẳng thấy mặt nhau.”

“Con nhỏ, mấy tuần sau khi anh bỏ Khánh Hội mà đi, chết dưới sình…”

“Hả! Em nói sao!?”

“Ba em viết thư qua cho em kể rằng mẹ của Dên sau một thời gian dài trở về, không thấy Dên đâu, bà hoảng đi tìm, mà không thấy, thì khoảng tuần sau thấy xác Dên nổi lên trên đầm sình. Có thể cô ấy đã tự tử, nhưng cũng có thể đêm hôm bị té xuống cầu khỉ, hoặc bị ai hãm hiếp rồi giết chết quăng xuống sình phi tang. Ba còn nghe mấy người bán hàng rong kể là có đêm, đi bán về khuya hai ba giờ sáng, họ thấy xác của cô ta  nằm chơi vơi trên đám sen trắng mọc trong đám sình cạnh nhà sàn của cô… Có phải sen nâng cô như đỡ lấy mảnh linh hồn thanh khí?”

” Chao ơi!”

………….

“Em biết không, có một đêm, khuya khoắt yên ắng, đang hóng gió trước hiên, anh nghe có tiếng người nữ hát bài Du mục, anh nghe cả tiếng thì thầm hư huyễn. Sau này, khi đã mặn nồng, anh có kể lại cho Dên nghe, và hỏi đó có phải là tiếng hát, tiếng thầm thì của Dên, Dên lắc đầu không biết.”

“Hồn của Dên đó anh!”

“Vào thời điểm đó Dên đã chết đâu!”

“Kiếp người là quá khứ hiện tại vị lai hiện tại vị lai quá khứ vị lai quá khứ hiện tại…”

“Em nói gì vậy!?”

“…Việt Nam Nga Mỹ Nga Mỹ Việt Nam Mỹ Việt Nam Nga… Chốn nào đi nữa thì tất cả cũng chỉ là sợi tơ nhện ngắn chưa đầy gang, mong manh sợi liền sợi đứt, của cái mạng nhện có tên Ta Bà Thế Giới treo giữa Vô Thỉ Vô Chung.”

 

Oslo, 19. 10. 01

 

(1) Những con mắt trần gian: Tên một bài hát của Trịnh Công Sơn.

(2) Ðàn bò vào…: Trích từ ca khúc Du Mục của Trịnh Công Sơn.

(3) Idol: Thần Tượng

(4) Harlem: Khu phố người Mỹ Da Ðen.

(5) Perle noire: Ngọc trai đen, đặc ngữ người Pháp hay dùng để chỉ những người đàn bà đẹp Da đen.

(6) Ta Bà Thế Giới là cõi Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới, gồm Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, Ðại Thiên Thế Giới; và mỗi Ðại Thiên Thế Giới có 1000 Trung Thiên Thế Giới; mỗi Trung Thiên Thế Giới lại có 1000 Tiểu Thiên Thế Giới = 10003 thế giới = một tỷ thế giới. Từ ngữ Ba Ngàn Thế Giới” hoặc “Thế Giới Ba Ngàn” dịch từ đó. Ngoài ra “Ta Bà” còn có những nghĩa khác (theo Từ Ðiển Phật Học của Ðoàn Trung Còn) .

Nguyễn Văn Thà

https://i1.wp.com/www.vnnphoto.com/forum_vnnphoto/gallery/9-030412194858.jpeg

*Amore somnoque gravata

et vestibus versicoloribus:

Trỉu nặng tình ái cùng ngủ nghê,

và áo xống thì đủ màu đủ sắc .

                         (?)1

** Người nô lệ da vàng ngủ quên

 trong căn nhà nhỏ;

đèn thắp thì mờ.

Trịnh Công Sơn

 

Quê hương ai mà chẳng muốn trở về. Cổ kim thơ bàng bạc những khói sóng mây trắng, những rau dền mắm ruốc. Ôi, những thứ đó, xa rồi mới nhớ! Mà tại sao lại nhớ? Trời Tây nầy cũng mây bạc, khói sầu; và quán kẻ Nam nào chẳng rau mắm đầy dư? Vậy mà lòng vẫn cứ nhớ. Ấy là nói cái lòng nhớ quê hương yên ả bình thường, nhưng một khi mảnh cố thổ ấy xác xơ, tàn lụi, cái lòng nhớ ấy lại pha thêm nỗi ngậm ngùi. Càng xác xơ lại càng ngậm ngùi. Có kẻ đâm ra giận phường bạc ác, hăm he xé xác; có kẻ chạy quanh kiếm tiền để về; nhưng cũng có kẻ chỉ biết chảy nước mắt, xót ruột.

Và giống như tình yêu đôi lứa, tình đất nước làm cho khách đa tình sầu vô kể. Khốn cho ai ôm một lượt hai thứ ấy vào lòng. Cái anh chàng Trực phải sầu ngất ngư, vì cả hai thứ ấy có lúc đã hè nhau đổ vào hồn mỏng chàng muôn vàn đấu hào quang. Hai mươi năm rồi mà vẫn chưa tha. Ða tình đa lụy. Cho nên mới “Nhị thập niên xa mã, Hạc hoàng nguyệt khổ căn: Hai mươi năm xe ngựa,  Trăng vàng hạc còn đau.”

 

Chùa Lá Dừa nằm trên một ngọn núi cao khoảng ngàn mét trông ra biển lớn. Thực ra chùa tên Lá Dừa nhưng chùa xây bằng gạch; có cả chùa trên lẫn chùa dưới. Chùa có cái nét kiến trúc đơn sơ, màu chìm, vốn là nét đặc trưng của nền kiến trúc Việt Nam. Chùa không làm cho khách vản cảnh phải mệt mắt, chẳng phồn tạp sắc màu làm ta phải phân tâm chia trí, tâm viên ý mã loanh quanh. Ở đấy đã nằm sẵn Con Người. Ở đấy đã bàng bạc Chân Như. Người vào đấy mà tắm gội nguồn sinh. Ta chỉ vào đấy để bắt lại sự  sống. Chùa đã có những vị cao tăng trụ trì, mải tới giờ phương danh còn đọng lại. Ðặc biệt vị sáng lập chùa có vẻ lập dị, vì nhìn bức vẽ truyền thần của ngài, thấy ngài không khoác tăng y mà lại mặc áo dài Việt Nam, cài tả nhậm và bới tóc củ tó; sắc mặt diễu diễu và cả những nếp nhăn cũng mềm mại, chứ không quả đoán, nghiêm nghị, rối rắm gãy nếp như những vị kế nhiệm; nhất là những vị đời nay. Chùa là một thắng cảnh nức tiếng gần xa, nhất là từ khi chùa có được một tượng Phật nằm dài hơn ba chục mét. Ngoài ra ở đấy còn có văn bia cổ, và rất nhiều hoành phi, câu đối. Thứ thì khắc vào cột chùa gỗ lim, thứ thì ẩn hiện trong những bức hoành tráng sơn son, thếp vàng, hoặc do những mảnh đồ gốm bể ghép lại.

Kỳ ấy vào tháng Ba, tháng Tư, miền Nam nước Việt trời chuẩn bị vào mùa mưa, nên trời khô và bầu trời xanh vô chừng. Trung đội biệt kích của Trực, sau mấy tháng vất vả rừng sâu cao nguyên lại được về tiểu khu Bàu Tó nghỉ quân, và được điều lên đóng cạnh chùa. Không hẳn là nghỉ quân, vì trung đội còn phải trấn thủ vòng ngoài cho một đài ra đa đóng phía trên chùa. “Tôi được bên hải quân thông báo cho biết là các anh sẽ về nghỉ quân và nhờ các anh coi chừng vòng ngoài dàn ra đa. Tiện đây ban chúng tôi cũng nhờ các bạn theo dõi xem nhà chùa có kiếm cách tiếp tế cho tụi nó không. Tôi đã nắm được một số nguồn tin là cứ hằng tháng nhà chùa cấp cho tụi nó ba tạ gạo. Phải tìm cách triệt, dù đó là tự nguyện hay bị bắt buộc nộp để sống còn. Tôi cũng biết là đại tá tỉnh trưởng phải làm ngơ cho mấy thầy. Vì sợ mấy thầy. Ðánh đấm dấm dớ như vậy đó, thiệt nản hết sức! Chẳng có gì đáng ngại đâu, trung úy! Chỉ có mấy thằng du kích lèn quèn, nên các bạn vẫn có thể xả hơi được… ” – Ðại úy Trung, bạn Trực, trưởng ban Hai tiểu khu, cựu  hiệu trưởng một trường trung học Bồ Ðề, cho biết như thế.

Trực khi không triết lý lan man:

– Thì cũng tại cái óc dân mình nô lệ đã quen nên mới có cơ sự như thế! Thói kính trọng quá đáng các vị tu hành làm tê liệt đi cái lý trí độc lập vốn dĩ là dụng cụ số một để xây đắp một nền văn minh đúng nghĩa… Ở Việt Nam chưa ai dám nói: Chúa đã chết, Phật đã đổ. Thoạt đầu, và ngày nay còn một số người ở trời Tây vẫn còn dè bĩu câu nói sấm sét kiểu đó của Friedrich Nietzche, nhưng đa số cũng dần dần hiểu đó chẳng qua là một câu nói nhằm thức tỉnh lý trí con người ra khỏi cơn mê muội mà đủ loại thẩm quyền phủ trùm lên bao thế hệ. Người dân mình còn bị những thứ uy quyền đó đè nặng, mà không hay, có khi còn tán trợ nữa là đằng khác.

Trung nhập giòng một cách tự nhiên:

– Trái lại tôi thấy người Tây phương họ đã thức tỉnh, đã nhận ra được vị trí của họ trong xã hội, tuy rằng đôi trường hợp dẫn đến quá khích. Ðiều quan trọng là bắt đầu lấy lại cái tự do căn bản ấy, đó là sự suy nghĩ độc lập, cái đã. Rồi từ từ các luồng suy nghĩ khác nhau sinh ra bởi lối suy nghĩ độc lập sẽ điều chỉnh lấy nhau… Những điều chỉnh ấy diễn ra trong một thời gian cụ thể, trong những môi trường cụ thể, bởi những con người cụ thể…  Nếu có cái nhìn rộng lớn, cuộc chiến hiện tại là hậu quả của việc người Tây phương đã xử dụng vụng về cái lý trí độc lập ấy… cho nên họ lại rơi vào một thế lực khống chế khác, có khi còn tàn bạo hơn những thế lực hiện diện trước, trong thời của Nietzche. Và những người lãnh đạo đầu óc nô lệ của nước mình cứ tối mặt đâm đầu vào bất kể.

Sai lầm mới là người. Phải đau đớn thôi! Có người gọi đó là cái bi tráng của kiếp người, có người gọi đó là vô duyên cắc cớ. Nhưng tựu trung có lẽ món quà tặng tuyệt vời con người có được chính là cái khả năng suy nghĩ độc lập ấy.

– Tôi thấy hình như anh muốn nói đến biện chứng pháp, mà lại có pha chút vị Thiền, ít nhất là loại Thiền nhập môn mà tôi đọc trong cuốn Vào Thiền của Thích Ðại Chiếu!

– Cuốn đó (và các cuốn sách sau này) của ông là một loại “sách gia dụng” kiểu Sách Dạy Nấu Chay của bà Triệu Thị Chơi vậy thôi! Thôi cũng được đi, ít nhất ở phần đầu với cái phần thiền trong mỗi giây phút! Nhưng khi bắt đầu bàn tới những địa hạt tương đối thâm sâu, thì tác giả lại bắt đầu dùng một lô từ ngữ Phật học chữ Hán khó hiểu, rồi trộn thêm một mớ Pali, Sankrit phiên âm ngang dọc. Tư tưởng thì rối rắm, lối viết của những người chắp vá những mảng văn mượn của tác giả nước ngoài, mà lại dịch không trơn tru, vì tác giả không nắm được ngôn ngữ của văn bản, và cũng không nắm vững kiến thức về vấn đề mình đang khai thác… Dân quê mùa nghèo khổ chẳng ai quan tâm loại tư tưởng kiểu đó, nhưng cái lớp làng nhàng chữ nghĩa trung lưu lại hay thích, thích rồi mê loạn. Cái lớp này mới là đáng sợ. Bởi họ cũng lại là giai cấp “thầy”, mà lớp quần chúng dốt nát lại hay khúm núm, nể trọng họ; đại họa một phần từ đó mà ra…

Ấy là chưa kể các bản dịch kinh Phật dịch rất tồi, lại đầy dẫy chữ Hán, rất nhiều trường hợp không cần thiết; chính tôi đây mỗi khi đọc kinh Phật lại phải ôm từ điển mà tra, phải phân câu lại mà đọc. Huống gì dân không đi học; họ cứ thế mà tụng; tụng mà chẳng hiểu gì, hoặc hiểu lộn xộn. Cứ tụng riết loại kinh bản như thế, trí óc họ dần dần mê muội tê liệt, thành một loại âm binh cho các tay giảo hoạt như Thích Ðại Chiếu, hoặc bọn trí thức rỡm điều khiển.

Và, ở Ta cũng như ở Tây, bọn trí thức nửa mùa đó học Thiền có khi như theo một cái mốt thời thượng, và cũng có khi vì cần để lấp đầy một khoảng trống họ thiếu, họ cần. Ðã thế Thích Ðại Chiếu, khi bí, xoay xở tạo ra một lối trình bày tư tưởng u u minh minh về những lý thuyết của các đấng u u minh minh. Vì u hiển, kinh hãi vốn là nguồn mạch của sùng kính, nên không lạ gì nhiều kẻ theo ông ta. Nhưng cái điều tai hại cho dân tộc mình là khi ông mang cái kiến thức dở sống dở chín ra mà làm chuyện quốc gia đại sự… và biết đâu sau này lại chẳng le te dạy khôn thế giới với mớ kiến thức bát nháo đó.

Trực cười nụ:

– Ngoài kiến thức bát nháo như anh nói, tôi còn nghe nói Thích Ðại Chiếu đã phá cái xuất thế tục chi giới , một giới quan trọng làm nên tăng sĩ; nó làm cho bá tánh kính trọng các thầy, nhờ đó các thầy có một vị thế mà dạy dỗ, hô hào. Nếu phá giới thì thầy cháy, thầy như con số không, thế mà thầy Ðại Chiếu vẫn cứ phây phây là vì sao?

– Tình báo họ nắm được tin tức cụ thể, cả tên tuổi của người tình của thầy Ðại Chiếu, những chuyến đi đêm của thầy, nhưng chính phủ cũng chẳng làm được gì, vì ông ta là một tay giảo hoạt, mồm mép, và vì thiện nam tín nữ đã quá mê muội rồi! Chính phủ khó xử, phải e dè, kẻo lại bị mang tiếng là bôi nhọ, đàn áp Phật giáo như những lần trước…

Trực thở dài:

– Thế mà trong nước ông ta vẫn được các Phật tử, và đặc biệt được sinh viên học sinh kính trọng như anh nói thì đã đành, ngoài nước người ta còn tôn xưng Thích Ðại Chiếu là chiến sĩ đấu tranh cho hoà bình.

– Trực biết đấy: Thì cũng vì ở Tây Phương cái lớp trí thức làng nhàng kể trên có nhiều. Cứ xem cái chuyện ông ta cứ đòi hoà bình, cứ đòi hoà hợp hoà giải dân tộc với cái Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và người Tây đang hùa theo cũng đủ biết. Cái tổ chức này, như có ông nhà báo đã phân tích: “Ngay một người với kiến thức bình thường cũng biết là từ nhân sự, phương tiện, và tổ chức nhất nhất đều do Cộng sản Hà Nội sắp đặt. Và hàng ngày ai cũng thấy rõ mỗi ngày hàng ngàn tấn khí giới cùng với hàng ngàn lính Bắc Việt theo đường mòn HCM xuôi Nam không phải để đi chơi.”

Rồi nữa: Ông ta gắn cho Cộng sản cái những tính chất như hoà hợp, hoà giải, là những tính chất Cộng sản không thể có. Làm như thế chẳng khác gì ta cho “Trí nhớ thì màu xanh3” hay “Vua César là một số nguyên tố” vậy. Cho nên ông kêu gọi hoà hợp hoà giải có nghĩa là chỉ có miền Nam hoà hợp hoà giải một mình, là ngưng chống lại Cộng sản, để cho Cộng sản làm gì thì làm. Mà Cộng sản là ai, là như thế nào, chẳng lẽ ông ta lại không biết? Hay ông ta lại là người không tưởng? Tìm kiếm một Niết bàn cho dân tộc bằng đường lối Cộng sản, và không muốn cho người miền Nam nắm bắt lấy cuộc đời mình từng giây từng phút như ông kêu mời? Một vua Trần Nhân Tôn, thiền sư thứ thiệt, định hàng quân Nguyên cho dân khỏi khổ, thì một Trần Hưng Ðạo rất tỉnh thức, đã đạt- đạo Ðời: “Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng mà Tông Miếu, Xã Tắc16 thì sao?” Nếu không thì nước mình đã trở thành như nước Tây Tạng từ khuya rồi!

Rồi để cho cái màn phản chiến phản quốc của mình có trọng lượng, ông lại đem ra cái thuyết vô nhị mang tính siêu hình, hình nhi thượng, để cổ võ chuyện đạo đức hình nhi hạ như tha thứ, hoà hợp, chín bỏ làm mười, kiểu I can not take sides chống lại tên hiếp dâm, cũng không ủng hộ bé gái 12 tuổi bị hiếp và sau đó bị giết chết, như trong bài thơ My True Self  của Thích Nhất Lang4.

Cái thuyết vô nhị ởm ờ, với cái lối minh hoạ phi luân, amoral, theo kiểu đó của ông ta, nếu có đúng tuyệt đối đi nữa, thuyết đó sẽ mang tính phổ quát, và nó chỉ có trong thế giới Lý Tưởng; còn Con Người nó còn bận rộn, nó còn phải vật lộn với cái hiện sinh cụ thể của nó tại thế này, nó đang “thiền”, nó đang xoay xở điều chỉnh, và nó phải hành động, và hành động như thế nào là tùy nó ý thức cuộc đời cụ thể ra sao. Nó có cái nhìn về cuộc đời như chính Thiền Lão thiền sư : “Ðản tri kim nhật nguyệt. Thùy thức cựu Xuân Thu? – Sống ngày này biết ngày này. Còn Xuân Thu trước ai hay làm gì ? “ Không nên đưa cái tri thức cuộc đời xưa cũ để giải quyết những vấn đề hôm nay, trong giây phút hiện tồn. Cái ý đó mà Thiền Lão đã thưa với vua Lý Nhân Tông, cả ngàn năm sau, Krishnamurti (mà nhóm trí thức Phật giáo thân Thích Ðại Chiếu rất ưa chuộng) , nói đi nói lại trong mấy chục cuốn sách của ông.

Tôi biết chắc là con người hành thiền thứ thiệt đó của miền Nam phải take sides, họ phải chém, phải bắn lại kẻ sát nhân, trước khi có một nơi an toàn để mà nghe chuyện Thiền, để mà hành thiền. Ðể cho nhân loại có giờ mà góp nhặt cát đá .

– Rồi thầy Ðại Chiếu cũng bàn đến chuyện bất bạo động nữa đó anh Trung!

– Cái bất bạo động của Thích Ðại Chiếu cũng là một hình thức bạo động. Tôi còn nhớ cũng chính Krishnamurti trong một cuộc hội thoại về bạo động ở San Diego College; sau khi đề cập về bạo-động-dễ-thấy, ông đã nói về một loại bạo động khác: “Nhưng làm sao giải thoát khỏi loại bạo động ở chổ cố gắng để trở nên một vai vế nào đó; loại bạo động tu tập kỹ luật theo một mẫu mực; cố gắng trở thành một kẻ nào đó; chịu nhẫn nhục, hay hành hạ chính mình, tàn nhẫn với chính mình, để trở thành người bất bạo động. Làm thế nào để cho tâm trí được giải phóng khỏi những dạng bạo động như thế? 2

– Thiệt lạ, miền Nam có nhiều vị bằng này bằng nọ, nhất là mấy vị tu sĩ Phật giáo, cũng như Công giáo, mà chẳng thấy ai phân tích, tranh luận những chuyện  sinh tử như vậy…

Trung bĩu môi:

– Biết đâu, mấy bố hoặc lười chảy thây, hoặc tuy có bằng cấp, nhưng cũng chỉ làng nhàng thôi, nên cứ để cho mấy ngọn bút giảo hoạt cứ đàng hoàng dọn cho dân mình những món ăn tinh thần hổ lốn. Bao lâu dân tộc mình chưa có một tầng lớp trí thức nhân văn chính quy, siêng sắn, có đầu óc phân tích, sẵn sàng đối diện với nguỵ trá, thì dân tộc mình khó mà ngóc đầu lên được. Cứ như tình trạng trí  thức văn hoá ngày hôm nay, thì dân tộc mình cũng chỉ sẽ làm nô lệ thôi, dù dưới hình thức khác. Cái anh Trịnh Công Sơn nói thế mà linh: Người nô lệ da vàng Ngủ quên trong căn nhà nhỏ. Căn nhà nhỏ của trí tuệ…

– Anh nói, buồn quá!

– Với cái nền văn hoá như thế, chắc chắn đất nước mình sẽ phải chịu nhiều cơn dông bão khốn nạn!

Trực vung tay:

– Cái văn hoá của người Phật tử mình, ngoài chuyện như anh phân tích, nó còn có mang tính chất bắt chước mù quáng. Một loại văn hoá nô lệ. Ví dụ chuyện treo cờ Phật giáo. Cờ quạt là chuyện rập khuôn Tây Phương: Người Tây họ gán cho lá cờ một bản thể thiêng liêng, cho nên mới có chuyện họ chào cờ, hôn cờ, đốt cờ… ; là một chuyện tới nay các hiền giả Tây phương họ cho là chuyện vớ vẩn, absurde. Từ trước Phật giáo nào có cờ! Mãi tới đại hội Phật giáo thế giới năm 1950 ở Columbo, Tích Lan, các vị đại biểu Phật giáo cố kiếm  cho  các giáo hội Phật giáo trên thế giới một lá cờ chung, như một trong ba sự kiện quan trọng mà đại hội đã quyết định, nhằm tạo ra một sự thống nhất cho các môn phái Phật giáo trên thế giới, (dù rằng thống nhất có nghĩa là cơ cấu; giáo hội mang tính cơ cấu cũng là một sản phẩm Tây phương; và cơ cấu là bước đầu xuống dốc cho bất cứ nguồn mạch tâm linh sâu thẳm nào.) Nhưng dẫu sao đi nữa các vị đại biểu còn biết dùng lá cờ Phật giáo như một dấu chỉ thống nhất, và cũng là một hình thức trình bày một số điểm trong giáo lý nhà Phật5. Bản thể và biểu ý là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Chính vì gán cho lá cờ một bản thể theo quan niệm tào lao của Tây phương, nên mới sinh ra chuyện bất bình, đấu tranh, hại dân hại nước. Phật giáo là một đạo phá chấp, tại sao họ lại tự mâu thuẫn, mà chấp đến như thế? Mà chấp vào một vấn đề phi Phật giáo! Văn hoá nô lệ là chỗ đó. Nô lệ lề thói suy nghĩ Tây Phương. Tôi nghĩ một  ngôi chùa uy nghi là chùa không cờ quạt gì cả. Như ngôi chùa mà thửa còn bé mẹ hay đưa tôi đi lễ Phật.

– Nghe anh Trực nói làm tôi nhớ chuyện cụ Phan Thanh Giản: Lúc tàu chở phái đoàn của cụ ghé vào một hải cảng trên đuờng về nước, theo yêu cầu mấy ông Tây trắng Tây đen, cụ đã đưa chiếc khăn gói trầu ra làm quốc kỳ, và cho họ chào mệt nghỉ, và cụ cười ha hả.

Trực vẫn say sưa:

– Ngay cả chuyện tự thiêu vì đạo pháp, hay tệ hơn nữa mượn cớ đạo pháp để giải quyết những vấn đề cá nhân dung tục, cũng là một biểu chứng của thói nô lệ văn hoá, cóp nhặt từ Tàu, hay nói đúng ra từ Phật giáo Tàu. (Chẳng khác gì Hồ Chí Minh bợ nguyên con chính sách đấu tố của Trung Cộng.) Vì có bằng cớ cho ta biết là Ðức Phật ngài cấm chuyện tự thiêu như trong kinh Na-tiên-tỳ-keo kinh do bồ tát Long Thọ, tổ sư truyền chánh pháp của Phật tổ, soạn, mà tôi có đọc, qua bản dịch của Warren9.

– Chà chuyện gay cấn chớ chẳng chơi! Phật nói gì trong kinh ấy, anh Trực?

– Vì đây là chuyện nhức nhối, nên tôi nhớ nguyên văn là: “Hỡi các tì keo, chớ có để ai tự hủy mình, và bất cứ  ai tự hủy mình, hãy xử kẻ đó theo luật định.”

– Còn Phật giáo Tàu đó chủ trương ra sao chuyện tự sát, tự thiêu?

– Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh12, dĩ nhiên là một kinh riêng của Phật giáo Bắc tông Tàu, có kể đến bồ tát Dược Vương nguyện xả thân để chữa bệnh cho bá tánh, và: “Ngài khoác áo có đính châu báu, tẩm dầu có hương thơm, và một khi đã nhiếp tâm đến mức đại định, ngài đốt thân xác mình. Ðám sáng chiếu rọi đến các thế giới vốn nhiều như cát sông Hằng. Và các vị Phật trong các thế giới đó, ngay lập tức, ca ngợi ngài Dược Vương.” Theo giòng lịch sử, cũng đã có một số trường hợp các thầy tăng Tàu hy sinh thân xác mình như một biểu lộ của lòng sùng mộ đối với Ðức Phật hay chư tổ, hoặc để phản kháng sự đàn áp Phật giáo. Thỉnh thoảng cũng có những trường hợp các thầy chỉ cắt cánh tay, hoặc cắt ngón tay, ví dụ, trường hợp nhị tổ Thiền tông Huệ Khả đã cắt cánh tay để biểu lộ tấm lòng tha thiết cầu đạo với sơ tổ Bồ đề Ðạt ma. Những hành động như thế, cộng với việc vua Ðường Hiến Tông cho rước cốt Phật về đặt trong bảo tháp trong hoàng cung để thờ, và một số lạm  dụng khác của nhà chùa, đã khiến Hàn Dũ10, nhà Nho, nhà luận chiến số một của Trung Hoa thời đó, đã dâng biểu can gián vua và bài xích Phật giáo…

Trung tiếp lời:

– Ngoài ra, anh Trực ạ, tôi nghĩ văn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, như các Kinh Thư cổ khác của các tôn giáo khác trên thế giới, là một loại văn đầy huyễn thoại apocalyptique, mang ý nghĩa tượng trưng rất cao; nó mở ra nhiều  kiểu giải thích khác nhau, nhiều khi mâu thuẫn nhau, tuỳ kiến thức, tính khí cụ thể của  người chú giải, và sẽ dẫn đến những áp dụng tương ứng. Phật giáo của mình lại sao y chánh bản lối giải thích huyễn tượng, và ứng dụng lới giải thích đó của Tàu. Chết người là chổ đó. Người ta đốt mình cũng đốt… Nô lệ là chỗ đó.  – Và Trung lắc đầu  – Rầu thiệt là rầu!

 

Tiếng súng lạch tạch dưới núi. Có tiếng đại bác dội về.  Lòng Trực còn man mác những lời phân tích của bạn anh. Chùa và núi yên ắng như một cõi đâu. Cái yên ắng vô duyên giữa mùa chinh chiến, nhưng đôi lúc, cũng ấm lòng chi lạ. Mùi nhang thoang thoảng trong trăng. Lại còn cả tiếng suối. Tất cả đều mềm, đều mài mại thủa thanh bình nào đó. Cho tôi thoáng cảm mùi nhang Cung đàn xa vắng một lần rồi thôi11 , câu thơ rơi rụng Trực lượm được giữa Trường Sơn máu lửa. “Gã thi nhân nước Việt ngoài ấy tội nghiệp đến như vậy sao! Mà do đâu?”  Và Trực ngủ chẳng được. Anh lững thững đi xuống chùa dưới. Khi đến gần, anh thấy một cô gái áo lụa vàng, hoặc giả là lụa ngà nhuộm ánh trăng, đang thơ thẩn trong sân trước, thỉnh thoảng lại cúi xuống ngửi hoa bụi này, vơ vẩn bụi kia.

– Hoa dạ lý đêm nay thơm thanh hơn đêm qua.

– Cô là ni cô?

– Em ở dưới làng lên đây tính vào chùa đọc thơ cổ đêm trăng, nhưng hương hoa chưa thả em ra.

– Trời đất!

– Anh nói sao?

– Không có chi; tôi chỉ cảm ơn Trời Phật.

– Nam mô A di đà Phật!

Và nàng bật cười ngọc vỡ, làm những con hạc vàng trên tà áo lụa vỗ cánh chực bay. Trực ngu ngơ:

– Hèn chi cái ông sư Phạm Thiên Thư, trang kinh ông cứ ăm ắp dáng Kiều thơm.

– Anh đọc vài câu nghe thử!

– Mười con hạc trắng về tha  Như Lai thường trụ trên tà áo xuân  Vai nghiêng suối tóc tơ huyền  Ðôi gò đào nở trên miền tuyết thơm.

– Thí chủ nghĩ sai rồi. Thầy Thiên Thư muốn nói về cái bất nhị…

Trực khi không gằn giọng Quan Công Mặt Ðỏ:

– Cô nói gì? Cô nói gì? Cái bọn ởm ờ cả lũ!

Nói xong Trực cúi đầu, như xấu hổ vì tức giận vô duyên.

Và khi ngước lên, chẳng còn thấy cô gái đâu.

Trực nghe có tiếng gì như tiếng chim đập cánh hốt hoảng mái tây chùa.

Tối hôm sau, trăng mười sáu, giữa khuya anh lại xuống chùa. Anh mừng rỡ thấy cô gái hôm qua đã đứng đó, dường như cô đang mằn mò đọc các câu đối nơi các cột chùa. Anh chưa dám hỏi han gì. Cũng thử đọc đỡ đôi câu cho đỡ ngượng. Câu nào cũng vương ít nhiều Thiền vị như:

 

Ðạo bản vô nhan sắc,

   Tân tiên nhật nhật khoa6:

Ðạo vốn không màu sắc,

Ngày phơi vẽ mới tươi.

 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô…

   Thịnh suy như lộ thảo đầu phô7.

Thân như bóng chớp, có thời không…

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

 

Nhưng cô Hoàng Hạc bỗng khựng lại:

– Trời đất, ai đã viết câu thơ thoáng nghe nhẹ như sợi trăng, mà lại bùng bùng sấm sét?  – Và cô đưa tay chỉ vào hai cột lim có khắc câu  “Ðê đầu vạn quyển quy hương lý   Quán diệp Phật kinh nguyệt cô tâm8” 

– Xin cắt nghĩa cho nghe!

– Ðể tôi thử dịch. Coi nào…Cúi đầu vạn… quyển về quê cũ. Xỏ lá… kinh Phật trăng cô tâm. Trời… đất!

-Vậy sao!? Vậy sao!? Nghe cô dịch Nôm xong, tôi mới nhận ra cái thâm ý của câu thơ, và hiểu ra tại sao ai đó lại cho khắc câu đối ngay chổ hai cột này. Vì từ trong hành lang nhìn ra, nếu để ý, cô sẽ thấy, hai câu thơ như nhìn thẳng ra bốn mảng phù điêu tròn to như cái nong có khắc chữ Phạn sơn son, gắn nơi bức tường chắn mảng núi. Lúc nãy tôi đã tò mò thử đọc, vì tôi khi học môn Phật học ở đại học Vạn Hạnh, có học chút ít tiếng Pali. Thử đọc, nhưng tôi chẳng hiểu gì. Tuy nhiên khi nhìn kỹ bốn bức đại tự chữ Pali đó, tôi thấy lối bố trí chữ mài mại hình bốn vị sư đang chăm chú đọc sách, mỗi vị quay về mỗi hướng khác nhau. Và cô xem: bức tường sát ngay mảng núi, nên giây gì như giây bìm bìm đang rủ xuống, như đang xỏ lá qua những lời kinh Phật nguyên ngữ Pali. Xỏ lá kinh Phật, hay kinh Phật xỏ lá, nếu chỉ nhích một chút vị trí của từ ngữ? Ai đó thật thâm, thật táo bạo!

– Thì táo bạo cũng giống như truyện thầy tăng xưa chẻ tượng Phật chụm bếp là cùng… Người đời xưa tâm trí cao minh.

– Còn người đời nay?

– Người đời nay chủm chọe ghê hồn.

– Tại sao lại chủm choẹ ghê hồn?

– Vì có biết bao thằng cuội thời đại đang xé nát vầng trăng? Vầng trăng sắp vỡ đến nơi.

– Cuội  nào? Cuội  nào? – Trực thét lên như những lần xung trận Trường Sơn.

Hạc vàng sợ quá, lại bay.

 

Tượng Phật nằm trên một triền đồi thoai thoải, gần chùa trên. Vành tai tượng to đến độ, người lớn có thể nằm lọt vào đó được. Ðể có được một bức tượng vĩ đại như thế trên núi cao ngàn mét, các thiện nam tín nữ cúng tiền đã đành, họ còn tình nguyện vác từng bao xi măng, gánh từng thúng cát, bó sắt lên núi cao. Cát họ gánh nhiều đến nỗi, sau khi đúc tượng xong, còn dư cả một đống lớn tựa ngọn đồi, cạnh tượng Phật. Tấm lòng mộ đạo của họ quả là bao la. Ngoài cái vĩ đại của tượng, người ta còn thấy cái tài hoa của điêu khắc gia nào đó, qua thần thái của tượng: dáng nằm an bình, đôi mắt trầm lắng, đôi tai thỏng tự tại, và đôi môi viên mãn nụ cười, bàn tay mềm mại bao dung. Về giá trị nghệ thuật, tượng không thua bất cứ tượng Phật danh tiếng nào trên thế giới mà Trực đã có viếng trong các cuộc du lịch hoặc khảo cứu, trong hai thập niên ở nước ngoài.

 

Hai mươi năm sau. Sợ về, nhưng cũng phải về, vì anh phải đi công tác lo chuyện hồi hương cho dân tị nạn Việt Nam bị trả từ Hồng Kông, với các nhân viên tị nạn Liên Hiệp Quốc khác. Rồi Trực cũng kiếm cách xin nghỉ được một tuần về thăm nhà, thăm chùa. Thăm làng xóm, lòng chỉ thêm ngậm ngùi. Và cũng phải đi thăm chùa một chuyến. Dù biết đi chỉ thêm đau.

Trực lựa ngày rằm13. Cảnh vẫn còn như cũ. Nhưng chùa lại quét vôi xanh đỏ loè loẹt khó coi.

Anh ở lại đêm. Trăng vẫn sáng như trăng cũ hai mươi năm. Bồi hồi khôn tả. Tưởng như phút linh cầu đang rạng. Anh cố đọc mấy câu thơ cổ cho đỡ bồn chồn.

– Ông là ai mà đêm hôm khuya khoắt?

– Tôi là người từ xa lên vãn cảnh chùa.

– Dễ chừng đã hai mươi năm – Vừa nói, người nữ cởi chiếc áo màu lam ra, thả xuống đất, phô áo lụa lung linh cổ nguyệt.

– Hoàng Hạc?

– Mỗi tháng cứ độ trăng rằm em vẫn mặc chiếc áo lụa cũ, lên đây nhớ anh… mà, anh ơi… em đã có con với anh!

– Cô nói sao!? Cô mơ hay tỉnh!?

– Sau này, em đã bị bọn phỉnh phờ, khốn nạn hiếp dâm, và đã có thai. Nhưng anh ơi, em đã yêu anh đêm đó, yêu những tiếng giận dữ dưới trăng, yêu Ðặng Dung vung kiếm nguyệt xưa. Anh giận dữ hay núi sông giận dữ? Ôm bào thai vô tội, ôm cả nghĩa non sông. Nhưng, anh Trực ơi, thằng nhỏ em sinh ra sao nó còi nó cọc, dù em cố gắng nuôi con bằng sữa lành, gạo tốt; đã thế học hành chẳng chịu, nó chỉ thích lông bông chơi trò bị gậy? Áo em may cho nó không chịu mặc mà cứ xé tươm, đòi áo giấy cho được mới chịu mặc, và nhất định cho đó là áo sang nhất. Chỉ có mấy con Miên, con Thổ khen là đẹp, vậy mà nó khoái lắm… Mấy đứa nhỏ láng giếng như con anh Ðài chị Loan, con anh Ðại chị Hàn, con ông bà Ba Tân Gia, ấy là chưa kể con ông Thái Lan cổ lổ xỉ, xưa con nhà nghèo hèn, bây giờ đứa nào cũng nên danh nên phận, giàu có hơn người. Nó không biết xấu hổ, mà còn cứ vênh váo khoe khoang. Sao nó lại như thế! Phải chăng cái ô trọc của kẻ hãm hiếp đã trấn át tất cả Trung, Trinh?

Rồi nàng úp mặt khóc:

– Anh ơi, sao anh đã bỏ em mà đi, tuyệt giòng nghĩa khí?

Có tiếng kẻng của đồn công an biên phòng dưới chân núi vang động, hoàng hạc lại vỗ cánh bay đi. Bay về hướng tượng Phật nằm.

Tối hôm sau, Trực lại lên chùa, nhưng chẳng thấy Hoàng Hạc đâu. Anh ngầy ngật lê bước về phía tượng Phật nằm. Chẳng biết tại sao. Nhưng anh vẫn còn đủ tỉnh táo để thấy tượng Phật người ta đã sơn phết loè loẹt; ai đó còn chấm cả một cái nút ruồi kiểu Marilyn Monroe17 vào bên má trái; rồi còn sơn đỏ móng chân, móng tay tượng; tượng Phật giống như – xin lỗi – một anh đồng tính luyến ái nằm trơ trẻn trong các bụi cây ở trong Central Park ở New York. Ban đêm mà còn như thế, ban ngày chắc còn thấy kinh hoàng hơn.

Trực cứ đi vòng vòng bức tượng như một gã thất tình. Cứ tức, cứ tiếc cho bức tượng mà anh đã từng khoe mỗi khi nói chuyện với các giáo sư của anh về nghệ thuật Phật giáo Việt Nam. Rồi anh bỗng thấy phía đằng lưng của tượng một cánh cửa nhỏ giấu sau một bụi cây che rậm. Anh dùng dao đa năng ngoáy đại vào ổ khóa. Cửa mở. Trong bụng tượng Phật thăm thẳm, anh thấy một vùng ánh sáng lờ mờ. Bấm đèn pin, rọi, anh thấy xác một cô gái trẻ da thịt muột mà, trần truồng treo tòng teng nơi một mấu sắt bê tông, người oằn chữ S. Sợi thừng thiệt lớn, và chắc như dây dừa Tam Quan. Trực vất vả kiếm cách và cuối cùng cũng hạ xác cô gái xuống được. Khi cầm sợi dây treo cổ, anh thấy lạ vì đây không phải là dây dừa bình thường, mà lạ một loại dây thừng bện lại bằng giấy, tuy mềm mà dai như da trâu thuộc. Anh lấy dao tỉa ra từng khúc, rồi vuốt ra từng tờ, và tò mò xem thử. Hoá ra đó là những tờ giấy mới có, cũ có, từ chuyện sấm ngôn soán đoạt thủa xưa, cho tới chuyện treo cờ treo quạt, tuyên ngôn, yêu sách đời nay; và tờ mới nhất, loại giấy đánh Fax mới toanh, kể lể trách rằng ai đã phụ ai. Và bây giờ Trực mới để ý thấy chiếc áo lụa vàng, có lẽ của người chết, bị ai quăng nằm trong một góc, sáng hiu hắt niềm riêng, làm anh nhớ câu thơ cũ: Quán diệp Phật kinh nguyệt cô tâm: Xỏ lá kinh Phật trăng cô tâm. Và anh lẩm bẩm: “Phải chăng người xưa nào đó có lúc giận quá, mất khôn? Mà giận điều gì? Hay đây là quỉ thi mời gọi điều chi?”

 

Oslo, Tết dương lịch 2002

 

(1) Câu văn La tinh không rõ của ai mà W. B. Yeats, nhà thơ, nhà văn Ái Nhĩ Lan, (1865 – 1939),  dùng trong truyện ngắn The Tables of Law: Những Tấm Bia Luật; truyện gợi hứng cho tôi viết truyện ngắn này.

(2) Krishnamurti… trích dịch từ cuốn Beyond Violence, nxb Victor Golanz LTD, London, 1983, trang 74.  / Jiddi Krishnamurti  (1895 -1986), sinh ra ở Ấn độ; được hai vị lãnh đạo phái Thông thiên học (Theosophical Society)  khám phá ở Ấn, và được nuôi dạy ở Anh bởi chính hai vị này, và hai vị đã tôn K. như Thầy của Thế giới (the World Teacher) ; vào tuổi thanh niên ông trải qua những kinh nghiệm thần bí làm biến đổi hẳn tâm tư ông; ly khai khỏi mọi tôn giáo, ý thức hệ, kể cả phái Thông thiên học; và chân cứng đá mềm với trách nhiệm cô đơn mà ông  tự đặt cho mình; là một minh sư, một triết gia, một nhà tư tưởng, một người bạn, hoặc là chẳng là gì cả như ông đã tự đánh giá mình, ông đã soi sáng cuộc đời hàng triệu người trên thế giới – trí thức, dân dã, già, trẻ. Ông đã mang lại ý nghĩa mới, nội dung mới cho đời họ bằng cách chỉ ra một lối sống vượt trên mọi tôn giáo cơ cấu. Ông cũng táo bạo đương đầu với  những vấn đề thời đại, và phân tích, một cách chính xác khoa học, sự vận hành của tâm trí con người. Khi ông tuyên bố rằng quan tâm duy nhất của ông là làm cho con người được tự do tuyệt đối, vô điều kiện, ấy là ông muốn tìm cách giải phóng con người thoát ra khỏi mọi dạng điều kiện hoá nằm sâu trong con người, và bó buộc, và làm khổ con người; đó là sự buồn phiền, sự sợ hãi, bạo lực, và sự ích kỷ. Ðể được như thế,  con người cần giải trừ những kiến thức  (freedom from the known)  mà mình tự, hoặc bị gắn vào bởi các loại tôn giáo, các ý thức hệ, các trào lưu tư tưởng, và nhìn thẳng, nhìn tươi mát vào cái hiện tồn của mình (what is) .  Các tác phẩm quan trọng, theo NVT: The first and last Freedom (Tự do đầu tiên và cuối cùng, Phạm Công Thiện dịch) , Commentaries on Living, ba tập (Bàn về Hiện sinh, Trúc thiên dịch) .

(3) Trí nhớ màu xanh… xin xem thí dụ của Rey trong mục Category mistake, The Cambridge Dictionary of Philosophy.

(4) I can not take sides: Ý này dựa vào bài thơ Please Call Me by My True Name (lộng dịch: Hãy  vạch mặt chỉ tên tôi. ) của Thích Nhất Hạnh. Ðại ý: Trong cặp tương phản: Tên hải tặc Thái Lan & đứa bé gái 12 tuổi bị hiếp và sau đó ném xuống biển, ông chỉ giận, chứ không chống lại tên hải tặc đó, và đồng thời ông cũng không đứng về phía cô gái bị nạn. Thái độ của ông cũng tương tự như thế với với cặp mâu thuẩn khác: ủy viên trung ương đảng & thành phần có nợ máu bị đi khổ sai cải tạo…

(5) Ba sự kiện quan trọng được quyết định trong đại hội: cờ Phật giáo, ngày Phật đản, Phật lịch.  / Lá cờ ngũ sắc  có ý tượng trưng cho ngũ căn: tín, tinh tấn, thiền định, chánh niệm, định huệ, và cũng tượng trưng cho ngũ lực tương ứng với ngũ căn; rồi cờ còn biểu trưng cho cái ý ‘ngũ châu nhân chủng’ ; và cũng biểu tượng cho cái ý thánh nhân cũng từ trong cõi Ta Bà, tạp thú ngũ cư  mà ra.

(6) Ðạo bản…Thơ Phạm Thường Chiếu/ Ðào Phương Bình, Nguyễn Ðức Vân  dịch.

(7) Thân như…Thơ Nguyễn Vạn Hạnh/ Ngô Tất Tố dịch.

(8) Quán diệp… và câu Nhị thập niên… thơ Mạt Tỉnh/  Nguyễn Văn Thà dịch.

(9) Tự thiêu : Xin xem cuốn Chinese Religions của Julia Ching, nxb MacMillan 1993, mục Buddhism and suicide : Phật giáo và vấn đề tự sát, trang 148;  có nêu đích danh trường hợp tự thiêu của Thích Quảng Ðức để minh hoạ.  Bà đã có những công trình lớn về Tôn giáo Trung Hoa, giáo sư môn Tôn giáo học ở các đại học tăm tiếng nhất trên thế giới. / Hỡi các tì  kheo… trích từ bản dịch kinh Milindapanha (Na tiên tì keo kinh)  trang 437,  bản dịch của Warren, trích từ tác phẩm Chinese Religions kể trên.

(10) Hàn Dũ: (768 – 823) , người đời Ðường, đậu tiến sĩ năm 25 tuổi, được phong tước Xương Lê bá, giữ các chức vụ phải sử dụ lý trí phân tích nhiều: giám sát ngự sử, giám sát sử quán tu soạn, hình bộ thị lang. Ngoài bài biểu kể trên, còn có bài Nguyên Ðạo, và Nguyên Tính rất sâu sắc, hùng hồn. Ðem thực học mà tu sửa cái học hư văn của người đương thời. Văn đơn giản, mạnh mẽ. Sau bài biểu can gián bài xích đạo Phật, bị giáng xuống chức thứ sử và bị đày ở Triều Châu (Quảng Ðông). Sau làm văn tế đuổi được sấu dữ trong vùng, được gọi trở về lại triều – (Theo Dương Quảng Hàm). Cuối đời theo đạo Phật (mà ông đã đả phá những lề thói kể trên) , nên có câu: Học đáo Xương Lê chung ngộ đạo… Học cỡ Xương lê cuối cùng thấy Ðạo.

(11) Cho tôi thoáng cảm… Thơ Hồ Dzếnh, làm sau mấy chục năm tan nát dưới chế độ Cộng sản miền Bắc.

(12) Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: Một bổn kinh to tát trong đạo Phật, do ngài Cưu ma la Thập dịch từ bản chữ  Phạn ra chữ Hán khoảng năm 400 Tây lịch. Kinh này là bộ kinh căn bản của  tông phái Thiên thai và tông phái Pháp hoa, Bắc tông, (theo Phật học Từ Ðiển của Ðoàn Trung Còn) . Kinh này cũng như các kinh khác của Phật giáo Trung Hoa, xét về nguồn gốc và tác giả, trộm nghĩ vẫn còn là vấn đề cần cẩn trọng nghiên cứu, đánh giá lại. Lý do là, theo học giả Julia Ching, vì nhu cầu quá lớn về kinh của người Trung Hoa, đã sinh ra lắm kẻ tự xưng là đệ tử chính truyền của Thích ca; họ đã bịa bậy các loại kinh để cho có kinh mà bán cho người đi thỉnh, hiện tượng này Julia Ching gọi là sutra industry : chợ kinh ( Về chợ kinh xin xem Julia Ching, Chinese Religions, 1993, nxb the Macmillan Press LTD,  cuối tr. 129 – 130. / Về vấn đề văn bản của kinh Phật xin xem thêm Donald S. Lopez, Jr., 2000, nxb The story of Buddhism…,  nxb HarperSanFracisco, tr 67 – 72, và 109 – 117)

(14) Vầng trăng tròn: trăng viên mãn và các từ mài mại như thế, hay được  dùng trong thơ Thiền và trong đạo hiệu để chỉ sự chứng ngộ. Như trong câu:  Thúy trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh. Bạch vân minh nguyệt  lộ toàn chân. (Thiền Lão thiền sư, đời Lý).

(15) Sấm ngôn soán đoạt: Về nghi vấn lịch sử về chuyện sư Nguyễn Vạn Hạnh tự thả thơ rơi, rồi phao đó là lời sấm báo nhà Tiền Lê, với ông vua đang trị vì Lê Long Ðĩnh, đã đến thời mạt vận, trong âm mưu hạ Lê Long Ðĩnh và đưa Lý Công Uẩn, đệ tử nhà chùa của sư Nguyễn Vạn Hạnh lên làm vua, xin xem mục Nguyễn Vạn Hạnh trong bộ Thơ Văn Lý Trần, nhà xuất bản KHXH, Hà nội /  Riêng nghi vấn âm mưu diệt Lê Long Ðĩnh, xin xem bài “Bệnh Án của Ngọa Triều Hoàng Ðế” của BS Hồ Ðắc Duy, trong điện báo Chim Việt Cành Nam, địa chỉ http://www.phapviet.com/chimviet . Ðại ý: Vua Lê Long Ðĩnh tuy có giết anh chiếm ngôi (có một vị vua trước và một vua sau Lê Long Ðĩnh cũng làm như vậy) , nhưng vua Lê Long Ðĩnh là người biết chăm lo cho dân, cai trị giỏi, cho người qua Tàu xin Tứ thư, Ngũ Kinh và thỉnh kinh Phật Ðại Tạng, và là một vua đã đi chinh phạt 5 lần và lần chinh phạt cuối cùng là 2 tháng trước khi chết. Vậy những cái xấu xa mà xưa nay người ta gán cho vua Lê Long Ðĩnh là do đâu, và có đúng không, và cái chết của ông là do một âm mưu? Bài viết có giá trị vì tác giả đã trưng dẫn và đối chiếu nhiều sử liệu cổ. / Mấy trăm năm thanh bình với Phật giáo là quốc giáo dưới triều Lý cách đây đã ngàn năm vẫn là mẫu quốc gia lý tưởng cho một số trí thức Phật giáo trong cuộc chiến tranh Việt Nam và cả đến hôm nay, thế kỷ 21!

(16) Tông miếu: đền thờ tổ tiên, chỉ tổ tiên. Xã Tắc: Xã là thần mặt đất, và sản phẩm của thần Xã là thần Tắc (thần hạt), vậy Xã tắc chỉ Ðất nước.

(17) Marilyn Moroe: (1926 – 1960) nữ diễn viên điện ảnh của Mỹ, nổi tiếng với sắc đẹp sexy, tóc vàng, và cái nút ruồi duyên nằm dưới  phía trái môi dưới.

Nguyễn Văn Thà

https://c1.staticflickr.com/5/4078/4935314301_2496d36c2e_b.jpg

Khoảng tháng mười gió bấc bắt đầu thổi mang theo cái lạnh phương Bắc; thổi rền rỉ ngày đêm. Lá cỏ héo dần rồi tan nát. Gió đưa cát bụi len vào từng lỗ chân lông; người lúc nào cũng cảm thấy nhớp nháp, bức rức. Ðược cái những ngày như thế, chuông nhà thờ vang xa.

Khi mấy ổng chưa vào tôi chẳng để ý đến gió bấc cho lắm. Mùa gió nồm mát mẻ hay mùa bấc khô khốc vẫn hai ngày cắp sách đến trường, có cơm ăn no, có áo lành mặc. Nhưng rồi từ độ hai miền hết đánh nhau, gió bấc làm tôi phải chú ý đến nó nhiều hơn, vì cờ bay mạnh, bay nhiều, và cũng là lúc khởi đầu cho những năm tháng tơi tả. Người và gió bấc, cờ xí cùng vó ngựa, văn hoá với những luồng tư tưởng bóp miệng. Những người dân miền Bắc như những người từ cõi âm, bắt đầu xuất hiện trước lẻ tẻ, sau đó ào ạt vào Nam để rán kiếm cho mình một mảnh đất sống. Họ là những người ngàn đời đói đất; và vào cái thời cái gì cũng nhân dân làm chủ thì sự thèm khát đất đai lại càng mãnh liệt. Chẳng có gì quý hơn đất. Ðất nào cũng được miễn là có đất, dù chỉ tạm thời. Ðất rừng bạc màu chằng chịt cỏ tranh người trong làng tôi không ai thèm làm, cũng đã là quá tốt đối với họ. Nhưng chẳng dễ gì moi được miếng ăn từ những đám cỏ tranh lì lợm, rễ đan tầng tầng địa võng ấy. Dần dà mộng ước đất đai của họ bị cỏ tranh bóp nghẹt; thân xác héo quắt dưới nắng đỏ.

Chúa HCM độ ấy cũng đã theo gươm giáo vào ngự trị trong mọi nhà xứ  Ðàng Trong. Thực ra, đối với số đông, cái mặt của chúa như một lá bùa gớm ghiếc mà những thầy pháp, bà bóng của chúa cứ gióng phèng la, cứ hô âm binh đe dọa, nên cực bằng đả phải dán trong nhà, vì ai mà biết được lúc nào ma tha quỷ bắt.

Vậy mà có người đàn bà không thèm dán lá bùa ấy. Một người đàn bà Ðàng Ngoài.

 

Tôi đang đi kiếm con trâu lạc, tay cầm chiếc roi mới tự bện. Rừng rậm rạp và mênh mông xanh. Chẳng hi vọng gì kiếm được trâu, nhưng cứ phải tìm. Ði giữa lòng con suối cạn, lá vòm giáo đường, cát mịn mát in dấu chân chim lăm nhăm lẩn giữa những vết trườn mỏng manh của loài bò sát. Và, nơi đây, cõi đâu đâu uống lời im ắng; chim kêu chiều biền biệt vô ngôn. Bỗng có tiếng chuông nhà thờ đổ, vang vang giữa ngàn cây. Chuông đổ trước loa. Họ đã quên mở đài. (Bấy nay trời thôn dã rộn tiếng máu xương, chẳng mấy khi, như chiều nay, chuông đưa lòng về được một cõi không trâu.) Cảm ơn suối nhỏ vòm cây. Cảm ơi ai kẻ quên loa rộn chiều. Một nhánh tre quẹt ngang mặt cắt ngang câu thơ lạng quạng, làm tôi giật mình, nhìn lên. Bóng dáng một cô gái đang đi lại phía tôi, thong dong mềm mại. Cô mặc quần xanh bó Trung quốc và áo sơ mi trắng, bộ đồ kiểu cọ nhất của các chị em dân ngoài Bắc thời đó; còn tôi, tôi lại đang bận cái quần tà lỏn, hình như đủng hơi rách thì phải – tại chỉ nhợ hồi đó quá bở; ngượng quá lẽ, bèn chữa thẹn:

– Cô đi đâu đó?

– Dạ em đang nghe chuông – Câu hỏi trật bản lề của tôi nghe thiệt tội nghiệp so với câu trả lời đầy tiêu dao  làm tôi thảng thốt – Chuông chiều nơi đây nghe thật thích! Còn anh?

– Tôi đi kiếm trâu.

– Anh đi kiếm trâu hay đi kiếm tiếng chuông Trời đã gởi cho người thế từ lâu? Angelus Dómini nuntiávit Mariae et concépit de Spiritu Sancto… Et Vebum caro factum est et habitávit in nobis1 Mà trâu lạc lâu chưa anh?

– Hồi trưa đứng bóng.

– Tối đến nơi rồi, anh kiếm nhanh đi!

– Thôi, khỏi cần kiếm!

– Sao vậy?

– Vì đã có cô đây!

Tôi bắt đầu trổ mòi. Nhưng cô nàng vẫn cứ như không:

– Anh có biết không… ?

Và ánh mắt cô đóng cõi ngoài tôi lại; lời chở tôi trôi dạt mải mê. Cô thao thao về những tiếng chuông trong các tác phẩm văn chương Nga-la-tư.2 Những tiếng chuông ấy tắt đi từ Maxim Gorki, người khởi đầu cho một nền văn chương Nga-Xô-viết. Từ độ ấy tiếng chuông đã bị bóp cổ, cô nói. Chuông Nga xưa ấy sao giống tiếng chuông trong những bài văn mẫu của thầy Kính dạy tôi! , tôi reo, tiếng chuông nào cũng bay và mang theo ánh sáng.

Cô còn kể thêm chuyện một ông pốp3 già ở Nga suốt đời băn khoăn về một câu thơ chữ La tinh khắc trên chiếc chuông cổ của giáo đường cụ. Cụ ăn không ngon ngủ không yên suốt 70 năm vì câu thơ ấy. Rồi cô đọc câu thơ tiếng La tinh ấy- dĩ nhiên tôi mù tịt – nhưng tôi vẫn nhớ được câu thơ bắt đầu bằng một cái âm từa tựa như là luna4 – giống tên hiệu đèn Huê kỳ nhà tôi đang dùng . Rồi cô dịch ngay: Rừng  đẻ trăng. Tiếng chuông của cỏ. Câu thơ đã làm cụ pốp phải kêu lên: “Người đời xưa mà làm được những vần thơ mới đến như thế ru!?” và cụ nghi đó là thơ ngàn-hoa-nội-cỏ của Virgil5. Nhưng rồi, dù miệt mài đọc thơ của Virgil và cả của các thi sĩ La tinh khác đến bạc cả mái đầu, cụ vẫn không kiếm ra gốc tích câu thơ. Cuối cùng chuyện đến tai một anh thợ cày trong vùng, anh ta bèn phán với thằng con, vốn là trò giúp lễ của cụ pốp : “Mẹ, biết đâu thằng thợ đúc chuông khắc sai!? ” Chú bé mách lại với cụ pốp , tóc cụ đang bạc trắng hóa ra đen; rồi cụ bỏ xứ đạo mà đi, không biết đi đâu…

– Cô đã ở Nga ?

– Em là công chúa Anastasia6. Em là công chúa ngàn đời của Ðất Nước em. Khi gã Lênin ám sát em, gã đã làm một việc rất dại dột: Gã đã phong thánh cho em.

– Cũng như tiếng chuông?

– Ðúng, làm sao hắn bóp được âm vang của muôn vàn chuông vàng đã thấm vào từng cục đất, hạt cỏ nước Nga cả hàng ngàn năm.

– Thế là cô không cho là câu thơ La tinh khắc trên chuông mà cô vừa kể là sai từ vựng, sai văn phạm?

– Không, đó là một câu sấm hoặc một câu thơ thị kiến.

– Xem ra nước Nga sinh ra khá nhiều những con người thị kiến…

– …và những con người hoang tưởng. Tôi nghĩ là gián tiếp giáo hội Chính thống Nga với những lễ nghi phụng tự và các hình thái nghệ thuật liên hệ chẳng những đã sản sinh những con người đầy thị kiến như Dostoievsky, Paternak mà còn tạo nên những kẻ hoang tưởng như Léânine và Stalin. Cứ thử vào tham dự một thánh lễ nơi nhà thờ Chính thống Nga anh sẽ cảm nhận được những điều tôi nói. Các ông pốp và các tín hữu như đang tận hưởng những hoan lạc siêu hình suốt cả hai ba tiếng đồng hồ giữa giòng nhạc rền rỉ, ray rứt, khát khao, giữa chơi vơi trầm hương, nến sáng. Elohim! Elohim! Elohim!7

– Còn tiếng chuông?

Nàng im lặng không đáp. Cú bắt đầu rúc loanh quanh. Muỗi bay vòng, quanh mặt nàng ánh xanh lấp loáng. Nàng đi đi lại lại dưới vòm cây, đôi khi mơn man một chiếc lá, đôi khi như đang lặng nghe tiếng nghìn trùng, lại có lúc thầm thì chuyện vản. Quên cả rừng chiều sắp đóng. Tôi ngồi trên tảng đá ngóng cổ nghe nàng; ngờ ngợ nàng như Ðức Giêsu, và tôi, như thánh nữ Mađalêna, đang ngồi dưới chân nàng uống suối nguồn trí huệ từ môi. Một lúc sau, miệng nàng mấp máy máu tươi:

– Tôi chỉ biết bay trong tiếng chuông nước Nga, nhưng tôi nghĩ chỉ có các ông pốp dưới thời Xô viết mới thực sự sống tiếng chuông. Họ là những Quasimodo10 gánh oằn vai những sầu thương nhân thế và của chính đời mình. Nghĩ mà thương…

– May có Esmeralda chia xẻ gánh gian truân.

– Anh có biết không, tôi vào Nam để nghe, để nhìn những tiếng chuông cuối mùa?

– Tại sao lại là cuối mùa? Tôi tin rằng chính phủ đương thời, rút kinh nghiệm bên Nga, sẽ vẫn cho giật chuông nhưng lại ra sức khuyếch đại âm thanh của chiếc loa vốn đã rỉ sét của mấy ông ấy. Và họ tin là loa sẽ thắng chuông. Cô có nghĩ như vậy không?

– Làm sao mà biết được. Ai mà hiểu được Bóng Tối!

Và tôi cúi đầu nhẫn nhục để cho bóng tối tràn lan, che kín nhãn quan và nuốt chững tâm tư. Nghe đời mình quen dần mộ địa.

Nhưng rồi không biết bàn tay huyền hoặc cỏ cây đã cởi quần áo nàng hay chính nàng đã tự khoả thân mà, khi ngước lên, tôi thấy nàng đang trần truồng, đong đưa ảo diệu như một chiếc bình pha lê treo giữa tà huy.

Có tiếng thì thào đâu đó trên muôn ngàn lá:

– Bóng tối đã bóp nghẹt cả giang san. Tôi phải về nhà cha tôi. Cha tôi có nhiều chỗ ở, anh có về không, anh có về không?

Nàng tan loãng theo tiếng gà rừng gáy sảng: Hoàng hôn mà cứ ngỡ bình minh.

 

Trời gần đứng bóng tôi ngủ mới dậy. Sáng dậy đi làm không nổi dù má kêu năm lần bảy lượt. Ði tàn tàn qua nhà thằng em hút điếu thuốc lào cho tĩnh, thấy mấy anh hàng xóm đang phụ nhau xẻ thịt một con chó. Máu me vung vãi, lấm lem những chùm lông chó trắng nõn lung linh như muôn ngàn mũi kim dưới trời trưa nắng đổ.

– Kiếm được con cầy đâu mà ngon vậy, mấy cha !? – Tôi hỏi

Thằng Năm, em tôi, cười hề hề:

– Ngon cái khỉ mốc, thịt ba con chó cái, mười con hết chín mềm xèo! Ðầu hôm ra rẫy gần suối Rạn để canh heo rừng, thấy nó cứ xớ rớ cạnh chòi, đã vậy lại còn rên ư ử như rượng đực, tui ngứa máu nhào lại tính phang cho một một cuốc, vậy mà nó vẫn đứng im nhìn tui, làm tui phải gượm tay lại…

– Rồi sao…?

– Tính để kệ mẹ nó, nhưng nghĩ lại thấy gió bấc thổi mạnh, trời động cá mắm không có, tui tròng cổ trói lại, bỏ bị vác về hồi hôm.

– Hay là chó bị người ta thuốc mậy? Coi chừng ăn ngọng miệng cả đám! Vả lại chó của người ta…

Anh hàng xóm đỡ lời:

– Không sao đâu anh ơi! Tụi em đi xẻ ván hằng ngày trong rừng thấy con chó nầy cứ chạy lông rông trong rừng cả mấy năm nay rồi; chắc ai dời nhà không đưa nó theo. Tụi em tính thịt nó từ lâu rồi mà không được. Nó cứ thoáng ẩn thoáng hiện; không biết sao đêm qua lại lại dẫn xác đến rẫy nhà anh như vậy. (Tôi với em tôi làm chung một rẫy).

Thằng Năm phụ họa:

– Ðúng như vậy đó anh Tư… Thôi, chó nào cũng là chó! Mà anh Tư nè… đang kẹt không biết kiếm đâu ra trái dừa khô để hầm chó. Không biết dừa bên má có buồng nào già chưa, anh về chỉa cho tui ít trái.

– Hôm qua má nhờ thằng Hào chọc xuống bán sỉ cho bà Tám ngoài chợ hết rồi…  mà thằng Hào con Huệ đâu cả rồi?

– Thằng Hào dọt ra đâu đầu xóm, còn con nhỏ Huệ còn ngồi khóc đằng hồi nhà. Ai đời nó với thằng Hào cứ giành nhau cái chuông con chó, la lối um xùm. Xùng máu, tui xáng cho một đứa một cái bạt tai. Cái thằng mất dạy nó lì đòn, còn con nhỏ cứ khóc rấm rứt hoài… Mẹ, ở đây chó nhà quê mà ai đó còn treo cái thứ chuông lục lạc như chó Tây không bằng! Nhưng phải công nhận cái chuông thiệt đẹp, bóng lộn như vàng.

– Giờ ở đâu rồi?

– Nóng gà, tui dụt mẹ xuống ao cho khỏi cãi nhau… Mà anh Tư à, kẹt quá, không có dừa khô thì khó mà hầm thịt chó cho ngon được!

– Sao không đạp xe ra ngoài chợ chồm hổm mà mua?

– Chợ búa xa xôi quá, mà chắc gì đã có!

– Thôi, để tui lên cha xứ xin cho các ông một trái. Hôm qua tui còn thấy cây dừa bung bên giếng của ổng có mấy buồng già rồi.

– Không dễ đâu, ổng kiết lắm.

– Mầy đừng có nói vậy. Các cha phải giữ thế chớ! Cha là cha trăm họ; cho người này mất người nọ.

– Ừ, thì cũng được đi. Nhưng anh là cái gì mà anh cho là cụ sẽ chơi đẹp với anh?

– Mầy không nhớ anh mầy là trưởng ca đoàn sao!?

Trời đứng bóng. Khi vừa đến trước nhà thờ cổng nhà thờ, tôi thấy ông cha xứ đang giật chuông trưa truyền tin, thấy cả bóng dáng một thiếu nữ quần áo trắng thấp thoáng giữa những bụi hoa trúc đào cao tới vai cạnh tháp chuông. Tôi không thấy rõ mặt người con gái, vì mái tóc thề lơ là che kín một nữa khuôn mặt; và dường như cô nàng đang lắng nghe chuông. Tôi để ý thấy trên mái tóc bên trái có cài một cánh hoa bằng lăng và dưới chân đeo một đôi giày cao gót màu trắng, kiểu giày cao cấp vẫn thấy bán trong các cửa hàng quốc doanh số một ở Mạc Tư Khoa vào những thập niên sáu mươi, bảy mươi. Giật chuông xong, ông cha hối hả đi vào nhà xứ, hay nói đúng hơn, hối hả đi thẳng vào nhà bếp. Tôi đang  bận thu xếp câu cú trong đầu sao cho khéo, để thỉnh bằng được một trái dừa nạo của cụ cho mấy thằng đàn em nễ chơi. Khi ngước lên, tôi không còn thấy cô gái đâu.

Khi vào tới cửa bếp nhà xứ, tôi thấy cụ đã ngồi thoải mái giữa chiếc bàn rộng mênh mông đầy ắp thức ăn: cá, thịt, trái trăng, đủ màu đủ cở. Và còn có cả chai rượu lễ đỏ như máu, hiệu Cờ đỏ, sản xuất tại Liên Xô – vì tôi thấy có cái tên Cộng Hoà Liên Bang Xô Viết, viết tắt bằng mẫu tự Nga, CCCP, to chần dần trên nhãn, mà bọn trẻ trong làng, không biết ai bày, từ lâu đọc là Coi Chừng Chúa Phạt.

Tôi chào, cụ  im. Tôi bèn tự động kéo ghế ngồi, cụ hơi khó chịu, nhưng cụ vẫn tiếp tục ăn và không chào hoặc hỏi tôi một câu dù chỉ cho có lệ. Tôi thấy giấc mơ trái dừa khô bị bóp nát tàn nhẫn. Và khi đang loay hoay giữa phẫn nộ và khinh bĩ, tôi thấy người đẹp áo trắng lúc nãy đi vào và đứng ngay trước bàn ăn, nhìn thẳng vào cụ. Tôi nửa ngờ ngợ nửa khoái trá nhìn cô gái mặt hoa da phấn.  Ông cha xứ vừa xăm xói ăn vừa hỏi, câu hỏi lửng lơ không chủ từ mà những kẻ bề trên hay dùng:

– Ðến đây có việc gì?

Cô nàng đáp ngay, dù chưa chắc ông cha xứ đã hỏi cô, giọng thỏ thẻ, (tôi bắt buộc dùng cái chữ rất đỗi cải lương này, nhưng chỉ có động từ này mới diễn tả được đúng cái giọng của cô gái lúc đó):

– Con đến để tìm tiếng chuông của con. Tiếng chuông con lưu lạc chưa về. E chừng mất hẳn rồi, cha ơi!

Tôi nghe chuông rừng vọng ngược về. Tôi nghe pha lê rạn vỡ.

Và cô vẫn đứng đó nhìn vị linh mục đăm đăm như đang cố tìm nơi ông tiếng chuông của cô; và bỗng nhiên, ánh mắt cô tối sầm lại.

Ông cha xứ hoặc không nghe cô ta trả lời hoặc không thèm để ý đến cô ta, như thể cô gái không hề đứng trước mặt ông, bởi ông chỉ nhướng mắt nhìn tôi, và rõ ràng là ông đang giận tôi vì tôi đã không trả lời ông. Thực ra không phải như thế, chẳng qua tôi đã không nhanh miệng hơn cô gái.

– Dạ con đến để nói chuyện với cha cho vui – Bây giờ tôi mới trả lời được.

Rõ ràng câu trả lời của tôi chỉ cho đỡ ngượng, bởi phương án xin dừa hầm thịt chó đã cháy tiêu ngay từ phút đầu gặp gở. Sượng trân, tôi nhìn bâng quơ ra ngoài cửa sổ một lúc; khi quay lại, cô gái đã đi từ hồi nào – và hình như không thèm chào ông cụ – và tôi chỉ thấy một bà già áo quần vá chằng vá đụp, đầu quấn khăn xứ Nghệ, một bà Bắc bộ chính hiệu, đứng ngay chổ cô gái đứng lúc nãy. Bà ta khúm núm, hốt hoảng:

– Thưa cha, mấy thằng chăn trâu mới phát hiện con mẹ Ngọc treo cổ tự vận ngoài suối Rạn đâu hồi hôm.

Ông cha vẫn cắm cúi ăn:

– Ngọc nào?… Mà sao lại biết là đêm qua?

– Con-Ngọc-đĩ-Liên-xô đó cha! Biết là đêm qua là vì nếu ả treo cổ giữa ban ngày mấy anh thợ cưa, mấy đứa chăn trâu phát hiện ra ngay. Cái đồ đĩ đó có chết cũng…

Ông cha xứ bây giờ mới ngước mặt lên:

– Bậy nào, sao gọi người ta là đồ đĩ, rồi còn gọi là đĩ Liên Xô là làm sao!?

– Thì con ni, hồi còn ở ngoài nớ, giỏi giang răng đó lại được đi học Liên Xô. Học đâu được mấy năm mà lại cứ lân la tằng tịu với mấy ông cha râu xồm ở bên nớ.  Trình cha, không biết tại răng mà người ta gọi mấy ông cha Liên Xô như rứa?

– Ừ, tại vì các linh mục theo giáo phái Chính thống có tập tục để râu dài như thế.

– Chớ không phải các ông ấy sinh đàng tội lội mà người ta kêu như rứa?

– Khồồồng… Làm gì có chuyện đó! – Ông linh mục gạt ngang, rồi hăm hở hỏi tiếp, trái cổ đưa lên đưa xuống – Rồi sao nữa?

– Thì bị nhà nước kéo cổ về nước chơ sao nựa cha! Ðã vậy còn lăng nhăng mô ngoài Hà nội mấy năm; lại lân la đến các nhà thờ. Có bựa đi tham quan mô đó nhà thờ chính toà, ả lại chài mồi được thầy giảng Chung8. Cha có biết không: Chẳng ai kéo chuông hay bằng thầy nớ. Thiệt uổng công tu trì mấy chục năm gian khổ cha nợ!

– Rồi sao nữa bà? Rồi sao!?

– Thì thầy xấu hổ quá, phải xin đi bộ đội vào Nam. Có kẻ nói thầy chết mất xác nghe đâu trong một trận đánh lớn ở cái tỉnh Thuận Hải nầy; có kẻ lại nói thầy hàng địch rồi xin đi tu làm cha đâu ở trong Nam.

– Rồi sao nữa!? Rồi sao nữa!?

– Nghe thằng cháu của con học đại học ở Hà nội nói là người ta còn đồn ả cứ quần là áo lượt vô ra toà đại sứ Liên Xô, còn đi múa đôi, ăn uống với mấy ông nớ.

– Sao người ta biết hay vậy?

– Thì có anh người cũng ở quê với chúng con, làm to đâu trong bộ, trong phủ chi đó ngoài nớ, phải lòng ả, mê ả, răng đó không được, thất tình, uống rượu, nói lung tung phèng.

– Có gì nữa không, kể cho cha nghe!

– Chúng con vô Nam đầu tắt mặt tối bới đất lặt cỏ mới kiếm được đôi miếng bỏ miệng, còn ả cứ ăn trắng mặc trơn đi lòng dòng trong rú.

– Vô rú mần cấy chi rứa? – Lần này không biết tại sao ông cha lại trọ trẹ giọng Nghệ, quên béng cái giọng Hà Nội mà ông cố uốn lưỡi bao năm để, khi đứng trên toà giảng, giảng cho oai, cho ra cái vẻ mình là dân Thăng Long ngàn năm văn vật.

– Thì nằm với mấy thằng thợ cưa trong rú chơ mần chi nữa cha nợ. Chơ của mô mà ăn trắng mặc trơn đi cà nhỏng cả mấy năm ni… Nhưng mà trình cha, dừ ả treo cổ chết như rứa, họ9 chúng con không biết làm phải mần răng đây?

– Mà ông trùm chồng mụ đi đâu mà mụ lại vô đây?

– Nhà con đi xẻ ván trong rừng từ hôm qua; không biết chết rấp xó nào góc nào mà trưa vẫn chưa thấy về.

Khuôn mặt ông cha hăm hở lúc nãy bây giờ ra dáng lập nghiêm:

– Hay là đêm hôm lại đi la cà… Thiệt là bê bối!

– Dà…

– Mà nì, không thấy chị ta đi nhà thờ nhà thánh chi cả, chắc là phường vô đạo?

– Có mô cha! Cha mẹ của ả đạo dòng mà! Gia đình ả ngoài nớ ở cách nhà chúng con có ba bốn căn chơ mấy!

– Dù có đạo đi nữa mà tự tử thì không được chôn trong đất thánh. Chôn đâu cũng được, không được chôn đất thánh.

– Thôi rứa cũng được chơ hơi mô mà mất công khiêng cả bốn năm cây số đường rừng những kẻ…

– …những kẻ cướp quyền ban phát sự sống của Chúa. Tôi sống không còn phải là tôi sống nhưng là… Chắc mụ còn nhớ?

– Dạ nhớ. Cám ơn cha… Con sẽ về báo cho họ đạo của con biết lời dạy của cha.

Rồi bà trùm già cắp nón le te đi ra.

Một luồng gió bấc thổi mạnh làm vô số những cánh hoa dầu lông bay ào ào xuống phía trước đài Ðức Mẹ.

Tôi vọt ngay khỏi nhà xứ quên cả chào ông cha xứ; chạy ngay ra phía suối Rạn. Tới nơi, tôi thấy có độ chục người đang còn đứng đó chỉ chỉ chỏ chỏ cây bằng lăng độ lượng hoa tím mát tinh khôi. Dây treo cổ vẫn còn đong đưa trước gió như xác rắn hồng hoang mới lột, nhưng xác của người đàn bà tên Ngọc ấy tôi không biết nguời ta đã hạ xuống hồi nào và đưa đi đâu. Có anh đàn ông đưa hàm răng hô ra vừa cười vừa chỉ về phía bìa rừng không xa cội bằng lăng là bao nói, dù tôi không hỏi:

– Chòi ả đằng nớ, chòi ả đằng nớ tề.

Tôi thấy phía đằng đó có một mái tranh, thật nhỏ nhưng khá xinh xắn nằm cạnh con suối cạn, gần chỗ tôi đi kiếm trâu chiều qua. Tôi chạy nhanh đến chòi. Chòi với liếp cửa lác đan theo hoa văn của các sắc tộc người Á sống trong rừng taiga Tây Bá Lợi mà tôi có dịp xem trong các tờ báo ảnh Liên Xô. Và không có ai quanh chòi; vì sợ hồn ma người đàn bà chăng? Tôi giật liếp xông vào, thấy chỗ, mà những nhà khác người ta phải dành để treo hình chúa Hồ, là hình một cái chuông lớn vàng rực ánh sáng với hàng chữ mà tôi đoán là câu thơ La tinh vì nó bắt đầu với chữ luna. Phía bên phải gian chính là chái bếp. Và bên trái còn có một căn phòng bé, thật bé, có lẽ là phòng riêng của chị ta, có khoá; tôi giật tung ổ khoá nhìn vào, thấy bên trong có một chiếc giường… nệm với khăn trải giường và  hai chiếc gối, cả hai thứ đều trắng muốt phẳng phiu – những hình ảnh ước lệ mà các nhà-văn-có-lý-lịch-nằm-ổ-rơm thường dùng trong những phân cảnh mô tả những trò hủ hoá của các giai cấp bóc lột; và mùi hương ngọt ngào vẫn còn lẩn khuất trong phòng. Trên đầu giường tôi thấy một bức tranh màu nước, không lộng kiếng, vẽ một vùng cỏ xanh rối rắm, tựa cỏ tranh, bên trên là một hàng chữ Nga viết bay bướm, mới trông thì giống như những đám mây nhỏ, nhưng nhìn kỹ thì giống như mái tóc con gái – không hiểu sao tôi cứ đinh ninh đó phải là tóc con gái chứ không phải là tóc đàn bà – đang chờn vờn trên muôn nhánh cỏ. Hàng chữ viết tháu bằng mẫu tự Nga ấy là hai câu thơ Việt: Tiếng chuông của tôi nay đâu Chìm đâu khe suối hay mầu cỏ cây.  Tôi còn tìm thấy dưới gối một cuốn sổ mà tôi cầm chắc là cuốn nhật ký; và có cả chiếc roi đánh trâu của tôi cuộn quanh cuốn sổ, như một con rắn hổ mang đang bảo vệ Kinh Thiêng trong các bức phù điêu Ấn độ. Tôi thử giở vài trang, có trang viết bằng mẫu tự tiếng Nga, cố đọc vài dòng nhưng chẳng hiểu gì, có trang lại là thứ văn tự tượng hình kiểu như cổ tự Ai cập đầy biểu tượng chim, người, hoa lá, mãnh thú, nông cụ.

Bỗng, tôi nghe có tiếng trống cà rùng và tiếng hét, của nhiều người lắm thì phải: “Ðả đảo con đĩ Liên Xô! Ðả đảo con đĩ Liên Xô” và hình như họ đang tiến lại phía chòi. Tôi nhét cuốn sổ vào bụng, chạy tọt ra ngoài và thấy ngay một đoàn mấy thằng chăn trâu vừa đang hô hoán vừa hằm hè cầm mồi lửa chạy xốc tới. Thế nào mà chúng nó chẳng thấy tôi đang từ trong chòi “con đĩ Liên Xô” chạy ra!

Và bọn nó đốt chòi. Lửa cháy đượm phải biết! Gặp gió mà lại!

Ðột nhiên có thằng hô to:

– Ðập chết cha cái thằng dê xồm!

“Ủa chẳng lẽ là tôi?” – Tôi ngạc nhiên tự hỏi.

Không cần biết, tôi chạy thí mạng về hướng mặt trời. Chạy một đỗi, lạ quá, không thấy ai đuổi theo. Mừng rơn. Chắc lũ trẻ đang bận xem lửa cháy. Tôi còn nghe mấy thằng nhãi vừa vỗ tay vừa hát cả bài Kết đoàn kiểu mới Rừng núi giang tay nối lại biển xa11… sau lưng.

Khi hoàn hồn tôi thấy mình đang đứng trước bãi biển, thở dốc. Coi vậy chứ  bọn chăn trâu đâu có tha đâu tôi đâu mà đã vội mừng, vì loáng thoáng phía rừng tràm dọc bãi biển, tôi thấy chúng đang lội bì bọp như đàn trâu điên, tay đao tay mác, rõ ràng là đang rượt theo tôi, và lần này chúng hô một khẩu hiệu khác: “Ðả đảo cái thằng liếm lồn! Ðả đảo cái thằng liếm lồn!” Quýnh quáng, tôi ném luôn cuốn sổ ra biển, nhưng cuốn sổ cứ dật dờ bên mép sóng; những lượn sóng dữ bổ ập vào vẫn không nhận chìm được cuốn sổ; và sổ vẫn đóng kín. Khiếp quá vì sợ mấy tay đánh trâu chộp được, tôi nhảy vội lên cuốn sổ, dí nó xuống nước, nhưng bỗng nhiên tôi cảm thấy người nhẹ tênh tênh: Cuốn sổ mở toang lòng đưa tôi lướt phăng phăng trên điệp trùng sóng dữ, nhanh đến nỗi chưa hét xong “Giêsu Maria, lậy Chúa tôi!12“, tôi đã đặt chân khô ráo lên bờ biển đảo Bidong, Mã Lai.

Ở trên đảo ấy cũng có một nhà nguyện nhỏ cho những thuyền nhân tị nạn Công giáo, và một cái chuông ai đó gắn lẳng lơ trên cây bằng lăng tím ngát màu quê. Và, mỗi lần nghe chuông truyền tin trưa chiều, nhất là chuông chiều, thay vì đọc kinh, tôi lại bắt đầu chửi, chửi tôi đã không theo cô gái pha lê về nhà cha cô hoàng hôn hôm đó.

Sau này, khi đã được định cư, tôi mò mẫm học lại tiếng Nga (cố ý để đọc cuốn sổ tôi lấy trong nhà người đàn bà tự vẫn tên Ngọc, mà sau hơn hai mươi năm, qua bao sóng to gió cả, chữ vẫn còn rõ nét. ). Nhưng, khi học được tiếng Nga ở mức có thể đọc được các tác phẩm cổ điển văn chương Nga-la-tư, thử giở lại cuốn sổ để đọc, tôi lại đụng phải cái văn phong phù thuỷ từa tựa như văn phong trong những sưu tập sấm ngôn của các nước Bắc Âu nơi  tôi đang cư ngụ. Ấy là chỉ nói tới phần tiếng Nga; còn phần chữ  chim-cò, đành chịu thua.

Vào dịp sang viếng Rôma, Năm Thánh 2000, tôi mang theo cuốn sổ có ý để nhờ giám mục Nguyễn Văn Thuận, một vị chủ chăn vốn thông kim bác cổ, mà báo chí người Việt hải ngoại đã thuật lại là thời gian ở tù ngài còn cố gắng học đến thông thạo tiếng Nga, và còn soạn được cả từ điển Nga – Việt, để ngài đọc và giải nghĩa dùm.

Nhưng nghĩ ngợi loanh quanh, tôi lại thôi.

 

  Oslo, 6.8.00 – 3.11.02

 

(1) Angelus… (tiếng La tinh): Thiên thần của Chúa truyền tin cho  Maria. / Và bà đã chịu thai bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần… Và Ngôi Lời đã trở thành xác thịt./ Và ở giữa chúng ta. (Trích từ kinh Truyền tin, nói về chuyện sứ thần của Ðức Chúa Trời truyền tin cho Ðức Bà Maria về việc bà sẽ chịu thai Ðấng Cứu Thế Giêsu, theo Kinh Thánh Tân Ước. Người Tây họ gọi kinh này là kinh Angelus, vì chữ Angelus là chữ đầu của kinh, bản La tinh. Tôi, kẻ viết truyện này, khi cô gái đọc kinh này bằng tiếng La tinh thời nhớ lại ngay, vì phải học thuộc lòng kinh đó từ lớp 6, và bây giờ vẫn còn nhớ để chép ra đây. Còn câu thơ kỳ bí ở khúc sau thì chịu, không nhớ được.)

(2) Nga-la-tư: Tiếng dùng để phân biệt với nước Nga-xô-viết sau này.

(3) Pốp (tiếng Nga): dùng để xưng hô các linh mục Chính thống Nga.

(4) Luna (tiếng La tinh ) : trăng

(5) Virgil: Thi sĩ La tinh cổ đại; chính ra tên La tinh là Publius Virgilius Maro (70  –  19  tr. CN)  , sở trường về thơ đồng nội. Thơ của ông có ảnh hưởng nhiều nền thi ca Tây phương qua các thế hệ.

(6) Anastasia: Công chúa út của Nga hoàng Nicolas II, bị hạ sát cùng với cả gia đình, do chính lệnh của Lênin.

(7) Elohim (tiếng Do thái) : Chúa; ngoài ra Ðức Chúa Trời, trong Cựu ước, còn tự xưng ngài là Gia vê. Trong các bài kinh của đạo Chính thống Nga, người ta hay kêu thánh danh này.

(8) Chung: Âm Hán Việt có nghĩa là 1. chuông, 2. hết.

(9) Họ: Một xứ đạo chia ra nhiều họ đạo.

(10) Quasimodo (nam), Esmeralda (nữ): Hai nhân vật chính trong tác phẩm Thằng Gù Nhà Thờ Ðức Bà Ba Lê của nhà văn Victor Hugo.

(11) Lời của bài Nối Vòng ta Lớn của Trịnh Công Sơn.

(12) Giêsu Maria lậy… : Câu tán thán người Công giáo hay dùng.

 

 

 

NTNV 8 –

Nguyễn Văn Thà

 

https://giacngo.vn/UserImages/2012/01/07/5/imageview_aspx_thumbnailid_540694.jpg

Dưới huy hiệu của các giám mục luôn luôn có câu châm ngôn tiếng La tinh để tỏ ra cái chí của mình, thường là một câu rút ra từ Kinh Thánh, ví dụ, Omnia in omnibus – Tất cả nơi mọi người, (kiểu như: Ðâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên) ; hoặc Deus caritas est – Thiên Chúa là tình yêu. Nhưng khi linh mục Harry được thông báo sẽ được phong làm giám mục kiêm tổng giám mục địa phận N, thì ông lại chọn câu Bu bu woa, đọc nghe như tiếng chủm choẹ. Vị Giáo hoàng đương kim B, vốn là bạn chí thân của linh mục Harry, hồi hai vị còn học ở thần học viện thánh Grêgôriô Cả, Rôma. Khi duyệt qua lý lịch của cha Harry, ngài OK, nhưng khi đọc tới câu châm ngôn Bu bu woa, thì ngài chẳng hiểu gì dù ngài được kể là vị Giáo hoàng thông thái; ngài thông thạo đến cả tiếng Ả rập và các phương ngữ liên hệ, huống hồ tiếng La tinh. Ngài bèn điện thoại hỏi:

– Này, anh Harry.

– Tâu đức thánh cha1, ngài có chuyện gì muốn dạy con?

– Tâu với lại trình! Chứ cái câu châm ngôn của anh gì mà lạ hoắc, tôi chẳng hiểu chút nào cả.

– Thưa đức cha thánh cha, con vẫn nhớ hồi còn học ở thần học viện Grêgôriô Cả, đề tài mà đức cha thánh cha và con vẫn hay thích tranh luận là dominium divinum2. Câu châm ngôn Bu bu woa tự nó là một phần của cảnh vực linh thiêng  của con.

– Anh cũng dư biết là khi chúng ta ở trong cương vị của một giáo sĩ, thì  mình không còn là mình nữa; mình là người của công chúng đạo cũng như đời; nhất là khi anh lại sắp làm giám mục, kiêm tổng giám mục một địa phận lớn như địa phận N !

– Sorry, con không thể làm khác đi được!

Giáo hoàng B mỉm cười, nghĩ thầm: “Cái anh cao bồi này vẫn chứng nào tật nấy!”

 

Cụ Robert nguyên là một người hay chữ bởi cụ trước có đi tu, nhưng vì trong thời gian giúp xứ người Créole3, Cajun ở tiểu bang Louisiana, cụ phải lòng một phu nhân quý phái ở đó. Tương truyền bà này có vẻ đẹp dã dượi giống như nàng Josephine, tình nhân của vua Napoléon đệ nhất, làm thầy giảng Robert chết trân. Khi nhập cuộc rồi thì ra phu nhân ấy chẳng mệt chút nào mà lại dai chẳng thua gì mây trui lửa. Dai và rối rắm.

Ôi, cái xứ Créole ấy, tuy là đất mới nhưng những ông tây bà đầm vẫn mang theo đủ mọi thứ từ mẫu quốc Phú Lang Sa sang, từ chiếc quạt lông đà điểu e ấp che những khuôn mặt ngọc cho tới những chiếc áo đầm xoè thắt lưng ong; nhũ hoa dâng hương, trắng trẻo, mịn màng, phô ra khỏi làn lụa Tô châu áng chừng hơn nửa. Ngoài ra, các ông bà ấy cũng không quên mang theo cái quan niệm gọi là danh thơm tiếng tốt mà theo họ đã làm nên cái nét văn minh đặc thù Ðại Pháp; chứ không giống như cái đám lạc chợ trôi sông Tô Cách Lan, Ái Nhĩ Lan, ấy là chưa nói tới cái giống mọi da đen.

Thầy Robert lạng quạng sao đó làm cho phu nhân Michèle, vợ yêu của một đại điền chủ trong vùng có bầu. Trong lúc bối rối một phần vì cái gọi là danh thơm tiếng tốt, một phần vì sợ phải ăn kẹo đồng, thầy Robert, nhờ sự giới thiệu của một thủy thủ lúc trước là trò giúp lễ, nhảy xuống chiếc tàu buôn nô lệ sắp sửa nhổ neo đi Phi châu.

Và thầy vượt biên, và thầy trở thành thầy ký cho tàu. Thầy là người trí thức số một trong đám thuỷ thủ, vì  không những thầy biết đọc Kinh Thánh, bản King James, cho các thủy thủ nghe trong những khi gặp nguy biến trên biển cả, mà cả những lúc bình yên gió lặng, thầy nằm phơi trên boong tàu đọc Kinh Thánh, bản Vulgata4của thánh Hiêrônimô dịch ra tiếng La tinh, cho đã. Những lúc như thế thầy cứ hít hà, như bợm rượu nhà nghèo lâu ngày uống được rượu ngon, vì lối dịch tài tình của thánh nhân và nhất là vì cái cơ cấu sít sao, chặt chẽ đến cùng cực trong cấu trúc của tiếng La tinh: Thầy là con người thích và có khiếu về ngôn ngữ.

Nghe nói trong thời gian giúp xứ người Créole vùng Lafayette, thầy đã bắt đầu ghi ghi chép chép ngôn ngữ của giống người da đỏ Pueblo trong vùng. (Thầy không bao giờ dùng từ ngữ mọi ) . Nhưng bút của thầy quờ quạng sao đó chấm nhằm bình mực tím duyên tình với nàng Michèle nên mới phải trôi nổi đến tận Phi châu, cái xứ có đến ngàn thứ tiếng mọi.

 

Bà Michèle, sau bao lần uống thuốc xổ mà thằng nhỏ vẫn thủ thành không chịu ra, đành hạ sanh một con trai. Cái đầu mới nhô ra là biết ngay thằng nhỏ giống thầy giảng Robert, vì tóc nó cũng đen như người yêu sở khanh của bà. Cái chuyện vợ ông chửa hoang làm ông Duval (quý danh của ông chủ điền ngoan đạo) ngước mặt lên không nổi, nhất là khi ông đường đường là chủ tịch hội đồng giáo xứ. Ðã thế, những cái miệng dài như miệng sếu Louisiana của mấy mụ mệnh phụ phu nhân làm ông bực bội khôn xiết. Bà trốn lên vùng Ðông Hoa Kỳ làm lại cuộc đời mới. Và hạ sanh một kiếp người mới.

Mới thế nào, cụ Duval cũng chẳng thể biết rõ, nhưng khoảng ba năm sau, có một bà vú da đen, vú to, mông bự lúc la lúc lắc chẳng khác gì mông tê giác, dẫn đến cho ông một thằng nhỏ mặt mũi, tóc tai giống y cái thằng thầy giảng khốn nạn Robert. Mụ nói là bà Michèle muốn nhờ ông nuôi giùm cậu bé vì nơi bà chủ đang làm business, ở N, cậu sống không tiện; và mụ còn đưa tấm hình bà Michèle ngày xưa chụp với ông trong hôn lễ làm bằng. Tấm hình làm ông muốn khóc, bởi dẫu sao đi nữa, ông vốn là con nhà nông bao đời tính tình hiền hậu. Nhà nông là con người ngày ngày chứng kiến không biết bao nhiêu chuyện giao tình của muôn loài: bò, gà, heo, chó… và cả những trái trăng trong vườn ngoài nội: Sinh linh không phải tự dưng mà có. Ông trân quý mọi kết quả sinh sôi. Huống hồ của con người. Sốc thì có sốc đấy, nhưng bây giờ thì thôi, ông mỉm cười đón nhận. Và ông còn mỉm cười sung sướng, không giống ai, khi ông thấy nơi thằng nhỏ một phần hình hài của người mình má ấp môi kề. “Coi kìa, đôi mắt đen láy như những đêm sao Provence, cố hương của Michèle, và cặp lông mày nguyệt quế, lắt lay như đuôi chồn hương, thì là của nàng chứ còn ai! Thôi, thì cũng qua đời nhau một lần.”  Vả lại, ông còn từng được nghe kể là cụ tổ của ông, một nhà thông thái về Bretagne ở ẩn thời Cách Mạng Pháp, nói là những tiếng như “con hoang”, “cái thứ lộn giòng” không có trong ngôn ngữ Pháp, thời dân Pháp còn là rợ Gaulois chưa chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn minh Rôma.

Thằng nhỏ, không hiểu tại sao, được ông bố dượng đặt cho cái tên Spillman. Cậu Spillman càng lớn càng bảnh, nhưng khi đến tuổi mười hai, thay vì gởi thằng nhỏ vào trường dòng để “không tu được thì cũng kiếm ba chữ”, thì papa Duval lại gởi chú nhỏ vào trường thiếu sinh quân để cho nó cứng cát con người ra, kẻo như bố nó chữ nghĩa thánh hiền bề bề mà chẳng ra cái thể thống gì cả.

Spillman mỗi ngày phải thức khuya dậy sớm vừa học chữ vừa học quân sự theo trường phái quân sự của tướng Bismack: Người sĩ quan phải văn võ toàn tài. Chẳng bao lâu cậu trở thành sinh viên sĩ quan trường đại học quân sự W lừng lẫy. Không ai bắn súng nhanh, đánh kiếm giỏi và có sức chịu đựng dẻo dai, binh thư kim cổ làu thông như Spillman. Anh làm người ta nhớ tới tướng Brian Boru, người bẻ gãy xiềng xích đám Viking từng thống trị gần hai thế kỷ cố quốc Ái Nhĩ Lan của anh (đúng ra là của bố Robert.)

Ðường đường là một sinh viên sĩ quan ưu tú, sừng sững oai phong như cây trắc bá trên ngọn Driskill Hill thì chẳng thiếu gì các tiểu thư lá ngọc cành vàng để ý. Mấy cái anh sinh viên sĩ quan cà mèng chỉ cần búng tay một cái mà đã có khối cô chạy theo, huống hồ là chàng. Ấy vậy mà chẳng có tiểu thư nào lọt được vào đôi mắt đêm sao của chàng. Tươi mát ngọt ngào, nây nẩy diệm sơn, mền mệt chết người, mọi dáng dấp, giả có thiệt có, trẻ đếm không xuể, hồi xuân lại càng không thiếu, vậy mà chẳng nường nào công phá được đồn lũy tâm tư của Spillman, và cũng không làm cho chàng nở được một nụ cười mất nết thứ thiệt mở đầu cho muôn vàn ái ân cũng như những huỷ diệt đã gài đâu từ vô thuỷ vô chung. Hay là nói như cái dân An nam: Anh chưa gặp được ý trung nhân. Phải chăng cái mối tơ-hồng-Vi-Cố mấy anh Chệt-đuôi-sam mang từ bên Tàu qua Huê Kỳ đã cột anh sĩ quan Spillman với con nhỏ ăn mày nào đó, tuy rằng tới lúc đó chưa thấy cơ sự gì xảy ra? Cũng dám có thiệt lắm chớ, vì những lần nghỉ cuối tuần, chẳng phất phơ với các cành ngọc lá vàng nào đã đành, mà cũng chẳng thấy chàng sĩ quan trẻ tuổi Spillman la cà vào các saloon5 dập dìu ong bướm như các bạn cùng khoá. Người ta chỉ thỉnh thoảng thấy chàng tàn tàn đi vào các đồn điền bông vải, thuốc lá, ngồi nhìn đám dân da đen cày sâu cuốc bẫm. Ai cũng nghĩ là chàng thích cảnh điền viên. Thế thôi.

Vốn là sĩ quan tốt nghiệp ưu hạng nên chẳng bao lâu anh nắm giữ được những chức vụ quan trọng ngành binh. Anh là người có tài bố trí và thiết kế các đồn luỹ phòng thủ chống lại các cuộc tấn công của các giống mọi da đỏ phương Nam; cho nên không lạ gì trong tất cả các tiểu bang phía Nam và Trung nước Mỹ, không sĩ quan nào rành địa hình miền Nam như chàng.

Thế rồi bang Louisiana tuyên bố nghỉ chơi với mấy tay phương Bắc, và cùng với các bang lân cận, hè nhau thành lập một liên bang miền Nam, một phần vì  quý vị người Nam văn vật, (văn vật đây phải hiểu là nhảy đầm, thụt bi gia, và ăn nhậu kiểu cách, chứ văn học nghệ thuật chẳng có cái gì đáng vễnh râu cá chốt cả!) , mà cứ bị mấy cái thằng thợ xưởng máy, phu bến tàu phương Bắc, cụ thể là cái lão gốc dân cày Lincoln sai sử hoài, nên đâm ra bực. Bực lâu đâm ra điên tiết, nhất là khi lão ta về phe bọn trí thức rỡm và mấy ông mấy bà cố đạo công bố hiến chương giải phóng nô lệ, những nô lệ mà họ đầu tư một số vốn rất lớn, thì họ bùng lên chẳng khác gì  những phọt nước nóng trong công viên quốc gia Yellowstone, bị kìm hãm cả triệu năm, nay gặp cơn địa chấn, vọt lên bất kể trời đất.

Ðể gọi là đánh dấu ngày bang Louisiana đứng lên giành quyền đàn áp nô nệ, bộ chỉ huy quân sự mới được thành lập mời một đoàn người hát rong trắng lẫn đen đến giúp vui cho binh sĩ cũ có, mới có, đa số là lính mới tổng động viên. Kể ra cái anh tham mưu trưởng cũng biết ý, vì dân nhà binh chẳng mấy ai thích mấy cái điệu valse mềm èo như những sợi spaghetti  thiu. I chà, mấy cái điệu đàn tích tình tang nhịp theo mấy điệu múa khi thì lích tích, khi thì sầm sập của đám dân hát rong mới thú làm sao! Rồi tiếng cười ròn và trong như nhạc ngựa của các nàng nghe mới rộn! Và khi các ả liếc cặp mắt u uẩn lạc loài, thì lại càng làm rợn lòng các đấng nam nhi. Không có anh nào mà lại không muốn xung phong làm hiệp sĩ. Một đêm là giá chót!

Ðêm ấy, lần đầu tiên, người ta thấy trung tá Spillman chui vào chiếc xe thổ mộ lộng lẫy, huyền hoặc, thơm hương trầm muscat. Người ta còn sửng sốt hơn ngày xưa khi biết bố của anh, ông thầy giảng râu xanh Robert, làm mệnh phụ Michèle Duval có bầu. Không phải chỉ một đêm mà hai đêm, ba đêm, bốn đêm; cuối cùng sáng thứ năm, khi đoàn người hát rong nhổ trại, chẳng thấy ngài trung tá Spillman trở lại đơn vị, trong khi tiếng đại bác của quân phương Bắc đã nghe thật gần. Miền Nam đang cần anh và ngài trung tá lại bị bùa lú ngãi mê mất rồi! – Người ta kháo nhau như vậy.  Và: “Mẹ, đéo qua đường thì còn được, ai đời lại bám theo cái giống chó cái đo”ù – Một anh tân binh Mỹ lai phán. Rồi một anh mới trốn tù vì tội hiếp dâm từ Ba lê sang, chưa có nghề ngỗng chi đăng lính bậy kiếm cơm chim gái, uốn éo giọng sang cả của thủ đô Ánh Sáng:”Hừm, tel père, tel fils!6”  (Tiếng xấu đồn nhanh mà lại!)

Các đấng mày râu chửi rủa như thế, không bằng chút bẻo mấy bà mấy cô, nhất là các tiểu thư, mấy mệnh phụ, tức chết đi được, chẳng khác gì ai đưa cứt ngựa lỏng trát vào mặt hoa da phấn của mình vậy.

 

Thời nội chiến Nam – Bắc ở Mỹ7, người ta thắc mắc không hiểu tại sao tướng Grant, người mà tổng thống Lincoln lúc đầu chỉ dám bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng đoàn quân tình nguyện ô hợp; và sau đó, y như rằng ông tướng cứ bị thua hoặc huề, ấy vậy mà chẳng bao lâu sau khi tướng Grant được cử thay thế tướng Halleck (ông này đánh đấm còn tệ gấp bội) chỉ huy mặt trận miền Tây Nam, thì tướng Grant đánh trận nào thắng trận đó. Quân đội miền Bắc khống chế được con sông huyết mạch Mississippi của cả miền Nam chạy qua Louisiana, với những trận đột kích bất ngờ và chính xác đoàn tàu chiến của miền Nam. Thủy chiến đã thế, bộ chiến quân Nam lại càng thua đậm: Louisiana bị Bắc quân thanh toán cái rụp, và chẳng bao lâu phòng tuyến Vicksburg bị bẻ gãy, rồi chỉ mấy ngày sau căn cứ phòng thủ quan yếu bậc nhất là Gettysburg cũng bị rơi vào tay Bắc quân.

Người ta đồn là công của tướng Grant thì ít mà công của một vị tướng tham mưu trẻ tuổi Sherman thì nhiều.

 

Ðức tổng giám mục Harry thời cai quản giáo phận N , dĩ nhiên ngài có quyền được ở trong toà tổng giám mục nguy nga tráng lệ cho cân xứng với cái thành phố to lớn, giàu có, bề thế nhất thế giới ấy, ấy vậy mà ngài, ngoài trừ những lúc cần thiết, chẳng mấy khi ở đó. Ngài thích ở trong một căn nhà nhỏ lợp ngói đá xám rêu phong xây9 năm trước cuộc nội chiến, (có cả niên hiệu bằng tiếng Pháp L’année 1836) , trong khu Da đen lụp xụp, thời trước là nơi ăn chơi dầy dẫy những saloon. Có kẻ cho là ngài có khuynh hướng theo phe xã hội, hay nói huỵch toẹt ra là thân cộng; mà ở nước Mỹ vào thập niên 50 úy kị mọi cái gì dính dáng tới bọn Ðỏ. Thân cộng là đồng nghĩa với phản quốc, là muốn đưa nước Mỹ, lúc đó nền kinh tế đang đạt đến độ cực thịnh, mà tổ tiên họ đã phải nằm gai nếm mật cả bốn thế kỷ mới tạo nên được, trở lại cái thời vất vả xa xưa. Những đứa như thế cần phải triệt, dĩ nhiên triệt theo kiểu Mỹ.

Dưới con mắt của ông trùm cảnh sát liên bang FBI, thì ngài tổng giám mục là một đối tượng có khuynh hướng nguy hiểm, mà đối tượng này lại ở trong một vị thế đáng gờm, thì cần phải tìm hiểu điều tra kỹ lưỡng, thật kỹ lưỡng trước khi ra tay.

Ngoài ra người ta thấy có một cái gì đó không ăn khớp trong lối sống của tổng giám mục Harry: Ngài tổng giám mục, tuy thường ở trong căn nhà xập xệ giữa cái xóm da đen nghèo khó, con mồi của chủ nghĩa Cộng sản, mà ngài lại vẫn đi Mercedes có tài xế bận lễ phục xanh, nón kết, găng tay trắng đàng hoàng. “Của chùa không đi cũng uổng!” – Ngài đã từng phán như thế khi mấy ký giả lắm chuyện hỏi móc về chiếc xe de luxe của ngài.

Chẳng lẽ ngài lại thích thú điền viên? Nói thế cũng không đúng, vì ngôi nhà chỗ ngài hay ở chỉ có một miếng vườn nhỏ đủ cho bà bõ già, người Da đen, mà ngài quý như mẹ, phơi phong quần áo, và trồng một liếp cà chua mỗi khi Hạ về, trong khi ngài chỉ cần khoát tay một cái, mấy tay ba trợn Ái Nhĩ Lan mà lúc nào cũng ngoan đạo, dâng ngay cho ngài một cơ ngơi còn khang trang gấp ngàn lần, ở Sugar Hill, nhìn xuống công viên thơ mộng Central Park.

Ngài giám đốc cảnh sát liên bang không hiểu tại sao một đối tượng không giống ai như thế mà trong tủ hồ sơ của FBI chẳng có lấy một dòng về hành trạng của ông ta. Chắc ngài giám đốc FBI tiền nhiệm lại cả tin vào các giáo sĩ Thiên chúa giáo, nhất là hàng giáo phẩm Công giáo. Cớm gộc Edgar Hoover thì không như thế. Phải điều tra, phải theo dõi, dù đối tượng là tổng thống Huê Kỳ đi nữa. Mà không có phương pháp theo dõi nào hiệu quả cho bằng nghe lén. Gì chứ nghe lén là nghề ruột của FBI.

 

Hồ Sơ Tối Mật I

(Các chi tiết về thời gian, quân số, đơn vị… của người thi hành)

Chúng tôi đã hoàn thành công tác 46WY.

Chúng tôi đã thanh sát nơi cư ngụ của đối tượng F. Harry; và ghi nhận là có các hiện vật sau đây đáng lưu ý:

  1. Một chiếc rương cũ, loại rương các thuỷ thủ thế kỷ 19 hay dùng, trong đó có đựng một bộ đồ quân phục sĩ quan quân đội phe miền Nam còn khá mới tuy một đôi chỗ còn lấm lem bùn; trên cầu vai có quân hàm trung tá. Và lớp dưới là một áo chẽn đỏ, một chiếc váy đen dài, gấu viền kim tuyến, loại y phục mà những người đàn bà hát rong hay mặc, cùng một tấm khăn bịt đầu hoa văn gồm những đường màu đỏ xanh và đen, dệt theo đường dệt hình thoi, trong khăn có gói một trái cầu pha lê, có lẽ là dụng cụ chiêm tinh bói toán của dân hát rong. (Hình đính kèm)
  2. Trên tường thấy có treo trang trọng một bức hình của tướng William T. Sherman, chụp chung với một người đàn bà da đen đang ôm hôn ông, có lẽ trong ngày quân Bắc tiến vào Louisiana. Cũng cần lưu ý là chỉ thấy mặt của tướng Sherman, còn bà da đen kia chúng tôi chỉ thấy lưng và mông. Lưng nhỏ và ngắn, nhưng mông bà thuộc loại lớn, loại mông đặc biệt của những đàn bà da đen làm lụng trong các đồn điền.

Trên bức tường phía trước bàn ăn, cũng là bàn viết của đối tượng Harry, chúng tôi thấy 23 (hai mươi ba)  phác thảo lớn bé, giấy đã ngả vàng, có hơi lem luốc và nhoè đôi chỗ, nhưng những nét phác thảo những cái mông của các người đàn bà da đen trong các tư thế đang cúi xuống làm việc: giặt quần áo, lựa lá thuốc lá, cho ngựa ăn, múc nước, hái bông vải… vẫn còn rõ.

Và đặc biệt có một bức tranh màu nước vẽ một người đàn bà da đen trần truồng100%, thân hình thon đẹp thường thấy nơi các vũ nữ, nằm trong bãi hoa anh túc, nhưng chỉ thấy mông là nhiều, trên mông có những vệt màu đỏ tươi, không biết đó là hoa anh túc vẽ theo kiểu ấn tượng hay là máu; dưới có đề chữ Wandering Black Eva8 và có chữ ký Adam S. . Bức này treo sát bức ảnh chụp tướng Sherman. Tất cả đều lộng kiếng, khung làm bằng loại gỗ trắc bá đỏ. (Các ảnh chụp đính kèm.)

 

Ký tên  và  đóng dấu

 

Hồ Sơ Tối Mật II

(Các chi tiết về thời gian, quân số, đơn vị… của người thi hành)

Băng 1:

– Thưa ngài Harry, sao ngài không dùng xúp đi kẻo nguội? Xúp cá chép, nguội, tanh lắm.

– Cảm ơn vú Rose9, tôi đang bận.

– Ôi, ngài lúc nào mà chẳng bận. Bận nhìn mông ra đường chứ gì!?

– Ừ, tôi thích nhìn ra đường mãi mà không chán, nhìn những người đàn bà Da đen. Vú biết không: Nước Mỹ phải đổ nhiều máu xương mới có được con người ngúng ngẩy hạnh phúc đến như thế; thiệt như đàn vịt bầu vừa mới tắm ao lên. Vú xem, bữa nay cái bà ở số 111, hôm nay lại còn chơi luôn chiếc váy hoa đỏ. Ðang mùa Ðông mà cứ ngỡ mùa Hạ tới nơi.

– Thì sinh thời bà cố10 Romana nói là ở Louisiana và các bang miền Nam, vào tháng này đi hát rong hoa anh túc nở khắp núi rừng mà lại.

– Dám mấy bà này tổ tiên ông bà là nô lệ dưới đó, có kẻ sợ quá trốn lên đây trước, nhưng đa số chạy lên đây cho chắc ăn, dù cả sau ngày có lệnh bãi bỏ chế độ nô lệ. Họ ăn mặc kiểu như có cái chi đó trong máu thôi thúc họ.

– Lại có chuyện lạ đó nữa sao?

– Này vú, vú nên nhớ là vú đang nói chuyện với tổng giám mục thành phố N và là người thông minh nhất nước Mỹ đó nghe chưa!

– Thôi, mời ngài tổng giám mục dùng xúp cá chép đi kẻo nguội.

– Rột… Rột… Chà, tiêu cay đã quá!

 

Băng 2:

– Kính chào ngài.

– Không dám. Thế… anh từ nửa trái địa cầu bên kia tới đây thăm kẻ hèn này có chuyện gì vậy?

– Dạ, ngài tổng giám mục dạy quá lời. Thực sự con chỉ là một công dân bình thường của nước Ðại Nhiệt, nhưng hiện tại con đang ở N này.

– Vậy anh làm cái gì ở thành phố này?

– Dạ, con chỉ bán sâm.

– Thế… anh đi đến đây nhằm giới thiệu sâm củ với tôi?

– Nói thiệt… con là một người Ðại Nhiệt… yêu nước.

(Có tiếng ngáp)

– Vậy anh là Cộng sản… ?

– Dạ…

– Cộng sản anh nào cũng như anh nấy, từ Ðông sang Tây, đều bô bô xưng mình là kẻ yêu nước. (Giọng hơi lớn)

– Dạ, chúng con là những kẻ yêu nước thực sự, như…

– …như bác của các anh, trước đây còn có cái tên Người Yêu Nước.

– Dạ, đúng vậy! Chủ tịch Kim Nhật, alias Người Yêu Nước, có lời hỏi thăm sức khỏe ngài tổng giám mục. Chủ tịch đánh giá cao tấm lòng hướng về giai cấp vô sản của ngài.

– Ủa, anh nói cái gì vậy? (có tiếng hắt xì) – Tôi có quen biết gì bác của anh đâu mà bác anh lại hỏi thăm; và tôi có làm gì đâu mà bác anh đánh giá cao với lại đánh giá thấp?

– Nội chuyện ngài không ở trong tư dinh tổng giám mục mà lại về sống với giai cấp lao động ở khu này là một bằng chứng hùng hồn tấm lòng mang tính vô sản của ngài, làm cho…

– Giai cấp lao động, vô sản!? Dân Da đen ở cái khu Harlem này đa số lười chảy thây. Lười thì vô sản thì cũng đáng. Họ cứ nghĩ được giải phóng khỏi ách nô lệ có nghĩa là bước vào thiên đàng cỗ bàn dọn sẵn. Nhưng dân Da đen ở đây dẫu gì cũng còn sung sướng chán, sướng gấp mấy lần cái dân trong cái xứ gọi là thiên đàng xã hội chủ nghĩa Liên Xô… Rồi cái chuyện vì sao tôi ở đây… là chuyện tôi chẳng cần nói với anh. Tại sao cái Nhà nước Cộng sản các anh cứ hay thọc mũi vào cuộc đời người khác thế nhỉ?

(Có tiếng nuốt nước bọt và tiếng phì phò.)

– Ngài nghĩ thế nào về cuộc chiến Ðại Nhiệt.

– Anh muốn gì? Muốn tôi kết án phe miền Nam Ðại Nhiệt, tuyên bố ủng hộ phe miền Bắc trước báo chí thế giới chắc! Không bao giờ!

– Tùy ngài… nhưng…  không biết cái khẩu hiệu Bu Bu Woa của ngài có nghĩa là gì đấy ạ?

– Kiểu này là Ðảng của anh giao cho anh phải hỏi cho hết, cho đúng chỉ tiêu, đúng không?

– ……

– Còn lâu… Hồi làm tuyên úy  ở mặt trận Bá Linh, tôi đã thấy cái bộ mặt thú dữ của bọn Hồng quân Cộng sản như các anh ra sao rồi.

– Ðéo mẹ, cái thứ ba đời hủ hoá phản động. (Câu này lầm bầm bằng tiếng Ðại Nhiệt.)

(Có tiếng mở cửa, tiếng chân lệt xệt đi vào)

– Ngài nói hôm nay ngài còn tính đi thăm mộ bà cố?

– Ðúng vậy, nhưng tiện thể vú đưa  cái anh này ra cửa dùm tôi. Cảm ơn anh dã đến vấn an tôi. Tôi đang bận.

– Cái giống con cháu bọn Tú Bà đĩ rạc mà cứ to họng! Rồi sẽ biết tay chúng ông! (Lầm bầm bằng tiếng Ðại Nhiệt)

– Xin chào ông. Chúc ông đi bằng an. (Tiếng bà già)

(Yên lặng khoảng hai phút.) (Tiếng của đối tượng Harry. )

– Bực hết sức! Mấy trự trong đoàn đại biểu Xô Viết ở Liên Hiệp Quốc lại nói với tôi anh ta là nhân viên cao cấp của chính phủ Bắc Ðại Nhiệt. Tôi tiếp để xem coi thử… Rõ ràng là anh ta muốn móc nối tôi. Một lời tuyên bố của tôi chỉ cần nửa nạc nửa mỡ cũng làm cho cán cân quân sự lệch hẳn về phe Cộng sản… Tuy sợ ông cớm gộc Edgar Hoover  làm bể mánh, tôi cũng cứ liều, biết đâu tôi lại có cơ hội giúp cho đôi bên ngồi vào bàn thương thuyết. Là người Mỹ, tôi biết cái cảnh nội chiến nó bi thương, phi lý đến kinh hoàng như thế nào, vậy mà gặp cái mặt anh ta là tôi lại nổi máu cao bồi ngay. Giá mà tôi mềm dẻo một chút… Chậc, mà nghĩ lại, dù mềm dẻo cách mấy đi nữa cũng chẳng đi tới đâu! Chúng sai anh ta đến cũng chỉ để muốn lợi dụng tôi thôi…

Nói cho cùng cuộc chiến tuy chỉ xảy ra ở bán đảo Ðại Nhiệt, nhưng là một thế cờ đã được Cộng sản quốc tế hoạch địch. Bác Kim Nhật của chúng nó chỉ là một kẻ thi hành; hoặc ông ấy chỉ là một thằng mù mà dám cầm dao sắc. Ông chỉ mới đọc mấy trang luận cương về vấn đề giải phóng các thuộc địa của gã xốc nổi Lênin mà đã cảm động quá chừng chừng, rồi ôm ngay cả một hệ thống triết học mà chính lão chắc cũng chẳng biết rõ hơn một thằng cu xứ Củ Sâm bao nhiêu11, bắt cả một dân tộc phải theo. Thiệt là gan cùng mình! Gan thì cũng chẳng gan gì, dân chết chứ lão có chết đâu!  Hoặc giả… cái lão nhà quê, mà bọn họ một bác hai bác đó, bị kẹt mất rồi! Dù có hối cũng không kịp. Kiểu “Phóng lao thì phải theo lao.” Gì mà kì cục vậy!? Quay lại chẳng có gì xấu hổ cả, nhất là trong những chuyện liên hệ tới vận mệnh cả một dân tộc. Ôi, cái đức khiêm nhường quan trọng quá sức tưởng tượng mà người ta nào có để ý! Biết bao nhiêu tang thương đổ nát cũng vì người ta không quan tâm bồi đắp đức tính đó. Cái lão Kim Nhật ấy, nghe nói ông ta là con của một nhà Nho, thông thạo chữ Hán, mà chẳng lẽ không biết tới cái đức cha Khiêm của Khổng Tử, cái chữ Nhu, chữ Thối Tàng của Lão Tử. Hay là ông ta chỉ biết lỏm bỏm đôi câu mà đã khoe mẽ có kỹ thuật, hoặc là lão chỉ là một “học giả gáy sách” .

Thiệt tội cho cái đất nước nhỏ bé Ðại Nhiệt! Nghe giám mục K. , hồi học ở Rôma với tôi, nói là lịch sử thành văn của nước ông chỉ có trên dưới ngàn năm, mà khi thì bị nô lệ ngoại bang khi thì nội chiến, khi thì loạn này loạn nọ, thanh bình chẳng được bao năm… Cũng thiệt thương cho tổng thống Phác Chính hôm từ bên nhà dòng Maryhill qua đây thăm tôi. Mặt ông ta lúc nào cũng cứ trầm ngâm… Khi nhìn lên mấy bức tranh, chẳng nói gì, đã thế khi nhìn lên câu châm ngôn lạ đời của tôi ông cũng chẳng hỏi han chi. Chắc ông ấy có được cái lễ nghĩa của dân tộc Ðại Nhiệt chính thống cộng thêm cái savoir-vivre12của xứ Pháp. Một sự hài hoà tuyệt đẹp.

Mấy tay tổ phương Ðông là những kẻ đáng gờm. (Yên lặng khoảng 30 giây).

Mà không biết anh em ông Phác Chính làm gì bển mà để cho mấy tu sĩ đạo Lá Bối và các bổn đạo của họ biểu tình hà rầm. Ôi, mấy vị tu hành, kể cả tôi, chuyện đạo thì hay, chuyện đời thường thì ngờ nghệch như con nít, ấy vậy thiện nam tín nữ lại thích nghe lời các vị ấy; làm như hễ tu hành là thông biết mọi sự, kể cả chuyện trần gian!

 

Băng 3:

–  Vú Rose ơi!

–  Ngài cần gì,  thưa ngài?

–  Có cái này hay lắm. Thư của tổng thống Phác Chính của nước Nam Ðại Nhiệt mới gởi sang.

– Có phải cái ông mủm mỉm dễ thương người Ðại Nhiệt hồi…

– Ừ, đúng rồi.

– Chà, nhìn cái tướng mủm mỉm hiền lành của ổng hồi ấy thì cũng đủ biết ngày xưa nhỏng nhẻo mẹ phải biết! Mà ngài đọc thư cho vú nghe với.

– Hm…chuyện riêng tư… nhưng, thôi, đọc cho vú nghe cũng chẳng sao!

Trọng kính đức cha13,

Kính mong đức cha vẫn bình an… Thật là may mắn cho con được một người cha linh hồn như đức cha để mà giải bày nỗi lòng.

Nước con đang độ rối ren quá. Vừa mới lo xong vụ Bình Giang, Hoà Hiếu, thì lại đến đạo Lá Bối.

Trong một số trường hợp, vì những xử sự thiếu khôn ngoan do chính con; hoặc từ phía chính phủ, từ chính quyền các cấp đối với một số nhóm, đối với một vài chùa chiền của giáo hội Lá Bối; và đôi khi cũng vì những cái nhìn đầy thiên kiến mang tính bè phái của chính họ; cộng với chuyện bọn Cộng sản và các thế lực bên ngoài lợi dụng cơ hội tốt giật dây; người của đạo Lá Bối đang ngấm ngầm toan tính những cuộc biểu tình lớn. Con e rằng tình hình sắp bùng nổ lớn. Dám máu lại đổ. Nhiều lúc con cứ nghĩ quẩn là mình có tội với lịch sử dân tộc mình, khi mình làm tổng thống nước Nam Ðại Nhiệt mà lại có đạo. Nhưng con nghĩ dù con là tín đồ Lá Bối đi nữa thì bọn Cộng sản và thế lực bên  ngoài vẫn tìm cách này cách khác xách động đám đông vốn còn ấu trỉ mê muội về đường chính trị chống lại chính phủ và con, những người bao giờ cũng kiên quyết không để cho con dân nước mình sa vào hố diệt vong của Cộng sản.

Và giả sử dù con có độc tài thối nát, ngả theo Kitô giáo, như các thế lực đối lập nói đi nữa, thì cũng không thể tai hại cho bằng đất nước chúng con bao gồm con dân theo đạo Lá Bối, đạo Kitô… lại bị cai trị bởi đảng Cộng sản. Chẳng lẽ các vị lãnh đạo tinh thần của đạo Lá Bối không biết đến cái  nguyên tắc “Khi phải chọn giữa hai cái xấu, thì nên chọn cái ít xấu hơn.” Hay là các vị ấy không rành chuyện chính trị mà lại đi làm việc chính trị trong một tình thế mỏng dòn như lúc này? “Ðập chuột coi chừng bể chén kiểu!” – Nước con  có câu tục ngữ như thế. Và bọn Cộng sản và các thế lực bên ngoài thế nào mà chẳng lợi dụng cái điểm tế nhị nhất nơi người Ðại Nhiệt chúng con, đó là vấn đề tôn giáo!

Lại còn thêm vụ nhà văn uy tín số một của Ðại Nhiệt đương thời tên là Lý Nhất vừa tự tử. Ông và các đồng chí của đảng ông ta bị nghi ngờ là có tham gia vào một âm mưu lật đổ một chính phủ hợp hiến, hợp pháp mà con là thủ lãnh, thì dựa trên luật pháp, ông ta phải chịu điều tra xét xử, phải trái cho rõ ràng, nếu không thì còn gì là kỷ cương của một nước, một nước còn trong thời kỳ dựng nước với muôn vàn khó khăn. Nhưng trong chính phủ đã bàn bạc với nhau: Thôi, trong hai cái xấu thì nên chọn cái ít xấu hơn, nhất là vào lúc này.

Con đã ra lệnh không bắt giam để điều tra ông ta. Ðành chịu mang tiếng là một chính phủ không có kỷ cương, và phải chịu những hậu quả của một cái tai tiếng như thế, còn hơn là để cho bọn Cộng sản lợi dụng tuyên truyền là chúng con đàn áp giới cầm bút. Và báo chí quốc tế lại hay nhạy cảm cái vụ này, (vì họ cũng cầm bút mà lại!) , và cộng vào chuyện ông ta cũng là một người theo đạo Lá Bối, thì hậu quả sẽ khôn lường, vậy mà ông ta vẫn, và  lựa vào cái thời điểm này, mà đi tự tử, và để lại một lá thư tuyệt mệnh ngắn: “Ðời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xét xử tôi cả. Sự bắt bớ và sự xử tội các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng nề sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự huỷ mình như nhà sư Quảng Ðại tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.”  Ðức cha cũng thấy đó: Lời lẽ thiệt chẳng khác gì khẩu khí của nhân vật Tom Sawyer13 trong truyện của Mark Twain!

Và đức cha cũng thấy: Chỉ cần dùng những quy tắc của luận lý học sơ đẳng ra mà phân tích, thì thấy những lời di chúc trên kia của ông Lý Nhất đầy mâu thuẫn, luẩn quẩn, nặng chữ nghĩa văn hoa, mang tính cách khoả lấp. Mâu thuẫn ở chỗ: Ðã lo mất nước vào tay Cộng sản, mà lại thực thi một hành vi chỉ mang lại thêm sự chia rẽ, chia rẽ trong một thời điểm ngặt nghèo như thế. Có Thiên thời, địa lợi để xây dựng nước, nhưng cũng có loại Thiên thời, địa lợi để hại nước. Và giòng nước lũ sắp phá vỡ đê nhận chìm mọi thứ, mà cứ lo cãi nhau chuyện chiếu trên chiếu dưới, chuyện chuông thanh chuông rè. Chắn được giòng nước lũ, rồi cãi sau, chứ đâu có muộn.

Rồi, tại sao ông Lý Nhất lại còn vin vào hành vi tự sát của Thích Quảng Ðại để thi hành một hành vi tự sát mang tính chính trị, hay nói cách khác, ông ta là một nhà chính trị mà chẳng xác định rõ được cái raison d’être14 cho chính hành vi chính trị của mình, như một người làm chính trị thứ thiệt, chưa nói là như một nhà chính trị có ý định xây dựng nền dân chủ. Qua hành vi này, ông ta chứng tỏ ông chẳng xứng đáng để làm chính trị. (Lý chứng này sẽ được bổ túc ở phần sau lá thư.)

Hay là ông vụng tính: Ông không ngờ chính phủ đã đi một nước cờ cao là không bắt ông, trong khi ông cứ tưởng ông sẽ bị bắt và ông nhân đó có cơ hội để tố cáo chính phủ mà ông không ưa đã đàn áp ông, một nhà văn tăm tiếng; chính phủ ấy chỉ đem ông ra xét xử theo những nguyên tắc của một nước dựa trên pháp trị, mà qua đó, nếu ông ta cho là ông bị xử sai, ông có quyền kháng án, hoặc nếu cần, kháng án đến cả toà án quốc tế? Trước một viễn tượng quang minh chính đại như thế, thấy không ổn, nên ông tự tử trước khi bị xét xử để gỡ gạc một chút thanh danh?

Hay là  ông tự tử vì những bế tắc, những động cơ nào khác, những động cơ nhiều lúc chẳng cao trọng gì?

Ông ấy, cũng như phe cánh của ông gồm các nhà văn nhà báo và những người có hoạt động chính trị tài tử di cư từ miền Bắc vào, họ cứ nghĩ mình là đáng trọng, đáng được sung vào các chức vụ trong chính phủ.

“I do my best.” , “I’ll try.”15 là những câu thật khiêm tốn mà người Mỹ hay nói. Giá mà ông ta vẫn cứ khiêm tốn làm cái công việc ông ta có khả năng nhất là văn học, thì lợi ích cho dân tộc chúng con biết mấy! Và cho dù ông ấy có khả năng trị nước thực sự đi nữa mà chúng con sơ sót không mời, thì tại sao ông ta không xuất xử hành tàng như bao vị nho sĩ tiền nhân của chúng con, mà lại hậm hực, rồi làm cái điều tai hại cho cả dân tộc đến như vậy. Ở nước Mỹ của đức cha, chẳng thấy vị tổng thống nào mời Mark Twain, hay Walt Whitman chẳng hạn, hay những văn sĩ hiện đại tiếng tăm lẫy lừng như Ernest Hemingway, Willam Faulkner ra làm việc trong chính phủ; và dù có mời, thì lại bị các ông ấy cười cho.

Nhưng chúng con chẳng sơ sót khi quyết định không mời ông ấy tham gia chính phủ đâu, vì ngoài lý do vừa nêu, còn có những lý do quan trọng mang tính quyết định sau đây:

Trước hết, chắc đức cha cũng đã biết rõ lịch sử hiện đại của nước Ðại Nhiệt. Ông Lý Nhất mười lăm năm trước đây đã tham gia, làm bộ trưởng ngoại giao, trong chính phủ liên hiệp kháng chiến do ông Kim Nhật, một đảng viên Cộng sản quốc tế kỳ cựu, thành lập và lãnh đạo. Một người có kiến thức chính trị trung bình cũng phải nhận ra rằng đó chẳng qua chỉ là một thế cờ ảo, một lối đánh lừa nhân dân trong nước cũng như quốc tế. Vậy mà ông Lý Nhất vẫn cứ tham gia. Có phải vì ông ta ấu trĩ trong chính trị, hay là vì lý do nào khác?

(Ở trong nước Mỹ của đức cha, nơi mà đã có một cơ chế dân chủ pháp trị rõ ràng, vững chắc, thế mà chẳng có ông tổng thống đảng Cộng hoà nào lại đi chọn một người đảng Dân chủ vào nắm chức vụ quan trọng cả, và ngược lại; huống hồ là nước Nam Ðại Nhiệt đang còn trong thời kỳ phải gọi là thời kỳ dựng nước, đầy tao loạn, với muôn ngàn áp lực trong nước, ngoài nước, làm sao chúng con có thể dùng một kẻ “chiêu hồi” nguy hiểm như ông ấy được?)

Thế rồi, lúc đó, đến một giai đoạn ông Lý Nhất thấy rằng ông Kim Nhật không còn cần ông và các chính khách khác không cùng đảng phái với đảng Cộng sản, (lúc ấy vẫn lật luờng dưới danh hiệu là đảng Lao động), ông Lý Nhất lại gởi một lá đơn từ chức, (xin đức cha đọc bản chụp của tài liệu đó bằng tiếng Ðại Nhiệt đính kèm và bản dịch) , mà lời lẽ rõ ràng là của một kẻ theo thời, và khi không còn thời để theo, thì lại chơi nước cờ trội: Trước khi rút lui, ông Lý Nhất đánh tiếng là ông rút lui vì ông ta không đồng chính kiến với ông Kim Nhật. Trong khi các vị ngự sử và cả các quan lại khác, tiền nhân chúng con, khi thấy các vị thiên tử trở thành hôn quân vô đạo, các cụ khẳng khái điều trần can gián rõ ràng điều một điều hai, dù biết rằng khi làm như thế mình sẽ có nguy cơ bị xử tử.

Nhưng ông Lý Nhất lại viết trong thư như sau:

“Tôi tự xét bất tài bất lực tự không thể đảm đương bộ ngoại giao…” 

Ðúng là một lối khẩu khí hèn nhát trước một bạo chúa, của một kẻ tham sanh uý tử. Ông ta biết mình kém khả năng, thế thì tại sao lại tham gia? Một khi đã tham gia mà thấy ông Kim Nhật và phe Cộng sản rắp tâm hại dân hại nước, tại sao ông lại không thẳng thắn vạch ra những điểm sai lầm?

Rồi còn: “Tôi đề nghị ngài chủ tịch kiêm chức bộ trưởng ngoại giao hay một người trung lập nào khác.” 

Chủ-nhân-ông Kim Nhật sắp tống cổ đứa ở Lý Nhất ra khỏi nhà mà Lý Nhất vẫn còn rán bày khôn cho chủ-nhân-ông; hay lại là một lối nói vớt vát danh dự với người đương thời và với hậu thế, mà ông cứ tưởng sẽ mãi mãi tối mắt tôn vinh ông ta?

Rồi lại: “Việc làm của tôi chỉ là một việc tư riêng, không có liên can gì đến sự liên kết của các đảng phái.” 

Vào giữa một thời kỳ sinh tử của một dân tộc mà ông vẫn viện dẫn cái tôi tư riêng của ông – như ông cũng dã viện dẫn một loại “cái tôi tư riêng” khác lớn hơn, đó là đạo pháp, khi ông bắt chước hành động tự thiêu của Thích Quảng Ðại. Ngoài ra, tính chất vuốt đuôi của hành vi tự sát như thế chứng tỏ ông không có tư cách của một người làm chính trị đúng nghĩa – để biện chính cho một hành vi có tầm ảnh hưởng đến quốc gia dân tộc. Ông ta chỉ là một kẻ ích kỷ và là một kẻ giảo hoạt, trốn chạy khỏi cái chết mà vẫn cố khoác cho mình một lớp hào quang.

Ấy là chưa nói đến chuyện khả năng và đường hướng văn chương của ông Lý Nhất và văn đoàn mà ông ta lãnh đạo đang bị những tài năng trẻ, được trang bị bằng những giòng văn chương hiện đại và những luồng tư tưởng mới, đẩy ông và văn đoàn của ông vào bóng tối; một bóng tối cần thiết cho những tiến bộ tất yếu trong tiến trình văn minh hoá con người nói chung, và văn học nói riêng.

Như con đã nói ở trên, chính phủ chúng con đã để cho ông Lý Nhất sống yên ổn, ấy vậy mà ông ta lại đi tự tử; và trước khi chết lại cố ý gởi lại lời di chúc như trên, di chúc ấy là một lời ông ta tuyên bố tự cho mình là ở trên pháp luật, mang tính chất lấn lướt và lợi dụng lòng Nhân của chính phủ, (vào một thời kỳ tao loạn chẳng dễ gì mà thực hiện chữ Nhân,) và lạm dụng lòng kính trọng của chính phủ đối với ông về mặt văn học.

Khốn nỗi người dân thường Ðại Nhiệt lại chuộng những lời khẩu khí có hơi hướm anh hùng như thế, mà không chịu suy nghĩ cho đến ngành đến ngọn; thế mới chết!

Cố vấn chính trị Phác Trung khi đọc bản báo cáo về cái chết của ông Lý Nhất đã thốt lên: “Có những chén thuốc độc của những chính nhân quân tử, nhưng cũng có những chén thuốc độc của những kẻ hết thời. Lịch sử của các triều César nhan nhản những kẻ như thế.”

– Có khát nước không để vú đi lấy nước cho uống!

– Không đâu!!! Và vú có biết không… mới tuần trước đây, có ông giáo sư dạy tiếng Ðại Nhiệt ở đại học Cor. đã nói với tôi là có tin đồn trong giới báo chí bên Ðại Nhiệt là cái ông văn sĩ  Lý Nhất này tự tử vì lý do riêng tư hơn là vì quốc gia đại sự… Không thấy tổng thống Phác Chính viết chuyện ấy trong thư. Có lẽ vì ông ta là con người nghiêm cẩn… Nhưng tại sao với một cái chết quan trọng mà đáng ngờ như thế lại không có một cuộc điều tra vô tư nào cả, không có một sự phân tích chuyên môn nào dựa trên khoa giảo nghiệm, luật học, tâm lý học, phân tâm học, bệnh học?… Thôi, để tôi đọc tiếp thư của tổng thống họ Phác cho vú nghe.

– Ừ! Mà ngài có khát nước không vậy, vì hồi nãy ân món gà nướng Cajun hơi mặn?

– Không đâu mà! …  Thưa đức cha, tại sao ông Lý Nhất và phe cánh của ông coi mạng đồng bào mình rẻ quá vậy, rẻ hơn cái danh, rẻ hơn một bực thang nào đó mà họ cần phải đạt được trong xã hội!?

Con không muốn đánh mất đi một thế hệ trẻ nữa, vì dân tộc chúng con buộc phải chống lại một lý thuyết huyễn hoặc, và tàn bạo, mà những người như ông Lý Nhất, vì lý do này hay lý do khác, vô tình hoặc cố ý, đang làm công việc rước cái lý thuyết kinh khủng đó vào thống trị đất nước chúng con.

Con kết luận là:

Khẩu khí của ông Lý Nhất trước khi tự tử và khẩu khí khi ông ta đệ đơn rút lui khỏi chính phủ liên hiệp kháng chiến của ông Kim Nhật thủa trước, đều dựa trên một căn nguyên: Ông ta trước sau là một người chỉ lo cho cái tôi của mình. Ông ấy dám đưa vận mệnh cả một dân tộc ra để đánh đổi, để kiếm cho mình một hư danh khi sống cũng như sau khi chết.

Ông ta bây giờ đã mồ yên mả đẹp, và được đám đông hời hợt xưng tụng như những anh hùng tiết tháo trong lịch sử của dân tộc chúng con như các cụ Hoằng Diêu, Nguyễn Tri Hướng, Phan Thanh Khê…, nhưng mồ mả của tổ tiên chúng con, của các chiến sĩ nằm xuống vì lý tưởng tự do có được yên không, hay sẽ bị cày xới?

Có tin vui cho đức cha:

Con đã thành lập được một nội các mà một số báo chí bên Âu Mỹ cho là một nội các có tiềm năng hoạt động nhất Ðông Nam Á. Tuy nhiên, con chẳng tin vào thẩm định của các ngài ký giả là bao. Người Ðại Nhiệt chúng con có câu: “Nhà báo nói láo ăn tiền:” (Có tiếng cười). Chúng con chỉ làm hết sức mình.

Và còn có chuyện này khá thú vị con kể cho đức cha nghe luôn là chú Phác Trung, em con, là người hay chữ còn hơn con nhiều vì chú đã từng đậu tiến sĩ ưu hạng ngành cổ ngữ La – Hy, đại học Cam. . Nhân bữa ăn món cháo cá chép Quảng Lộc giống như món xúp cá chép Mississippi đức cha đãi con năm nọ, con nhớ tới đức cha và nhớ luôn cái câu châm ngôn nơi huy hiệu giám mục của đức cha, con bèn kể cho chú ấy nghe và nhân đó hỏi chú ấy câu ấy có nghĩa gì. Chú cho biết chú có đọc được một bản thảo cổ viết tay bằng tiếng La tinh, lưu trử trong thư khố Vatican, do một người thầy ký tàu nô lệ tên là Robert ghi chú về các mẫu ngôn ngữ hệ Nilo – Sahara. Và trong bản thảo có ghi: Bu bu woa  chính là tiếng thét của những người da đen, người bộ lạc Fur (nay hầu như đã bị tuyệt chủng) thét lên khi họ bị bọn lái-nô-lệ da trắng nọc ra giữa trời nắng chang chang, cởi mông họ, và đánh họ bằng roi da dùng để thuần hoá ngựa; tiếng kêu đó có nghĩa là “Cha ơi! Mẹ ơi!” ; có đúng không, thưa đức cha?

Chú ấy nói các chữ khác chú ấy quên, nhưng chữ Bu bu woa chú ấy không thể quên được.

Ðức cha ơi, con không muốn dân tộc chúng con phải kêu “Bu bu woa!” thêm một lần nữa.!

 

Oslo, 25. 07. 0 2.

 

(1) Ðức cha giáo hoàng, Ðức cha thánh cha: Tiếng người Công giáo gọi vị lãnh đạo tối cao đạo Công giáo.

(2) Dominium divinum: Cảnh vực linh thiêng (tiếng La tinh)

(3) Créole: Người Mỹ gốc Pháp, cùng với người Cajun, giống dân Pháp bị trục xuất khỏi Canada, họ nói một thứ phương ngữ pha trộn giữa tiếng Anh và Pháp; có một lối sống khác với các sắc dân khác chung quanh. Vùng định cư: tiểu bang Louisiana của Mỹ (nguyên là lãnh địa của Pháp).

(4) Bản Vulgata: versio vulgata: bản thông dụng, bản dịch toàn bộ Kinh Thánh bởi thánh Hiêrônimô,(  nguyên tên La tinh là Hieronymus)   (345 – 420) , từ tiếng Do thái (Cựu ước) và tiếng Hi lạp (Tân ước) khoảng từ 382 – 402, ra tiếng La tinh, được giáo hội Công giáo dùng mãi tới nửa thế kỷ thứ 20, như là một văn bản thiêng liêng. Thế kỷ 14, 15 xuất hiện những bản dịch của giáo hội Thệ phản (protestant) ra các tiếng địa phương, nhưng bị giáo hội Công giáo phản đối, vì như thế là làm mất tính cách linh thiêng của tiếng La tinh. William Tyndale, năm 1535 bị xử tội chết vì dám cả gan dịch Kinh Thánh ra tiếng Anh./ Còn bản King James, là công trình dịch thuật Kinh Thánh của hội đồng các nhà học giả của Anh, năm 1611, theo chỉ thị của vua James I, được giáo hội Anh giáo chính thức công nhận. Ðây còn là một công trình văn chương kỳ vĩ, dù không phải là tín đồ đạo Ki tô cũng nên đọc.

(5) Saloon: quán rượu (và cũng có thể là nhà thổ) ngày xưa ở Mỹ.

(6) Tel père, tel fils (tiếng Pháp): Cha nào con nấy.

(7) Nội chiến Nam Bắc của Mỹ: (1861 – 1865); nguyên nhân: sự xung đột giữa cơ cấu kinh tế nông nghiệp miền Nam dựa trên sức lao động phần lớn của nô lệ da đen và cơ cấu kinh tế của miến Bắc dựa trên kỷ nghệ và thương mãi, không cần nô lệ; từ đó hai miền có hai quan niệm, hai ý thức hệ khác nhau về con người  nô lệ.

(8) Wandering Black Eva: Evà Da đen rong ruổi.

(9) Vú Rose: Xem phim, đọc sách Mỹ ta thấy các bà vú da đen được tôn trọng và yêu mến gần như mẹ ruột. Các cậu ấm, cô chiêu, nhiều khi đã làm ông lớn bà lớn vẫn thích tâm sự với vú, cả những việc quan trọng, vì các bà vú là những người biết lắng nghe, (và có lẽ chẳng biết gì nhiều để mà nói, mà cãi lại) . Cũng tương tự thế, trong một số trường hợp, giữa  các bà bõ và các linh mục coi xứ.

Ðức cha: Tiếng người Công giáo xưng hô các vị giám mục. / Cha linh hồn: Vị giáo sĩ  (linh mục, giám mục…)  mà các giáo sĩ, giáo dân Công giáo chọn để có tâm sự, cả những điều sâu kín nhất, hầu nhờ vị giáo sĩ đó an ủi, hoặc cho ý kiến.

(10) Bà cố: Người Công giáo hay xưng hô mẹ của một linh mục, giám mục… là bà cố

(11) Kiến thức kém cỏi về chủ nghĩa Cộng sản của các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam: xin xem cuốn Ðêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên. (Các lãnh tụ CS quốc tế khác cũng thế, NVT nhận xét)

(12) Savoir-vivre (tiếng Pháp): Phép xử thế

(13) Tom Sawyer: Nhân vật chính trong tác phẩm The adventures of Tom Sawyer  của Mark Twain (1835 – 1910), văn  sĩ Mỹ. Tính cách, ngôn ngữ của nhân vật Tom Sawyer từa tựa như thằng Vũ, Chương Còm trong các chuyện cùng tên của nhà văn Duyên Anh.

(14) Raison d’être: từ triết học: căn nguyên quyết định sự hiện hữu của một vật, một hành vi…

(15) “I do my best” (tiếng Anh): Tôi xin làm hết sức mình.  “I’ll try” (tiếng Anh): Tôi xin cố gắng

*** Gia phả (để dễ theo dõi truyện) : Robert sinh Spillman (Sherman) ? ;  và Spillman sinh Harry?